Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
LỜI GIỚI THIỆU
Nhằm mục đích nắm được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp vận tải ôtô một cách đầy đủ và có hệ thống. Trên cơ sở đó
củng cố, bổ xung những kiến thức đã học được trong nhà trường, đồng thời
phân tích lý luận và có sự liên hệ giữa lý thuyết với thực tế, đi sâu nghiên
cứu về lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh để làm báo cáo thực tập
chuyên đề.
Với mục đích đó, dưới sự hướng dẫn của Giáo viên Đỗ Thị Đông và
được sự giúp đỡ của CBCNV Công ty Cổ phần Taxi Hà Nội, em đã tới thực
tập tại Công ty Cổ phần Taxi Hà Nội với 2 nội dung chính:
- Tìm hiểu chung về quá trình hình thành và phát triển của Công ty
- Đi sâu nghiên cứu về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
trong cơ chế thị trường.
Qua thời gian đầu thực tập, em xin báo cáo lại kết quả thu được nh sau:
- Phần 1: Tổng quan về Công ty Cổ phần Taxi Hà Nội.
- Phần 2: Các đặc điểm kinh tế, kỹ thuật chủ yếu của Công ty.
- Phần 3: Kết quả hoạt động của công ty CP Taxi Hà Nội trong những
năm gần đây và phương hướng hoạt động trong thời gian tới.
- Phần 4: Nhận xét về kết quả kinh doanh và hoạt động quan trị của
Công ty trong những năm gần đây.
Sau đây là nội dung báo cáo:
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
1
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
PHẦN 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
TAXI HÀ NỘI
1.1. Giới thiệu chung về doanh nghiệp:
1. Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN TAXI HÀ NỘI
Từ trước năm 1989, phương tiện chủ yếu của Công ty là xe Trung Quốc
và một số xe của Liên Xô cũ. Cho tới cuối năm 1989 Công ty đã hoá giá,
thanh lý hết 100% số phương tịên cũ đó và liên doanh vơi hãng ôtô
TOYOTA (Nhật Bản) để mua sắm phương tiện, trang thiết bị mới phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh vận tải của doanh nghiệp. Năm 1990
Công ty đã có khoảng 30 đến 40 xe TOYOTA mới và nhiều xe hàng bãi để
trở thành một trong những doanh nghiệp đầu tiên của Hà Nội hoạt động kinh
doanh vận tải theo phương thức taxi.
Cho đến năm 2003 Công ty xe Du lịch Hà Nội cùng với 4 Cty khác
thuộc Sở GTCC là: Cty Bus Hà Nội, Cty Quản lý Bến xe Hà Nội, Cty Kinh
doanh Tổng hợp Hà Nội, Cty Khai thác điểm đỗ đã sát nhập lại thành Công
ty Vận tải và Dịch vụ công cộng Hà Nội ( trong đó Công ty xe Du lịch Hà
Nội trở thành công ty con với tên mới là Xí nghiệp TOYOTA Hoàn Kiếm,
hoạt động trong 2 lĩnh vực chính là kinh doanh vận tải theo phương thức
Taxi và bán xe ôtô mới của hãng TOYOTA ).
Đến năm 2004 khi Nhà nước thực hiện cổ phần hoá DNNN thì XN
TOYOTA Hoàn Kiếm được chọn làm thí điểm và Công ty Cổ phần Taxi Hà
Nội chính thức được ra đời khi cổ phần hoá 100% XN TOYOTA Hoàn
Kiếm.
Đến nay Công ty Cổ phần Taxi Hà Nội đã phát triển với hơn 500 xe du
lịch loại nhá, 100% của hãng TOYOTA hoạt động chính trong lĩnh vực kinh
doanh vận tải theo phương thức Taxi và sở hữu khu đất với diện tích
5.592m2 ( được phân cho XN TOYOTA Hoàn Kiếm cò ) dùng làm trụ sở
Công ty và bãi đỗ cho phương tiện.
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
3
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
4
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
5
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
i. Phương thức taxi: là phương thức mà doanh nghiệp sử dụng để quản lý
toàn bộ lực lượng vận chuyển hành khách bằng xe taxi.
