NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ CHIẾN TRANH
QUA TRẬN XÍCH BÍCH TRONG “TAM
QUỐC DIỄN NGHĨA” CỦA LA QUÁN
TRUNG
MỤC LỤC
Mục lục 2
Dẫn luận 3
Chương 1: “Trận Xích Bích”-từ lịch sử đế văn học 5
1.1. Trận Xích Bích trong lịch sử Trung Quốc 5
1.2. Trận Xích Bích trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung 8
Chương 2: Kỹ thuật huấn luyện, diễn tập quân đội 12
2.1. Kỹ thuật bố trí đội hình quân sự 12
2.2. Phương pháp luyện tập thủy chiến 15
Chương 3: Các chiến lược, sách lược quân sự 17
3.1. Ngoại giao 17
3.2. Tâm lý 19
3.3. Gián điệp 22
3.4. Hỏa công 23
3.5. Bại chiến 24
Chương 4: Vai trò của các nhân vật trong trận đánh 26
4.1. Nhân vật Khổng Minh 26
4.2. Nhân vật Chu Du 29
4.3. Nhân vật Tào Tháo 33
4.4. Các nhân vật khác 36
Chương 5: Ảnh hưởng của trận Xích Bích 38
5.1. Trong thơ văn 38
5.2. Trong các lĩnh vực khác 45
Chương 6: Kết luận 47
Danh mục tài liệu tham khảo 48
1
DẪN LUẬN
các tập đoàn quyền lực phong kiến, mà miêu tả hiện tượng phổ biến là sự suy thoái
trầm trọng trong tố chất người lãnh đạo, đồng thời vạch ra nhưng được mất trong các
phe phái chính trị.
Đề tài “Nghệ thuật miêu tả chiến tranh qua trận Xích Bích trong Tam Quốc
Diễn Nghĩa của La Quán Trung” lấy cơ sở hình tượng hóa triết học chính trị vì những
lý do sau đây:
Thứ nhất là mối quan hệ giữa chính trị và quân sự có tính gắn bó mật thiết, tác
động hữu cơ lẫn nhau.
2
Thứ hai, trận Xích Bích tuy miêu tả chiến tranh nhưng dung lượng nội dung
phác họa toàn cảnh trận chiến không nhiều và sắc nét, cái không khí hoành tráng sôi
động chưa phải là phông nền chủ đạo, là đỉnh điểm trong trận chiến. Mục tiêu quan
trọng mà tác giả đưa đến là toàn bộ những đấu tranh chính trị dẫn tới kết quả cuộc
chiến và thành bại của những phe phái, nhân vật.
Tóm lại, nghệ thuật miêu tả chiến tranh của La Quán Trung trong trận Xích
Bích là biểu hiện đỉnh cao của nghệ thuật chính trị- quân sự mà chúng ta cần khai
thác, tìm hiểu.
3
CHƯƠNG 1
“TRẬN XÍCH BÍCH”- TỪ LỊCH SỬ ĐẾN VĂN HỌC
1.1. Trận Xích Bích trong lịch sử Trung Quốc:
1.1.1. Vấn đề địa danh “ Xích Bích”:
Khu vực có khả năng xảy ra trận Xích Bích (khúc sông kéo dài từ Hoàng Châu
xuống thành phố Xích Bích)
Vị trí chính xác của trận Xích Bích đã gây tranh cãi cả trong công chúng và
giới học giả từ rất lâu nhưng chưa bao giờ đi đến được một kết luận cuối cùng, một
phần xuất phát từ việc Trường Giang đã thay đổi dòng chảy có từ thời nhà Tùy và nhà
Đường dẫn đến nhiều địa danh lịch sử không còn nằm ở vị trí cũ của nó.
Theo sử liệu thì bại quân của Tào Tháo rút về phía Bắc dọc theo Trường Giang,
chứng tỏ chắc chắn rằng địa điểm trận Xích Bích nằm ở đâu đó trên bờ Nam Trường
Tào Tháo lập tức chớp lấy cơ hội tấn công Kinh Châu. Lưu Tông đầu hàng
nhanh chóng và Tào Tháo kiểm soát được Giang Lăng, đồng thời tăng cuờng được
một lực luợng thủy quân mạnh và giàu kinh nghiệm chiến đấu ở Kinh Châu.
Lưu Bị một phải chạy xuống phía Nam cùng rất nhiều nạn dân Kinh Châu, lực
luợng này sớm bị đội quân tinh nhuệ của Tào Tháo đuổi kịp và đánh bại tại Truờng
Bản.
Lưu Bị cùng tàn quân rút về Hạ Khẩu và bắt liên lạc với sứ thần của Tôn
Quyền là Lỗ Túc. Theo một số sử liệu thì Lỗ Túc đã khuyên Lưu Bị rút quân xa hơn
về phía Đông tới Phàn Khẩu. Theo một thuyết khác thì Lưu Kì sau đó hợp quân với
Lưu Bị tại Giang Hạ còn quân sư của Lưu Bị là Gia Cát Luợng đuợc phái tới Sài Tang
để thuơng luợng với Tôn Quyền về một liên minh chống lại Tào Tháo.
