Tiểu luận
Máy móc và lao động
trong SX GTTD Lời giới thiệu Việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại đã
thúc đẩy lực lượng sản xuất ở những nước tư bản chủ nghĩa phát triển,
nhờ đó không những các tập đoàn tư bản độc quyền thu được lợi
nhuận siêu ngạch cao mà đời sống của những người lao động tại
nghiệp cũng được cải thiện và hình thành tầng lớp trung lưu trong xã
hội.
Trước thực tế đó, cộng thêm sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội
tập trung quan liêu ở Liên Xô và Đông Âu, nhiều người nghi ngờ tính
đúng đắn của khoa học kinh tế chính trị Mác- Lênin, đặc biệt là học
thuyết giá trị thặng dư “hòn đá tảng” trong các học thuyết kinh tế của
Mác.
Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư tấn công vào “hòn
đá tảng” này bằng nhiều luận điểm khác nhau. Phê phán những luận
cuộc cách mạng kỹ thuật thay thế lao động thủ công bằng lao động sử
dụng máy móc, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Kỹ thuật cho
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, bảo đảm sự toàn thắng của
chủ nghĩa tư bản với chế độ phong kiến, xác lập sự thống trị tuyệt đối
của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên toàn xã hội.
Phải chăng máy móc tạo ra giá trị thặng dư?. C.Mác đã chỉ ra rằng.
giá trị của hàng hoá trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bao gồm giá trị
của những tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng chuyển sang sản phẩm
mới c và lượng giá trị mới do lao động sống thêm vào trong đó để bù
lại tư bản khả biến đã được dùng để mua sức lao động (ngang với giá
trị sức lao động và m là giá trị thặng dư dôi ra ngoài giá trị sức lao
động). Như vậy, nguồn gốc của giá trị thặng dư chỉ là lao động sống.
Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư cho rằng điều đó
chỉ đúng trong thời C.Mác còn sống khi lao động thủ công chiếm ưu
thế, còn ngày nay trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ, máy
móc là nguồn gốc chủ yếu của giá trị thặng dư
Sở dĩ có nhận thức sai lầm ấy là do chưa phân biệt được vai trò của
máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình lao động và vai trò của
máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình làm tăng gía trị.
Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con
người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua mua- bán. Vì vậy,
không phải bất cứ một vật phẩm nào cũng là hàng hoá. Hàng hoá có
hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.
a. Giá trị sử dụng của hàng hoá
b.
: là công dụng của vật phẩm có thể
thoả mãn nhu cầu nào đó của con người (như gạo để ăn, vải để mặc,
xe đạp để đi). Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của
hàng hoá quy định. Vì vậy, nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử
Lao động trừu tượng: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá
không kể đến hình thức cụ thể của nó. Các loại lao động cụ thể có
điểm chung giống nhau là sự tiêu hao cơ bắp, thần kinh sau một quá
trình lao động. Đó chính là lao động trừu tượng, nó tạo ra giá trị của
hàng hoá.
Tất nhiên, không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hoá
mà chỉ là lao động của người sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt
mà thôi.
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao
động sản xuất hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động
tư nhân và lao động xã hội của những người sản xuấ t hàng hoá. Đó
chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn. Mâu thuẫn
cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn còn biểu hiện ở lao động cụ thể
với lao động trừu tượng, ở giá trị sử dụng với giá trị hàng hoá.
Bất cứ quá trình lao động nào cũng là sự kết hợp ba nhân tố chủ yếu:
lao động có mục đích của con người, đối tượng lao động, tư liệu lao
động (quan trọng hơn cả là công cụ lao động, nhất là công cụ cơ khí
hay máy móc). Sử dụng máy móc càng hiện đại thì sức sản xuất của
lao động càng cao, càng làm ra nhiều giá trị sử dụng (nhiều của cải)
trong một đơn vị thời gian.
Nhưng khi xét quá trình tạo ra và làm tăng giá trị thì những hàng
hoá tham gia vào đây không còn được xét với tư cách là những nhân
tố vật thế nữa, mà chỉ được coi là những lượng lao động đã vật hoá
nhất định. Và dù máy móc (kể cả rôbớt) quan trọng đến múc nào cũng
không thể tự nó chuyển giá trị vào sản phẩm chứ đừng nói đến việc
tạo thêm giá trị.