Ưu điểm đặc biệt của phương thức này là có tính tiện nghi và hiện đại
cao:
- Tính tiện nghi: Trong công tác quản lý điều hành quá trình SXKD
Công ty sử dụng máy bộ đàm để nối liên lạc liên tục giữa Trung tâm
điều hành taxi với lái xe ( đảm bảo giám sát chặt chẽ lao động và
phương tiện trong quá trình sản xuất ) và sử dụng điện thoại để giao
dịch giữa Trung tâm điêu hành với khách hàng ( đảm bảo nhanh
chóng, thuận tiện cho khách khi họ có nhu cầu đi xe taxi ).
- Tính hiện đại: Với phương thức này thì khách đi xe taxi không phải
măc cả giá cước vận chuyển mà chỉ việc trả tiền theo đồng hồ tính
tiền đã được lắp đặt sẵn trên xe, tránh được tình trạng khách hàng bị
bắt chẹt….
Phương thức này chủ yếu phục vụ những đối tượng có nhu cầu đi lại
trong khoảng cách ngắn, góp phần giải quyết vấn đề giao thông công
cộng.
i.i. Phương thức thuê bao: Theo phương thức này thì phương tiện sẽ giao
cho mỗi lái xe và đội xe sẽ cùng với lái khai thác tìm khách. Khi có khách
muốn thuê xe thì đội xe có trách nhiệm giao dịch và ký kêt hợp đồng với
khách ( kể cả những khách mà lái xe tù khai thác được ). Sau khi ký hợp
đồng vân chuyển với khách thì đội sẽ phân công từng xe ra hoạt động. Sau
mỗi chuyến lái xe phải trở về nép doanh thu của chuyến đó cho Công ty và
Công ty sẽ chia tỷ lệ doanh thu cho lái xe.
Đặc điểm của phương thức này:
- Đối tượng và phạm vi phục vụ lớn.
- Về địa bàn hoạt động: do đặc thù ngành kinh doanh là các xe phải
thường xuyên di chuyển, địa bàn chính là Hà Nội ( tính cả Hà Nội mở
rộng ), tuy nhiên các xe hoàn toàn có thể hoạt động trên phạm vi các tỉnh khi
có khách yêu cầu.
- Về đối thủ cạnh tranh: Hiện nay trên địa bàn Hà Nội ước tính có
khoảng 10.000 đầu xe hoạt động bao gồm cả xe tư ( taxi dù ), và xe của các
hãng có tên tuổi được cấp phép như: Mai Linh, ABC, Vạn Xuân, Taxi CP,
taxi Việt Nam, 3A, Hà Nội Tuorist…Mặc dù trên thị trường nhiều Công ty
taxi cùng tham gia hoạt động kinh doanh, nhưng chiếm thị phần lớn nhất vẫn
là Hà Nội Taxi, Taxi CP, và Taxi Mai Linh.
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
7
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
- Về đối tượng phục vụ: Đối tượng phục vụ của hãng là những người
dân có thu nhập tương đối cao và khách nước ngoài. Ngoài ra Công ty còn
ký hợp đồng cung cấp dịch vụ lâu dài với hang loạt Khách sạn lớn như:
Hilton, Metrofol, Fortuna, KS Hà Nội, Sofitel Plaza, KS Lake Side, khu căn
hộ cao cấp Ciputra, khu căn hộ Sedona, Bệnh viện quốc tế Việt Pháp.v.v…
thêm vào đó là hàng chục nhà hàng lớn nhỏ, khu vui chới giải trí đang sử
dụng vé hợp đồng của Hà Nội taxi.
- Quy luật biến động của luồng hành khách: Luồng hành khách của
Công ty biến động theo các quy luật sau:
Biến động theo mùa: Những tháng mà khí hậu nóng, rét hoặc thời tiết
mưa Èm.
Biến động theo thời điểm: mùa di lịch, mùa lễ hội, hoặc các dịp cuối
năm.
Biến động theo ngày: những ngày lễ tết, ngày nghỉ cuối tuần.
2.2. Cơ cấu tổ chức
2.2.1. Đặc điểm cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Taxi
Gi¸m ®èc
Ban
thanh
tra
Gara
«t«
sè 3
Gara
«t«
sè 2
Gara
«t«
sè 1
Trung
t©m
®hvt
Phßng
tckt
9
Phßng
nc
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
• Phó Giám đốc
Là người tham mưu, giúp việc cho Giám đốc, ở Hà Nội taxi Phó Giám
đốc là người điều hành và giám sát trực tiếp các Gara ôtô về phương diện kỹ
thuật cũng như giám sát việc thực hiện nội quy, quy chế tại các Gara và là
người chịu trách nhiệm trước GĐ về các phương diện nói trên.