Truớc khi liên minh Tôn – Lưu đuợc thành lập Tào Tháo đã gửi một bức thư
cho Tôn Quyền trong đó nói tới việc Tào Tháo đang thống lĩnh 80 vạn binh mã và đề
nghị Tôn Quyền đầu hàng. Triều thần Đông Ngô lúc này chia làm hai phe chủ hàng và
chủ chiến, phe chủ hàng do Trương Chiêu đứng đầu, phe chủ chiến do Chu Du, nguời
chỉ huy quân đội của Tôn Quyền, cùng Lỗ Túc, Gia Cát Luợng lại đề nghị Tôn lập
một liên minh chống Tào với Lưu Bị. Cuối cùng Tôn Quyền đã nghiêng về phe chủ
chiến, ông cử Chu Du, Trình Phổ cùng Lỗ Túc dẫn 30.000 binh mã ra mặt trận, liên
minh với Lưu Bị chống quân Tào.
Giai đoạn đụng độ ban đầu tại Xích Bích
Thủy quân Tôn-Lưu ngược dòng Trường Giang từ Hán Khẩu-Phàn
Khẩu tới Xích Bích, tại đây họ chạm trán với tiền quân của Tào Tháo. Vốn bị
hành hạ bởi bệnh dịch và sự suy giảm về tinh thần cũng như sức chiến đấu do
cuộc hành quân kéo dài từ Bắc xuống Nam, quân Tào không thể giành được lợi
thế trong những trận giao tranh nhỏ ban đầu và buộc phải lui về đóng quân ở Ô
Lâm.
Để giảm sự tròng trành của thuyền chiến ( làm quân Tào vốn không
quen với thủy chiến thường xuyên rơi vào trạng thái say sóng), Tào Tháo ra
lệnh dùng xích sắt nối nhiều thuyền lại với nhau.
Quan sát động thái này của Tào, tướng Hoàng Cái bên phía Đông Ngô
1.2.2. tóm tắt các sự kiện chính:
Hồi 43
Tào Tháo xua quân xuống phương nam, gửi hịch dụ hàng Đông Ngô.
Nội bộ tập đoàn Đông Ngô phân chia thành 2 phái chủ hòa – chủ chiến.
Đang lúc Tôn Quyền phân vân thì Lỗ Túc đưa Gia Cát Lượng đến Đông
Ngô.Tuy vấp phải sự phản đối của hàng ngũ mưu sĩ Đông Ngô nhưng cuối
cùng Khổng Minh cũng làm lay động được ý chí của Tôn Quyền.
Hồi 44
Theo lời di huấn của Quốc Thái,Tôn Quyền bèn trưng cầu ý kiến Chu
Du. Khổng Minh dùng kế khích tướng khiến Chu Du quyết tâm kháng
Tào.Thấy Khổng Minh túc trí đa mưu, Chu Du sai Gia Cát Cẩn thuyết phục
Khổng Minh nhưng không thành. Được lệnh của Tôn Quyền, Chu Du đem
5 vạn quân đến cửu sông Tam Giang đóng trại.
Hồi 45
Không chiêu mộ được Khổng Minh, Chu Du toan bày kế dụ Khổng
Minh đoạt lương Tào ở Tụ Thiết hòng ám haị y. Khổng Minh cao kế dùng
lời nói khích khiến Chu Du mắc mẹo phản đòn. Sau đó Chu Du toan mời
Lưu Bị sang Đông Ngô để loại trừ, may nhờ Quan Vũ theo hộ vệ nên sự
việc thất bại. Thoát kế hiểm của Chu Du, Lưu Bị từ biệt Khổng Minh về
Phàn Khẩu. Bấy giờ, Chu Du chém sứ giả, Tào Tháo đem quân đánh Chu
6
Du song thất bại. Tào Tháo bèn sai Sái Mạo, Trương Doãn lập thủy trại lớn
để luyện quân thủy. Sau lần Chu Du do thám, Tào tháo sai Tưởng Cán sang
dụ hang Chu Du. Chu Du mượn tay Tưởng Cán đưa thư hàng giả của Sái,
Trương khiến Tào Tháo mắc mưu chém tướng.
Hồi 46
Hay Khổng Minh biết mình dụng kế phản gián, Chu Du bèn buộc
Khổng Minh nộp 10 vạn tên để xử tội y theo quân luật. Đoán được sắp có
sương mù, Khổng Minh nhờ Lỗ Túc chuẩn bi thuyền cỏ sang thủy trại Tào
Tháo đánh động .Tào Tháo khôn ngoan bắn tên chi chít vào trên bó cỏ. Sau
7
Thua trận ở Tam Giang, Xích Bích, Tào Tháo rút lui về đường Ô Lâm.
Chu Du bố trí Cam Minh, Lã Mông, Lãng Thống chặn Tào Tháo ở Ô Lâm.
Quân Tào từ Hợp Phì tiếp ứng cũng bị Tôn Quyền chặn đánh. Bị Lục Tích,
Thái Sử Từ đánh bừa vào, Tào Tháo phải chạy ra Di Lăng. Tại phía tây Ô
Lâm, Tào Tháo bị Triệu Vân đánh úp chạy về Nam Di Lăng, qua hang Hồ
Lô. Khổng Minh bố trí Trương Phi phục kích Tào tháo tại hang Hồ Lô, Tào
Tháo rút về hẻm Hoa Dung. Quan Vũ chờ sẵn ở đường Hoa Dung, Tào
Tháo lấy ân tình xưa xin Quan Vũ tha cho đường sống, rồi lại rút về Nam
Quận, hội quân với Tào Nhân, sau đó cử Tào Nhân trấn thủ Nam Quận, bản
thân rút về phương bắc.