Chính lao động sống đã “cải tử hoàn sinh” cho các tư liệu sản xuất,
trong đó có mày móc, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới
theo mức độ đã tiêu dùng trong quá trình lao động sản xuất. Nhưng
giá trị thặng dư với việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Từ đó tất yếu sẽ
hiểu lầm rằng, máy móc là nguồn gốc sinh ra giá trị siêu ngạch, mà
không thấy rằng máy móc chỉ là đIều kiện để thu được lợi nhuận siêu
ngạch thông qua cạnh tranh.
Thực chất vấn đề sẽ sáng tỏ hơn khi chỉ những xí nghiệp đi trước
trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến mới thu được lợi nhuận siêu
ngạch. Khi công nghệ đó trở thành phổ biến, các đối thủ cạnh tranh đã
đuổi kịp trình độ tiên tiến thì giá trị thị trường sẽ hạ xuống, hàng hoá
rẻ đi, những người tiêu dùng được hưởng lợi và không có người sản
xuất nào thu được lợi nhuận siêu ngạch nữa.
Nhưng động cơ kiếm lợi nhuận siêu ngạch lại kích thích việc ứng
dụng công nghệ mới và một hiệp mới của cuộc cạnh tranh lại tiếp
diễn. Nhờ đó, kỹ thuật tiến bộ không ngừng. Mặt khác, cạnh tranh
dưới tác động của tiến bộ kỹ thuật tất yếu dẫn đén phân hoá giàu
nghèo. Muốn thu hẹp khoảng cách giàu nghèo nhà nước phải thực
hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập của dân cư và
hỗ trợ những người nghèo.
Cũng cần lưu ý rằng máy móc là phương tiện giảm nhẹ nỗi cực
nhọc của người lao động, tiết kiệm lao động sống nhưng không phải
bao giờ máy móc cũng là đIều kiện để thu được nhiều lợi nhuận hơn là
sử dụng lao động thủ công. Khi nói về giới hạn sử dụng máy móc
trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã chỉ ra rằng nhà tư bản “không trả
cho lao động đã sử dụng, mà chỉ trả cho giá trị sức lao động đã sử
dụng. Cho nên, việc sử dụng máy móc bị giới hạn bởi số chênh lệch
giữa giá trị của chiếc mày và giá trị của sức lao động bị máy đó thay
thế. Do đó, tiền công thấp sẽ ngăn cản việc sử dụng máy móc, bởi vì
lợi nhuận bắt nguồn không phải từ việc giảm bớt lao động được trả
công. C.Mác đã dẫn ra sự kiện người Mỹ chế tạo ra máy đập đá,
nhưng người Anh không sử dụng máy móc đó vì sử dụng “kẻ khốn
như mọi hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính: giá
trị và giá trị sử dụng.
a.
Giá trị của hàng hoá sức lao động
b.
: là thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động. Nói cách khác cụ thể thì
giá trị của hàng hoá sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt
cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia đình họ, và những chi
phí để đào tạo người công nhân có một trình độ chuyên môn nhất định
phù hợp với yêu cầu của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giá trị sức lao
động còn có tính lịch sử và xã hội, do đó tuỳ theo điều kiện cụ thể
từng nước và từng thời kỳ mà giá trị sức lao động có thể cao hay thấp
khác nhau.
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động
Quá trình tiêu dùng sức lao động là quá trình lao động diễn ra trong
lĩnh vực sản xuất. Chính trong lĩnh vực này, đồng thời với việc tạo ra
những giá trị sử dụng thì giá trị và giá trị thặng dư cũng được tạo ra.
: là ở chỗ nó thoả mãn
nhu cầu nào đó cuat người mua. Nhưng khác với hàng hoá thông
thường khác, hàng hoá sức lao động có một giá trị sử dụng đặc biệt là
khi đem tiêu dùng thì nó tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó.
Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm
đoạt.
3) Phải chăng C.Mác quy công trực tiếp tạo ra giá trị cho lao động
thể lực.