• Phòng tổ chức nhân sù (Phòng nhân chính )
Chức năng:
của các xe taxi.
Nhiệm vô:
- Nghiên cứu phát triển thị trường mới và giữ vững thị trường cò ( Bộ
phận Marketting)
- Thu nhận yêu cầu và thông tin của khách hàng bằng điện thoại và
cung cấp thông tin cho xe Taxi qua bộ đàm.
- Theo dõi xe ra hoạt động từ khi xuất phát đến khi kết thúc ca. Cần
thiết thì hướng dẫn lái xe cách tính tiền, giảm giá, thuê bao…
- Tổ chức bộ phận thu tiền để lái xe nép doanh thu sau mỗi ca hoạt
động.
- Tổng tình hình hoạt động và doanh thu của Công ty báo cáo trực tiếp
Giám đốc.
• Gara ôtô
Chức năng:
Gara hoạt động dưới sự chỉ đạo tập trung của duy nhất một Trưởng
Gara, ( Trưởng Gara chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp PGĐ ), Gara ôtô
quản lý trực tiếp phương tiện và công nhân lái xe.
Nhiệm vô:
- Tổ chức bãi đỗ cho phương tịên.
- Bảo dưỡng định kỳ, sửa chữa phương tiện hư háng.
- Theo dõi việc thực hiện các chính sách chế độ với người lao động.
- Sử lý vi phạm, duy trì nội quy, quy chế đối với CN lái xe.
- Bố trí xắp xếp lái xe chạy xe.
• Ban Thanh tra
Chức năng:
Kiểm tra, giám sát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các bộ
phận, đảm bảo duy trì đúng đường lối, nội quy, quy chế của Công ty, ban
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
11
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
4. Gara ụtụ: vi 4 Gara x 10 = 40 ngi.
Nguyn Bo Ngc - Qun tr Kinh doanh Tng hp A K38
Trởng
phòng (
01)
Bộphân
đàotạo
(02)
Bộphậnhạch
toántiềnl
ơng(01)
Bộphận
hành
chính(02)
Bộphận
bảovệ
(10)
Kêtoántrởng(01)
Kếtoánviên
(01)
Thủquỹ
(01)
Trởng
trungtâm
(01)
Bộphận
market
ting
(10)
Bộphận
ch÷a
(03)
Phã
gara(01)
Trëngban(01)
Tæ1(05) Tæ3
(05)
Tæ2
(05)
Tæ4
(05)
14
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
tạo, công nhân lái xe sẽ được thi và cấp chứng chỉ hành nghề do Hiệp hội
vận tải ôtô Việt Nam cấp.
2.4. Cơ sở vật chất và trang thiết bị:
Với đặc thù kinh doanh taxi là hoạt động trên đại bàn rộng lớn, vì vậy
việc phân bổ nguồn lực phương tiện nhằm rút ngắn quãng đường di chuyển,
giảm thời gian chờ đợi của khách hàng là điều rất quan trọng. Tại trụ sở
chính của Công ty tại số 105 Láng Hạ - Đống Đa - Hà Nội có:
- Ban Giám đốc.
- Phßng Nhân Chính
- Phòng Tài Chính Kế Toán
- Trung Tâm điều hành vận tải
- Gara ôtô số 1.
Ngoài ra, Công ty còn thuê mặt bằng để xây dựng thêm các Gara ôtô tại các
địa bàn quan trọng nh:
• Gara ôtô số 2 ĐC: số 35 phố Lê Văn Thiêm - Phường Nhân
Chính – Quận Thanh Xuân - Hà Nội.