8
CHƯƠNG 2
KỸ THUẬT HUẤN LUYỆN- DIỄN TẬP QUÂN ĐỘI
Kỹ thuật huấn luyện- diễn tập quân đội trong chiến tranh là điều kiện quan
trọng quyết định tài năng huấn luyện quân sự của người chủ tướng cũng như sự thắng
bại giữa các bên tham chiến.Là một tác phẩm kinh điển của thể loại tiểu thuyết giảng
sử, Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung đã phác họa lại một giai đoạn lịch sử đầy
những cuộc chiến khốc liệt, hào hùng. Trong đó, để phô diễn sinh động cái hồn của
thời đại trong tác phẩm, tác giả đã không ngừng tái hiện kỹ thuật diễn tập quân đội
trong quân sự qua nhiều nhân vật cũng như trong nhiều trận đánh.Chính kỹ thuật quân
sự tài tình này là hình thái đầu tiên và cũng là hình thái dễ nhận biết nhất trong thủ
pháp miêu tả chiến tranh của La Quán Trung.Là một cuộc chiến hoành tráng , là một
sự kiện trọng yếu ảnh hưởng mạnh mẽ đến nội bộ toàn bộ tác phẩm, trận Xích Bích
cũng không nằm ngoài nguyên tắc trên.Nhìn chung, kỹ thuật huấn luyện- diễn tập
quân đội trong trận Xích Bích biểu hiện cụ thể ở hai phương diện, đó là kỹ thuật bố
trí đội hình quân sự và phương pháp luyện tập thủy chiến.
2.1 Kỹ thuật bố trí đôi hình quân sự :
Theo thống kê của người viết từ hồi 43 đến hồi 50 của tiểu thuyết, tác giả La
Quán Trung có 7 lần miêu tả tường tận việc bố trí đội hình quân sự của ba nhân vật
Du đã phần nào lột tả được tính cách, lập trường tư tưởng cũng như những thủ đoạn
chính trị mà La Quán Trung cố gắng khắc họa ở nhân vật.
Nói như trên, không có nghĩa là Chu Du tài năng hơn Tào Tháo. Tuy không thể
hiện toàn vẹn bản chất và tài năng thực của mình trong diễn biến truyện cũng như
không giành được thắng lợi cuối cùng, nhưng điều đó không khẳng định rằng kỹ thuật
điều quân khiển tướng của Tào Tháo là kém.Trong giai đoạn diễn biến trận đánh, tuy
Tào Tháo chỉ duy nhất một lần tổ chức điều khiển các tướng dưới quyề, đó chính là
lúc sau khi Tào Tháo uống rượu ngâm thơ.
“Quân thủy và quân bộ đều chia làm năm hiệu cờ. Quân thủy, tướng trung quân
cờ vàng là Mao Giới, Vu Cấm; tướng tiền quân cờ đỏ là Trương Cáp; tướng hậu quân
cờ đen là Lã Kiền; tướng tả quân cờ xanh là Văn Sính; tướng hữu quân cờ trắng là Lã
Thông. Quân mã bộ thì Từ Hoảng làm tướng tiền quân, cờ đỏ; Lý Điển làm tướng hậu
quân, cờ đen; Nhạc Tiến làm tướng tả quân, cờ xanh; Hạ hầu Uyên làm tướng hữu
quân, cờ trắng; Hạ Hầu Đôn, Tào Hồng thì tiếp ứng cả hai đường thủy lục; Hứa Chử,
Trương Liêu hộ vệ và đi lại đốc chiến.”
Nếu như La Quán Trung miêu tả công tác phân phối nhân lực của Chu Du như
một tướng lĩnh có dư tài năng quân sự, sự gan dạ, và cũng không thiếu cái ngông vốn
có của người trẻ tuổi, thì tác giả lại tinh tế diễn tả bản lĩnh,sự khôn ngoan,cẩn trọng
của một lão tướng nổi tiếng gian hùng.với ưu thế về số đông quân sự,Tào Tháo không
hề để phí phạm một quân một tốt nào trong công cuộc nam chinh của mình.Tào Tháo
phân chia cụ thể các toán quân,chỉ đạo rõ công việc chính cũng như chú thích cờ hiệu
của các tướng chỉ huy công việc bố trí công phu và tỉ mỉ như thế thì chỉ có những ai
đã thấm nhuần binh thư và các thủ pháp điều hành quân sự mới cò thể làm nên.
Nếu như công tác diễn tập của Chu Du và Tào Tháo là những diễn tập điển
hình cho kĩ thuật diễn tập quân đội phong kiến thì ở Gia Cát Lượng kĩ năng phân chia
nhiệm vụ cho các tướng lĩnh trong tập đoàn Lưu Bị sau khi trốn về Phàn Khẩu là tiêu
biểu cho cách đánh linh hoạt và hiện đai. Trong Tam quốc diễn nghĩa,tập đoàn Lưu Bị
đại diện cho chí hướng và nguyện vọng của nhân dân nên phương pháp đánh cũng rất
nhân dân.Trong khi Chu Du chặn đánh Tào Tháo ở các đường lộ lớn,thì Khổng Minh
lại bắt bí Tào Tháo trong những con đường tắt hẻm núi,hang động…Điều đó phản ánh
“…Người phương bắc không quen ngồi thuyền bị sóng đánh nghiêng ngả mới
sinh ra bệnh. Nếu đem thuyền lớn nhỏ, ghép lại thành từng cụm độ ba chục chiếc hoặc
năm chục chiếc, đầu đuôi dùng xích sắt ghép liền với nhau, trên thuyền lát ván phẳng
phiu, như thế chẳng những người đi lại dễ dàng, mà đến ngựa chạy cũng được. Nên
làm ngay lúc này đi, thì còn lo chi thủy triều và sóng gió nữa”
Tuy đóng góp của Bàng Thống mang bản chất là một kế liên hoàn dẫn dắt Tào
Tháo vào vòng tự mãn, nhưng chi tiết trên cũng đủ thấy sự am hiểu trong tác
chiến thủy trận của Bàng Thống.