Có người cho rằng “C.Mác và các nhà khoa học tiền bối và cùng
thời với C.Mác trong thời đại máy hơi nước, máy dệt. . . đều quan
niệm của cải được lao động sáng tạo ra là của cải dạng vật thế. Từ đó
lại là không có giai cấp đại sở hữu”.
Chỉ khi nào nhờ lao động của mình mà con người thoát được cái
trạng thái súc vật lúc ban đầu của mình, do đó chỉ khi nào bản thân lao
động của con người đã được xã hội hoá đến một mức nào đó thì khi
đó mới xuất hiện những mối quan hệ trong đó lao động thặng dư của
người này trở thành điều kiện sinh tồn của người khác.
Vậy lao động phải có một mức độ năng suất nào đó, trước khi nó có
thể bị kéo dài ra quá thời gian tất yếu cần cho người sản xuất để nuôi
sống mình. Nhưng dù mức độ của năng suất cao thấp thế nào chăng
nữa, năng suất đó cũng không bao giờ lại là nguyên nhân sinh ra giá
trị thặng dư cả. Nguyên nhân đó bao giờ cũng là lao động thặng dư, vô
luận phương thức bóp nặn lao động thặng dư là như thế nào chăng
nữa.
1) Giá trị thặng dư:
Nếu việc coi giá trị chỉ là thời gian lao động đã cô đọng lại, chỉ là
lao động đã vật hoá là rất quan trọng để nhận thức được giá trị nói
chung thì việc coi giá trị thặng dư chỉ là thời gian lao động thặng dư
đã cô đọng lại. Chỉ là lao động thặng dư đã vật hoá, cũng quan trọng
như để nhận thức giá trị thặng dư.
Vì giá trị của tư bản khả biến bằng giá trị sức lao động mà tư bản đã
mua, vì giá trị sức lao động ấy lại quyết định phần cần thiết của ngày
lao động. Còn giá trị thặng dư thì lại do phần thặng ra trong ngày lao
động quyết định cho nên giá trị thặng dư so với tư bản khả biến cũng
bằng lao động thặng dư so với lao động cần thiết hay tỷ suất giá trị
thặng dư.
m lao động thặng dư
v lao động cần thiết
Cả hai vế của tỷ số này biểu thị cùng một tỷ lệ dưới những hình thái
khác nhau, trong một trường hợp thì dưới hình thái lao động đã vật
lao động thặng dư ra, lao động tất yếu tất sẽ bị rút ngắn lại bằng những
phương pháp khiến người ta sản xuất một vật ngang giá với tiền công
mà lại mất ít thời gian hơn. Việc sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối
chỉ ảnh hưởng đến thời gian lao động mà thôi, còn việc sản xuất ra giá
trị thặng dư tương đối thì lại làm biến đổi hoàn toàn các biện pháp kỹ
thuật và các kết hợp xã hội của lao động. Như vậy là nó phát triển
cùng với phương thức sản xuất thực sự tư bản chủ nghĩa.
2) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối : là cái giá trị
thặng dư mà trái lại có được là do rút ngắn thời gian lao động tất yếu
và do sự thay đổi tương xứng trong lượng tương đối của hai phần hợp
thành ngày lao động.
Ví dụ có một ngày lao động mà chúng ta đã biết giới hạn và ngày
lao động đó chia thành lao động tất yếu và lao động thặng dư. Đường
thẳng ac
đại biểu chẳng hạn cho một ngày lao động 12 giờ, phần ab là 10 giờ
lao động tất yếu và phần bc là 2 giờ lao động thặng dư. Nếu không
kéo dài ac ra thì làm thế nào mà có thể tăng việc sản xuất ra giá trị
thặng dư lên được. Dù lượng ac là cố định nhưng bc hình như có thể
kéo dài ra được, nếu không phải bằng cách kéo dài bc ra ngoài điểm
cố định c - điểm này đồng thời cũng là điểm tận cùng của ngày lao
động thì ít ra cũng phải bằng cách lùi điểm xuất phát b về phía a. Giả dụ trong đường thẳng bb’ bằng một nửa bc nghĩa là bằng một
giờ lao động. Nếu bây giờ trong ac, điểm b bị đẩy lùi về phía b’ thì lao
động thặng dư trở thành b’c, tăng lên một nửa, tăng từ 2 giờ lên 3 giờ
phải cải biến phương thức sản xuất. Chỉ có thế thì tư bản mới tăng
năng suất lao động lên được, do đó mà hạ giá thấp giá trị của sức lao
động xuống và cũng do đó mà rút ngắn thời gian cần thiết để tái sản
xuất ra giá trị sức lao động đó.