Nguồn: phòng nhân chính
Phương tiện hoạt động kinh doanh trực tiếp là xe ôtô du lịch loại nhỏ,
100% được cung cấp bởi TOYOTA Việt Nam, được phân bổ về các Gara ôtô
với số lượng nh sau:
Bảng 2: Bảng phân bổ xe về các Gara ( Đơn vị: chiếc )
Tính đến ngày 31/12/2009
Đơn vị
Loại phương tiện
Tổng
Vios G
Vios Limo
2005
Vios Limo
2008
Innova J
2005
Innova J
2008
Gara ôtô số 1 32 44 28 33 21 158
Gara ôtô số 2 23 48 41 35 28 175
Gara ôtô số 3 16 30 17 31 21 115
Gara ôtô số 4 0 15 20 10 5 50
Tổng cộng 71 137 106 109 75 498
Nguồn: phòng nhân chính
2.5 Công nghệ và quá trình sản xuất
2.5.1 Công nghệ:
Hiện nay trên mỗi xe Taxi ngoài những thiết bị phục vụ cho quá trình
vận hành của xe thì có 2 bộ phận thiết yếu mà bất cứ xe Taxi nào của bất cứ
hãng nào đều phải có đó là Bộ đàm và Đồng hồ tính tiền
- Số thứ tự cuốc khách.
Khi khách hàng kết thúc chuyến đi chỉ cần căn cứ số tiền trên đồng hồ thể
hiện để trả cho lái xe.
Khách hàng có thể hoàn toàn tin tưởng với những xe taxi của các hãng đã
được Sở GTCC cấp phù hiệu Taxi thì hệ thống đồng hồ tính tiền đều được
các trạm kiểm định của nhà nước gián tem niêm phong và kẹp chì đảm bảo.
2.5.2. Quá trình sản xuất
a. Nguyên lý tính toán giá cước vận tải:
Hiện nay để xây dựng cơ chế tính toán thì Công ty căn cứ vào 2 yếu tố sau:
- Giá phương tiện.
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
18
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
- Giá cước.
Từ giá phương tiện để xác định thời gian thu hồi vốn và tính ra % khấu hao
cơ bản trong mỗi năm:
Tổng KHCB = Nguyên giá PT + Thuế NK + Thuế chước bạ + Chi phí khác
Tiếp đó xây dựng giá thành để xác định giá cước:
Giá cước = Giá thành + Lợi nhuận định mức
Giá thành vận tải của Hà Nội taxi bao gồm các khoản mục sau:
- Tiền lương của lái xe, bảo hiểm xã hội.
- Nhiên liệu cho xe trực tiếp sản xuất kinh doanh.
- Dầu nhờn cho xe trực tiếp sản xuất kinh doanh.
- Khấu hao cơ bản.
- Khấu hao sửa chữa lớn.
- Chi phí sửa chữa thường xuyên.
- Các khoản thuế.
- Chi phí quản lý: Trả lãi ngân hàng, lương cán bộ quản lý, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm phương tiện, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, khấu hao nhà
bộ đàm và toàn bộ các xe sẽ nghe được, những xe nào ở gần khu vực có địa
chỉ sẽ báo nhận và cùng nhau di chuyển đến đón khách.
+ Do đặc thù ngành kinh doanh ngoài sự cạnh tranh giữa các hãng Taxi
thì còn có sự cạnh tranh giữa các xe taxi trong cùng một hãng. Các xe cùng
nhau di chuyển, xe nào đến trước thì đón được khách ( phải báo lại qua bộ
đàm đã đón được để các xe khác dừng di chuyển ), các xe đến sau sẽ chờ khi
có địa chỉ mới.
Ngoài việc chờ đón địa chỉ của Trung tâm thì các lái xe có thể tự khai
thác các địa chỉ khác của bản thân.
Quy trình cứ tiếp diễn như vậy cho đến khi kết thúc ca, lái xe mang xe về
đổ xăng ( theo phiếu xăng được cấp ), đưa xe về Gara rửa và vệ sinh nội
thất, trao trả xe cho nhân viên nghiệm thu của Gara. Xe taxi khi hết ca được
các nhân viên Gara chốt số liệu trên ĐHTT vào giấy đi đường và sao lại vào
sổ cho ca ngày hôm sau.
CN lái cầm giấy đi sang bộ phận thu ngân nép doanh thu, sau khi tính
toán % của lái xe và % của Công ty sẽ được in ngay vào giấy đi đường.
Ca hoạt động kết thúc cũng là kết thúc các khâu trong quy trình sản xuất
trực tiếp. Ngoài hoạt động sản xuất chính, còn có các hoạt động hỗ trợ nh:
- Bộ phận Marketting đi khai thác thị trường.