11
CHƯƠNG 3
NHỮNG CHIẾN LƯỢC- SÁCH LƯỢC QUÂN SỰ
3.1. Ngoại giao:
Trong lịch sử Trung Hoa thời kì tam quốc đánh dấu một giai đoạn các tập
đoàn phong kiến tranh chấp quỵền lực lẫn nhau. Trong đó nổi trội lên là 3 tập đoàn
Lưu, Tôn, Tào tương ứng với cục diện 3 nhước Ngụy, Thục, Ngô sau này. Mỗi tập
đoàn luôn là đối thủ với 2 thế lực còn lại. Thế nhưng trong quan hệ chính trị,
không phải kẻ thù mãi là kẻ thù, cũng có lúc để giải mục đích chung các tập đoàn
còn liên minh với nhau một cách tạm thời. Chính những tình huống này vai trò của
hoạt động ngoại giao mới thật sự quan trọng.
Trong giai đoạn trận Xích Bích, không ít các hoạt động ngoại giao đã được
thực hiện giữa cả 3 đối tượng chính của tiểu thuyết. Các tập đoàn Lưu, Tôn, Tào,
trong đó trọng điểm vẫn là hoạt động ngoại giao giữa 2 phe Tôn-Lưu để tiến hành
liên minh chống Tào.
Xuất phát từ ý thức bảo vệ và phát triển lợi ích của mỗi bên, 2 tập đoàn Tôn-
Lưu đã tiến tới thiết lập liên minh. Đó là một hệ quả khách quan trong bối cảnh
truyện. Chúng ta cần biết để thiết lập một liên minh chính trị cần nhiều điều kiện
đồng thời. Thứ nhất các bên phải có chung một kẻ thù, thừ hai là phải thỏa mãn
nhu cầu lợi ích của các bên tham gia liên minh. Cả 2 điều kiện trên đều thỏa mãn
nhu cầu của truyện. Mục đích của Tào Tháo là xưng bá trung nguyên, thống nhất
Trung Quốc, trong khi các tập đoàn chính trị lớn mạnh như Viên Thiệu, Lã Bố,
giải quyết mâu thuẫn riêng của mình. Trái ngược với Chu Du, Lỗ Túc thật sự quan
tâm đến vấn đề lớn trước mắt, ông quan tâm đếm mức nhiệt tình, đôi khi ông cứ
như bị Khổng Minh lợi dụng vì sự nhiệt tình đó. Thật vậy với tư cách đưa Khổng
Minh về Ngô, Lỗ Túc luôn tỏ ra đồng tình với Khổng Minh trong việc kháng Tào.
Nhiều lần ông đã giúp Khổng Minh né tránh được những mưu kế thâm hiểm của
Chu Du. Lỗ túc cũng là cái cầu nối thăm dò tâm lý giữa Khổng Minh và Chu Du.
Thêm nữa, đáng nói trong hoạt động ngoại giao cón có việc Tưởng Cán hai
lần sang phá Chu Du, Hám Trạch đưa thư trá hàng giùm Hoàng Cái, cũng như
Bàng Thống hiến kế ghép thuyền cho Tào Tháo. La Quán Trung hết thảy mọi khả
năng trí tuệ của nhân vật vào hoạt động ngoại giao một cách tỉ mỉ.
3.2. Tâm lý:
Như đã trình bày trong phần dẫn luận, trận Xích Bích được miêu tả chủ yếu
qua những mưu lược tài tình của các tuyến nhân vật. Những mưu lược này tập
trung hướng vào tâm lý của các bên, tìm cách áp đảo hoặc hóa giải những chiến
lược thâm sâu của đối phương. Thứ nhất là ở nhân vật Khổng Minh. Khổng Minh
trong Tam Quốc Diễn Nghĩa là chân dung đại diện cho trí tuệ siêu phàm của nhân
dân. Trí tuệ ấy được khắc họa sâu sắc và đậm nét ở mọi thồi điểm , nhất là trong
các sự kiện lớn nắm trong diễn biến nội dung tác phẩm , trong đó có trận Xích
Bích.
Với thân là sứ giả đại diện cho tập đoàn Lưu Bị, Khổng minh trong hành
trình đến Giang Đông phải đảm bảo được hai yêu cầu là thiết lập và duy trì liên
minh chính trị quân sự. Đặc biệt giải quyết hai vấn đề đó , Khổng Minh còn nhiệm
vụ phải chú tâm giải quyết hai vấn đề trên mà không gây tổn hại đến lợi ích của
tập đoàn phía sau mình. Chính vì vậy mà mọi chiến thật tâm lý của Khổng Minh
luôn hướng đến hai điểm trên.