Muốn cho việc nâng cao năng suất lên làm cho giá trị sức lao động
hạ thấp xuống, thì việc đó phải được thực hiện trong những ngành
công nghiệp sản xuất ra những sản phẩm quyết định giá trị của sức lao
động đó. Nghĩa là, những ngành công nghiệp cung cấp hoặc những
hàng hoá cần thiết cho đời sống của công nhân, hoặc những tư liệu để
sản xuất ra hàng hoá đó.
Việc tăng năng suất lao động, trong khi làm cho giá cả những hàng
hoá đó hạ xuống, thì đồng thời cũng làm cho giá trị của sức lao động
hạ xuống. Ngược lại, trong những ngành công nghiệp không cung cấp
những tư liệu sinh hoạt, cũng không cung cấp những yếu tố vật chất
của những tư liệu sinh hoạt đó, thì năng suất tăng lên cũng không làm
ảnh hưởng gì đến giá trị của sức lao động cả.
Một hàng hoá mà giá rẻ đi, thì chỉ làm giảm giá trị sức lao động
theo tỷ lệ nhiều ít mà hàng hoá đó được dùng để tái sản xuất ra sức lao
động đó. áo sơ mi chẳng hạn là một vật cần thiết bậc nhất, nhưng cũng
còn nhiều vật cần thiết bậc nhất khác nữa. Giá áo sơ mi hạ xuống thì
chỉ giảm bớt chi tiêu của người công nhân để mua cái vật cá biệt đó
thôi. Tổng số những vật cần thiết cho đời sống chỉ gồm có những hàng
hoá như thế do các ngành công nghiệp khác nhau sản xuất ra.
Giá trị của từng hàng hoá thuộc loại đó là một phần của giá trị sức
lao động, toàn bộ phần giảm đi của giá trị sức lao động đó thì được đo
bằng tổng số thời gian mà lao động tất yếu đã được rút ngắn đi trong
tất cả các ngành sản xuất đặc biệt. Kết quả cuối cùng ở đó, chúng ta
coi như là kết quả trực tiếp và mục đích trực tiếp. Khi một nhà tư bản
hạ thấp giá áo sơ mi xuống, chẳng hạn bằng cách nâng cao năng suất
xã hội những sản phẩm thặng dư bán trên thị trường đều có giá trị,
nhưng ở chủ nghĩa tư bản thì giá trị của sản phẩm thặng dư mới là giá
trị thặng dư. Do đó, sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản
của chủ nghĩa tư bản.
Nội dung của quy luật là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho
nhà tư bản bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý
để bóc lột ngày càng nhiều lao động làm thuê. Là nhà tư bản , hắn ta
chỉ là tư bản đã được nhân cáh hoá, linh hồn hắn ta và linh hồn của tư
bản chỉ là một. Mà tư bản thì chỉ có một xu hướng tự nhiên, một động
cơ duy nhất, nó cố tăng lên, cố tạo ra giá trị thặng dư, cố dùng phần
bất biến của nó tức là những tư liệu sản xuất để thu hút cho được một
khối lượng lao động thặng dư nhiều nhất.
Khi xã hội ở vào hình thái mà về mặt kinh tế không phải giá trị trao
đổi mà là giá trị sử dụng chiếm ưu thế, thì lao động thặng dư ít nhiều
bị hạn chế bởi phạm vi những nhu cầu nhất định. Nhưng tính cách của
chính ngay nền sản xuất thì không gây nên một sự thèm khát cao độ
về lao động thặng dư. Nhưng vấn đề là phải thu được giá trị trao đổi
dưới hình tháI riêng biệt của nó bằng cách sản xuất ra vàng và bạc.