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
20
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
- Bộ phận bảo dưỡng sửa chữa những hư háng tức thời, làm các cấp bảo
dưỡng thường xuyên, định kỳ đảm bảo cho các xe taxi đủ điều kiện
an toàn kỹ thuật ra hoạt động kinh doanh.
c. Cơ chế tính toán phân chia doanh thu:
Cơ chế khoán của phương thức khoán quản:
Xuất phát từ giá phương tiện và giá cước thì Công ty xác định mức khoán
cho phương thức này nh sau:
- Tiền lương của lái xe, bảo hiểm xã hội.
- Nhiên liệu cho xe trực tiếp sản xuất kinh doanh.
Trong tỷ lệ % doanh thu mà Công ty hưởng bao gồm các khoản sau:
- Khấu hao cơ bản.
- Khấu hao sửa chữa lớn.
- Chi phí sửa chữa thường xuyên.
- Các loại thuế.
- Chi phí quản lý.
- Lợi nhuận.
Cơ chế khoán của phương thức Taxi
- Phần doanh thu ăn chia: là phần doanh thu đồng hồ và được xác định
trên cơ sở trích trước 5% thuế VAT nép cho Nhà nước. Tỷ lệ ăn chia
cho Công nhân lái xe trên phần doanh thu ăn chia , cụ thể như sau:
MỨC
MỨC DOANH THU
ĂN CHIA ( ĐỒNG)
TỶ LỆ % DT CHO LÁI XE
Xe 5 chỗ Xe 8 chỗ
1- Ăn chia từ gốc
Mức 1 Đến 500.000 36,7 44,7
Mức 2 Từ 501.000 đến 700.000 42,7 50,7
Mức 3 Từ 701.000 đến 900.000 46,7 52,7
2- Ăn chia phần vợt ( Phần ngọn )
Mức 1 Từ 901.000 đến 1.300.000 52,7 58,2
Mức 2 Từ 1.301.000 trở lên 62,7 68,2
- Mức doanh thu đồng hồ/ ca kinh doanh dưới 200.000 đồng, nép Công
ty mức tối thiểu 150.000 đồng/ ca.
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
22
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
23
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
Công ty đã ký hợp đồng cung cấp dài hạn với các cây xăng ( gần các gara
ôtô để tiện việc di chuyển )
Khi lái xe mang xe về đổ xăng ( dùng phiếu đổ xăng, không dùng tiên
mặt ), nhân viên cây xăng sẽ ghi vào phiếu xăng số tiền phải thanh toán,
phiếu xăng được chia làm 2 phần, cây xăng giữ 1 nửa, nửa còn lại lái xe
mang về nép cho Công ty để cuối tháng Công ty đối chiếu, thanh toán với
cây xăng.
2.7. Vốn
Năm 2004 sau khi chính thức được cổ phần hoá, vốn điều lệ Công ty
chỉ là hơn 6 tỷ, sau 6 năm hoạt động con số đã tăng lên tương đương 150 tỷ.
Thống kê các chỉ tiêu thể hiện qua vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn cố định (tài sản cố định) là giá trị toàn bộ khu đất 5.592m2 tại ĐC 105
Láng Hạ và mặt bằng nhà xưởng. Ngoài ra là giá trị gần 500 đầu xe taxi hiện
có.
Việc đầu tư xe mới Công ty sử dụng nguồn vốn sẵn có do hoạt động
kinh doanh sinh lời đem lại, thêm vào đó là vay vốn ngân hàng thông qua
cầm cố thế chấp chính những xe hiện có với hình thức: giấy tờ gốc đặt ở
ngân hàng, xe Công ty vẫn quản lý và sử dụng kinh doanh.
Ngoài ra vốn lưu động của Công ty nằm ở các dự án đầu tư liên doanh với
các đối tác.
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
24
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Báo cáo thực tập tổng
hợp
PHẦN 2: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA HÀ NỘI
TAXI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY VÀ PHƯƠNG HƯỚNG
HOẠT ĐỘNG TRONG THỜI GIAN TỚI
Nguyễn Bảo Ngọc - Quản trị Kinh doanh Tổng hợp A K38
25