Dựa trên sự thông hiểu đối phương cũng như thu thật xử lý tin tức nhạy bén
Khổng Minh biết Tôn Quyền là một nhà lãnh đạo có chí lớn và sớm nhìn ra cục
diện thời thế. Tuy nhiên một điểm mà Tôn Quyền hạn chế nhất chính là do dự,
không quyết đoán. Từ một logic thực tế là sự nghiệp của Tôn Quyền không như
Lưu Bị, Tào Tháo khôngphải dobản thân tự tạo mà được thừa kế từ cha anh, cho
nữa khi dùng các cách với Chu Du, giải quyết những vướng mắc tong lòng Tôn
Quyền, khích lệ quyết tâm chiến đấu của y.
Hình thức đấu tranh tâm lý của Khổng Minh còn được vận dụng trong những
tình huống bất lợi, một mặt phải hóa giải ý đồ gian hiểm của Chu Du, một mặt
phải duy trì liên minh, hoặc chờ đợi thời cơ lớn. Khi Chu Du dùng kế mượn dao
giết người, lừa Khổng Minh đoạt lương Tào ở Tụ Thiết, Khổng Minh đã dùng kế
khích tướng buộc Chu Du rơi vào Kế phản đòn. Hoặc khi tình huống trận đánh đã
đi đến giai đoạn kết thúc, Khổng Minh dự đoán mâu thuẩn tư tưởng giữa ông và
Chu Du sớm muộn gì cũng dẫn tới phá phá vỡ liên minh, ông đã dựng việc huyễn
hoặc “cầu gió đông” để lừa mị tâm lý Chu Du. Mục đích chính của biện phàp này
là Khổng Minh muốn lợi dụng sự ma mị để át chế tâm lý phe địch, đồng thời sử
14
dụng đàn tthấ tinh tấm bình phông che chắn cái ý đồ chuẩn bị trốn khỏi Đông Ngô,
tách bản thân khỏi ssự kiểm soát của Chu Du.
Tuy Khổng Minh nổi bật lên toàn bộ cục diện vì tài đấu tranh tâm lý nhưng
hai nhân vật then chốt còn lại cũng không tỏ ra kém nổi bật. Nhất là Tào Tháo.
Trong chiến lược nam chinh, Tào Tháo đã chuẩn bị sẵn cho mình chiến lượcmưu
phạt tâm công. Chiến lược đó thể hiện sâu sắc trong lời bài hịch gưi sang Ngô
chiêu hàng.
“Ta phụng mệnh vua, đánh kẻ có tội. Cờ trỏ về nam, Lưu Tôn phải bó tay,
dân Kinh Tương nghe thấy tin, răm rắp hàng phục. Nay thống lĩnh trăm vạn hùng
binh, nghìn viên thượng tướng, muốn cùng với tướng quân họp săn ở Giang Hạ, để
đánh Lưu Bị, cùng chia đất đai, giao hảo với nhau mãi mãi. Xin đừng ngờ vực, trả
lời ngay cho.”
Cũng giống như Khổng Minh, tào Tháo cũng đánh vào yếu diểm cua Tôn
Quyền nhưng không phải sự do dự mà là tâm trãng nhát gan sợ địch. Với uy thế
đông về lực lượng Tào Tháo muốn dùng như cách đã dùng cách với Sái Thị và
Lưu Tôn, dự định đoạt Giang Nam không tốn một binh một tốt. Mặt khác thủ thuật
tâm lý của Tào Tháo còn được sử dụng để đe dọa những người mà ông còn nghi
ngờ như Haám Trạch để trong cơn nguy ngập bộc lộ ý đồ và bản lĩnh của mình,
Du. ấy vậy,mà khi Chu Du mượn cả hai phao tin thì Tào Tháo lại tin răm rắp.
Không những vậy ý thức đề phòng của y dường như bị tiêu giảm tối đa bởi sự dàn
xếp khéo léo của Chu Du, ChuDu mượn tay Hoàng Cái, Hám trạch làm cho Tháo
mở rộng thêm niềm tin, cũng như thêm vào thái độ tự mãn, chủ quan. Dùng cùng
một thủ thuật đến hai lần, mượn tay Tưởng Cán đưa bàng Thống cùng ý đồ của
mình hiến cho tào Tháo. Phải nói trong nghệ thuật vận dụng gián điệp, ChuDu là
một bậc thầy. Bởi lẽ mọi ý đồ dụng gián xuất phát đều phục vụ cho Tào nhưng
cuối cùng đều ngược lại làm lợi cho Du.
3.4. Hỏa công:
Một vấn đề cần làm rõ, trong mọi thủ thuật, mưu lược diễn ra trong quá trình
tiến triển các sự kiện của trận Xích Bích đều nhắm tới một mục tiêu cuối cùng, đó là
chiến thuật hỏa công. Trong số mọi họat động đã nêu, trực tiếp chuẩn bị cho đánh hỏa
công hai tiền đề quan trọng đã được thực thi bởi hai mưu sĩ bậc nhấc đương thời:
Ngọa Long- Giá Cát Lượng và Phượng Sồ- Bàng Thống.
Như đã thảo luận trong chương 2, Bàng Thống là người đề ra kế sách đem xích
săt ghép thuyề lớn nhỏ với nhau để khi đánh hỏa công các thuyền khó lòng tách ra.
Song điều kiện quan trọng nhất của lối đánh hỏa công là do Khổng Minh dàn
dựng. Binh pháp Tôn Tử có ghi lại: “Phát hòa hữu thời, khởi hỏa hữu nhật”, tức là
muốn đánh hỏa công phải xem biết thời cơ. Thời cơ theo Khổng Minhtính toán chính
là ngày 20/11. Vì sao phải chọn ngày 20/11? Xét về mặt lịch pháp Trung Hoa, 1năm
chia làm 24 tiết thì 20/11 chính là tiết đông chí. Nhìn nhận từ khía cạnh thiên văn học,
tiết đông chí là ngày trái đát nhận được nhiều ánh sáng mặt trời nhất, đồng thời làm
cho khí hậu thay đổi. Từ ngày xưa, ngưởi Trung Hoa đã phát hiện ra việc này và đúc
kết thành quy luật “hạ chí âm sinh, đông chí dương sinh”. Theo quy luật này mọi hiện
tượng thời tiết trước đông chí có thể thay đổi sau ngày đông chí. Tức là hướng gió từ
tây bắc sẽ chuyển sang đông nam. Lợi dụng quy luật trên Khổng Minh đã giả lập đàn
Thất Tinh để cầu gió, thực chất ngày hôm đó co gió đông hay không chính Khổng
Minh cũng không biết rõ. Vì lẽ đó Khổng Minh đã nói với Lỗ Túc : “… Nếu ta cầu
trời mà không thành thì cũng không có gì là lạ”. Kỳ thực, nếu là qyu luật trong phép
hành quân sao Chu Du và Tào Tháo lại không biết? Với Chu Du, đây có lẽ là biểu
Lợi dụng tình thế hỗn loạn sau đại chiến Xích Bích, Lưu tiến đế chiếm lấy
Kinh Châu, vùng trọng địa chiến lược mà cả ba thế lực đều dom ngó để làm bàn đạp
xưng bá Trung Nguyên. Đó là kế “Hỗn thủy mô ngư”(khuấy nước mò cá).
Liên minh với Tôn trước mắt tạo bước tiến cho Tôn cũng như cho tập đoàn mình, hạ
ưu thế phía Tào, cân bằng lực lượng các bên. Đồng thời lại sử dụng Quan Vụ làm con
cờ bảo lưu mạng sống Tào Tháo, giữ thế ba chân vạc, dùng Tào khiến Tôn không thể
uy hiếp mình. Đó là kế “ Viễn giao cận công” (ở xa giao thiệp, ở gần tấn công).
Thứ hai là những suy tính của Tào Tháo sau khi thất bại ở Xích Bích. Tự thấy
bản thân bị sa lầy, Tào Tháo biết rõ vấn đề về kâu dai là phải bảo toàn tính mạng để
tính kế về sau, nên y đã dung sách lược cuối cùng “ Tẩu vi thượng”. Con đường lui
quân của Tào tháo cũng rất gian nan, hế về Ô Lâm lại sang Di Lăng, Di Lăng bị chặn
lại rút về Nam Quận. Tào Tháo cùng một luc phải đối phó 3 kẻ địch, quân Lưu- Tôn
truy sát, quân sĩ đang suy giảm nhuệ khí, và chính bản thân Tào tháo đang gánh chịu
thất bại nhục nhã. Giải quyết khó khăn về phía mình Tào Tháo tỏ ra hết sức lạc quan,
17
chạy đến đường này bị chặn đánh lại chạy sang ngõ khác, nhưng hễ thấy bình yên
chốc lát thì y lại cười Chu Du, Khổng Minh kém trí y. Đối với tướng sĩ Tào tháo đã
cảnh tĩnh bằng lời than oán khóc Quách Gia, đó đích thực là lời cay động chạm đến ý
thức quân sĩ vì không muốn làm kẻ bất tài. Cuối cùng , đối với kẻ địch Quan Vũ, Tào
Tháo đã nhắc đến mối ân tình xưa thuyết phục ông tha cho đương sống.
18
CHƯƠNG 4
VAI TRÒ CỦA CÁC NHÂN VẬT TRONG TRẬN ĐÁNH
4.1. Nhân vật Khổng Minh:
4.1.1. Mục tiêu chiến lược rõ ràng, luôn giành thế chủ động.
Trong bối cảnh diễn ra trận Xích Bích, cũng như trong toàn bộ tác phẩm Tam
Quốc Diễn Nghĩa, Khổng Minh luôn xác định Tào Tháo chính là kẻ thủ chính thức
của tâp đoàn Lưu Thục. Thứ nhất, vì Tào tháo luôn hướng mũi tiến công tâp trung vào
quân Lưu Bị. Thứ hai, trên danh nghĩa chính quyền Tào Ngụy đã thay thế nhà Đông
Hán đi ngược trật tự phong kiến. Nguyên nhân đầu là lý do chính yếu, còn lý do thứ
tư của người khác. Rõ là phải biế Tiểu Kiều lả vợ Chu Du, mà Chu Du lại vô cùng yêu
19
vợ thì ông mới khôn khéo khích tướng Chu Du bằng bài phú đài Đồng Tước của Tào
Thực mà ông cố tình thay đổi ý tưởng.
Cũng chính nhờ sự am hiểu đối phương sâu sắc, đã nhiều lần ông đã tự giải vây
cho mình bằng hiểu biết và dự đoán trước đó.
4.1.3. Lợi dụng điều kiện tự nhiên, quan niệm mê tín của đối phương.
Trong lần Chu Du bày kế sai Khổng Minh chuẩn bị tên đánh trận, gây khó khăn
toan dùng quân luật để trị tội Khổng Minh để y bị hại mà không dám oán Chu Du.
Nhưng với kinh nghiệm dày dạn cũng như tài cơ trí hơn người mà Khổng Minh đã
tiếp nhận yêu cầu mà Chu Du. Khổng Minh đã đoạt tên từ phía Tào mà không mất sức
nhờ đoán biết được có sương mù. Chính Khổng Minh cũng đã từng nói:
“Làm tướng mà không biết thiên văn, không tường địa lý, không biết được
thuật pháp, không hiểu được âm dương, không tính trận đồ, không giỏi binh thế, đó là
tướng xoàng. Từ ba hôm trước, ta đã tính biết hôm nay có sương mù lớn, nên mới
dám nhận thời hạn ba hôm ”
Xung quanh kinh nghiệm quân sự của Khổng Minh, đáng nói còn có sự việc
Khổng minh dựng đàn Thất Tinh cầu gió đông. Như đã thảo luận ở chương trước, đây
là tình huống Khổng Minh lừa mị Chu Du, cũng như các tướng lĩnh Đông Ngô. Sự
khéo leo của Khổng Minh còn tinh vi hơn khi ông lên đàn còn lầm rầm khấn vái hệt
một vị đạo sĩ, làm tướng sĩ thủ đàn tin như thật răm rắp theo lời Khồng Minh không
dám sơ hở. Do đó mà khi Đinh Phụng, Từ Thịnh lệnh bắt Kổng Minh thì không ai
dám bỏ hàng ngũ. Trong sự việc này Lỗ Túc cũng có phần trách nhiệm, ví dụ như y
không biết đến quy luật “đông chí dương sinh”, nhưng khi biết Khổng Minh là người
am hiểu thiên văn đáng lẽ nên có chút thắc mắc khi dưng đàn nhưng y lại quá tin cậy
vào Khổng Minh.
4.1.4. Nhận xét tinh tế, sâu sắc.
Trong đoạn trích, Khổng minh càng biểu lộ ra là một người có cái nhìn thấu
đáo, sâu xa và thâm thúy. Không những giỏi trong việc dự đoán thiên tượng, Khổng
Minh còn giỏi dự đoán tính cách con người qua nhân diện. Trong cái nhìn đầu tiên về
tiến sâu vào chỗ sông hồ, không quen thủy thổ, nhiều người đau ốm, là bốn điều kỵ.
Quân Tào Tháo phạm bốn điều kỵ ấy, dẫu nhiều cũng phải thua.”
Chu Du đã đặt quân địch vào trong điều kiện khí hậu, hoàn cảnh tự nhiên, địa
lý để nghiên cứu, nhìn thấy nhược điểm của đối phương, hiểu rõ tình hình đối phương
vì vậy mới không bị vẻ bên ngoài và ngôn từ của đối phương uy hiếp và đánh lừa.
Một tướng lĩnh, một nhà lãnh đạo cần phải có tố chấ như Chu du, tỉnh táo suy xet sự
tình theo logic quân sự chính trị mới giải quyết được những quyết sách to lớn.
Cũng nhờ sự đánh giá đối thủ thông qua logic nhà binh, cũng như đúc kết tử
những kinh nghiệm của vị tướng tài luyện thủy bậc nhất, Chu Du dễ dàng nhận ra uy
lưc lớn mạnh và lợi thế của phe Tào khi có được Sái Mạo, Trương Doãn. Trước những
đánh giá nhanh chóng đó Chu Du đã kịp thời loại trừ hai mối lo này để rảnh tay cho
viêc sau này.
Ngoài ra chính việc đánh giá đúng thực tài quân sự, chính trị của Khổng Minh
nên y mới có những dự đoán rằng Khổng Minh sẽ vượt tài mình mà nảy sinh lòng đố
kị.
4.2.2. Cơ trí đa mưu, giỏi dùng thâm kế.
Đây chính là vai trò quan trọng mà Chu Du đã đóng góp nhiều vào tập hợp
những chiến lược trong trận Xích Bích.
Cái cơ trí đầu tiên và tích cực nhất mà Chu Du làm đươc chính là việc giải
quyết mâu thuẫn giữa bản thân với thế hệ tướng lĩnh tiền bối khi đã được tôn Quyền
tạo điều kiện. Là một tướng lĩnh trẻ tuổi, thông thường sẽ không được những lão
tướng kì cựu phục tùng tuyệt đối. Chu Du cũng không phải trường hợp ngoại lệ.
21
Trong trận đánh, biểu hiện rõ nhất về loại mâu thuẫn này chính là quan hệ giữa Chu
Du và Trình Phổ.
“Nguyên Trình Phổ hơn tuổi Chu Du, thấy Du quyền to hơn mình, có ý không
vui, giả ốm không đến, sai con là Trình Tư đi thay …”
Giải quyết mâu thuẫn nội bộ này, Chu Du vừa dùng tài vừa dùng đức đề thu
phục nhân tâm. Đầu tiên, chu Du dùng chính thực tài quân sự của mình chứng minh
bản lĩnh:
bốn bể, dựng nên nghiệp Hoàng Đế; hai là lấy được hai chị em nàng Kiều ở Giang
Đông, đem về đài Đồâng Tước để vui tuổi già, thì dẫu chết cũng không tiếc gì đời
22
nữa! Nay Tháo tuy đem quân trăm vạn, chực chiếm Giang Nam, nhưng thật ra chỉ vì
hai người con gái ấy. Tướng quân sao không tìm Kiều công, đem nghìn vàng mua lấy
hai người con gái rồi sai người mang dâng cho Tào Tháo, Tháo mãn nguyện tất rút
quân về. Đó cũng là kế Phạm Lãi dâng Tây Thi cho Ngô Vương, sao không kíp làm
đi?
Du hỏi:
- Có gì làm chứng về việc Tào Tháo muốn được hai nàng Kiều không?
Khổng Minh nói:
- Con nhỏ Tào Tháo là Tào Thực, tự là Tử Kiến, có tài đặt bút thành văn. Tháo sai làm
một bài phú, gọi là phú đài Đồng Tước. Ý chính trong bài phú ấy, chỉ nói về nhà Tào
nếu làm Thiên Tử thì thề sẽ lấy cho kỳ được hai nàng Kiều.
Du hỏi:
- Ông có nhớ bài phú ấy không?
Khổng Minh nói:
- Tôi thích lời văn hoa mỹ của bài ấy, nên cũng thuộc.
Du nói:
- Xin thử đọc cho nghe.
Khổng Minh đọc luôn bài phú, trong bài có mấy câu:
"Lập song đài ư tả hữu hề! Hữu Ngọc long dữ Kim phụng; lãm nhị kiều ư Đông Nam
hề! Lạc chiêu tịch chí dữ cộng".
(Nghĩa là: Dựng hai đài ở bên tả bên hữu, có đài Ngọc long, có đài Kim phụng. Nhốt
hai nàng Kiều bên Đông Nam; để sớm chiều cùng vui vầy.)
Chu Du nghe xong mấy câu ấy, đỏ mặt tía tai, đứng phắt dậy trỏ tay về phương Bắc
mà mắng rằng:
- Thằng giặc Tào này khinh ta quá chừng!
Khổng Minh vội ngăn lại, nói:
- Ngày xưa chúa rợ Hung nô hay xâm lấn bờ cõi, thiên tử nhà Hán còn phải đem công
đó là diệu kế.
Tuy nhiên cần chú ý rằng trong Tào Tháo có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân tài
tin cậy và nhân tài lợi dụng. Nhân tài tin cậy lả các trường hợp như Quan Vũ, Bàng
Thống… Ngoài ra một số cá nhân có giá trị lợi dụng thì Tào Tháo vẫn sủ dụng ở mức
độ nào đó. Như khi chiếm Kinh Châu, chuẩn bị tiến xuống Giang Nam, do phải huấn
luyện thủy quân nên Tào Tháo đã phong cho hai hàng tướng Kinh Châu là Sái Mạo,
Trương Doãn làm đô đốc thủy quân. Hay để khuất phục Đông Ngô, Tào tháo từng có
y nhờ Tưởng Cán dụ hàng chu Du.
4.3.2. Cơ trí, linh hoạt ứng biến.
Mệnh danh là nhân vật tuyệt gian, thế nhưng mư tri Tào Tháo trong trận Xích
Bích tỏ ra không nổi bật. Nếu có thì chỉ tập trung vào những nội dung đã trình bày ở
các phần trên. Trong tình huồng Khổng Minh hư trương thanh thế giữa sương mù dày
đặc, dù thạo đánh bộ nhưng Tào Tháo cũng giữ được bình tĩnh để đoán xét được lúc
có sương mù mà quân ập đến tất có mai phục. Thêm nữa là sự đa nghi của Tào Tháo
giúp ông nhận ra ngay thư của Hoàng Cái là kế trá hàng. Tuy nhiên nhìn nhận đến
phút cuối thì tào tháo vẫn mắc kế du đã có sự phòng bị.
4.3.3. Tự tin, giàu tinh thần lạc quan.
Tự tin chính là tâm lý chủ đạo của Tào Tháo trong đoạn trích, mức độ tự tin ở
đây đã vượt lên thành tự mãn và chủ quan, khinh địch. Suy nguyên về nguồn gốc chủ
quan đầu tiên chẳng qua là do Tào Tháo có môt lực lượng hùng mạnh tiến xuống
phương nam với khí thế áp đảo. Kế dến là do Tào tháo đã đầu tư luyện tập thủy quân
bằng một thuỷ trại tuyệt diệu khiến cả Chu Du kinh ngạc. Tiếp theo là Tào Tháo đã
24
đinh ninh là mình đã nắm bắt được thông tin nội bộ Chu Du thông qua hai tên gian tế
là Sái Trung và Sái Hòa . Đồng thời bên trong nội bộ Chu Du lại có Hoàng Cái- cựu
thần Đông Ngô sang hàng phục. Cuối cùng cái tự tin của Tào Tháo Được tôn thêm khi
được Bàng Thống hiến kế ghép tàu.
Chính vì có những tiền đề mang vẻ ngoài hết sức thuận lợi đó Tào Tháo đã tỏ
ra suy nghĩ kém thấu đáo, cùng với thái độ xem thường bản lĩnh của Khổng Minh,
Chu Du:
4.4.2. Nhân vật Lỗ Túc.
Là nhà ngoại giao mẫn cán là nhân vật quan trọng thúc đẩy quá trình hình
thành liên minh Tôn- Lưu.
Biết đánh giá nhân tài, xem trong Khổng Minh.
25