Tài liệu Luận văn: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam PVF - Pdf 10

Luận văn

Thực trạng và giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn tại Tổng công ty tài
chính cổ phần Dầu khí Việt
Nam PVF
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY 6
TÀI CHÍNH 6
1.1. CÔNG TY TÀI CHÍNH TRONG HỆ THỐNG KINH TẾ VIỆT
NAM 6
1.1.1 Khái niệm về công ty tài chính 6
1.1.2 Các hình thức của Công ty Tài chính 6
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN 7
1.2.1 Khái niệm 7

2.1.4.4 Dịch vụ tài chính cá nhân 39
2.1.4.5 Kinh doanh tiền tệ 39
2.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN TẠI PVFC 40
2.2.1 Tình hình sử dụng vốn của PVFC qua một số năm 40
2.2.1.1 Nhận định về các hoạt động sản xuất kinh doanh của PVFC . 40
2.2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2006 – 2008 48
2.2.2 Hiệu quả sử dụng VCĐ và VLĐ tại Tổng công ty Tài chính cổ
phần Dầu khí Việt Nam PVFC 52
2.2.2.1 Hiệu quả sử dụng VCĐ 52
2.2.2.2 Hiệu quả sử dụng VLĐ 54
2.2.3 Các vấn đề rủi ro PVFC hay gặp phải 56
2.2.3.1 Rủi ro về lãi suất 56
2.2.3.2 Rủi ro về tín dụng 56
2.2.3.3 Rủi ro về hoạt động đầu tư 57 2.2.3.4 Rủi ro về hoạt động ngoại hối 57
2.2.3.5 Rủi ro về Thanh khoản 57
2.2.3.6 Rủi ro về hoạt động 57
2.2.3.7 Rủi ro về Luật pháp 57
2.2.3.8 Các rủi ro khác 57
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN
DẦU KHÍ VIỆT NAM PVFC 61
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CỦA PVFC TRONG THỜI GIAN TỚI 61
3.2 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAP HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN TẠI PVFC 65
3.2.1 Tổ chức và thực hiện tốt công tác dự báo nhu cầu vốn kinh
doanh 65
3.2.2 Tận dụng tối đa năng lực sản xuất hiện có của TSCĐ vào hoạt


LỜI NÓI ĐẦU

Năm 2008 đánh dấu một năm đầy biến động với nền kinh tế Việt Nam
trong nhiều lĩnh vực do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng toàn cầu, ghi nhận
những biến động chưa từng có của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Để thực
hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng linh hoạt, Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) đã đưa ra rất nhiều biện pháp can thiệp hành chính đối với hệ thống
Ngân hàng Thương Mại (NHTM), đã có lúc lãi suất ngân hàng lên mức 24 -
25%/năm, lãi suất huy động cũng đạt đỉnh 20%/năm. Nhiều NHTM cho vay
cầm chừng, doanh nghiệp vay vốn khó khăn cả về lãi suất cao lẫn khả năng
tiếp cận vốn, tín dụng tiêu dùng gần như bị cắt bỏ, tốc độ tăng trưởng tín dụng
bước vào vùng thấp nhất trong năm. Các hoạt động trong lĩnh vực chứng
khoán cũng gặp không ít khó khăn khi lần đầu tiên thị trường chứng khoán
Việt Nam đã trải qua những diễn biến xấu nhất suốt hơn 8 năm đi vào hoạt
động và sau một thời gian dài phát triển quá nóng thì thị trường bất động sản
đã đóng băng và trải qua đợt sụt giảm về giá nhanh chóng.
Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam – PVFC, một trong
những công ty tài chính được xem là có thế lực nhất hiện nay cũng không
nằm ngoài tầm ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Kết thúc năm 2008, doanh
nghiệp này công bố đây là một năm làm ăn không thuận lợi và gặp nhiều rủi
ro của mình. Với các hoạt động đầu tư bị xemlà dàn trải vào các lĩnh vực như
bất động sản, chứng khoán, các dịch vụ tiêu dùng đã làm cho công ty rởi
vào tình trạng nợ quá hạn và nợ xấu tăng cao, tuy vẫn có lãi nhưng hiệu quả
sử dụng vốn chưa thực sự tốt.
Từ nhận định thu được trong quá trình tìm hiểu về Công ty về tình hình
sử dụng vốn, tôi quyết định chọn đề tài: “Thực ạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt

số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ
thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm.”

1.1.2 Các hình thức của Công ty Tài chính
Để tiện cho việc quản lý và điều tiết các hoạt động của Công ty Tài chính
trong thị trường tiền tệ, Công ty tài chính được chia ra thành các loại sau:
 Công ty Tài chính Nhà nước: là Công ty Tài chính do Nhà nước đầu tư
vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh.
 Công ty Tài chính cổ phần: là Công ty Tài chính do các tổ chức và cá
nhân cùng góp vốn theo quy định của pháp luật, được thành lập dưới
hình thức Công ty cổ phần.  Công ty Tài chính trực thuộc của tổ chức tín dụng: là Công ty Tài chính
do một tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ sở
hữu theo quy định của pháp luật, hạch toán độc lập và có tư cách pháp
nhân.
 Công ty Tài chính liên doanh: là Công ty Tài chính được thành lập
bằng vốn góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng,
doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ
chức tín dụng nước ngoài, trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
 Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài: là Công ty Tài chính được
thành lập bằng vốn của một hoặc của nhiều tổ chức tín dụng nước
ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN
1.2.1 Khái niệm
Tư bản (hay vốn) trong Kinh tế học là khái niệm để chỉ những vật thể
có giá trị, có khả năng đo lường được sự giàu có của người sở hữu chúng. Tư
bản là sở hữu về vật chất thuộc về cá nhân hay được tạo ra bởi xã hội. Tuy

nào của doanh nghiệp. Một cách tổng quan, “Vốn là toàn bộ giá trị tài sản
được dùng vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh
lời. ”

1.2.2 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, các doanh
nghiệp muốn đạt được hiệu quả trong hoạt động cần phải có những sản phẩm
tốt về chất lượng, mẫu mã, giá cả cạnh tranh, đồng thời doanh nghiệp cũng phải nắm bắt được nhu cầu luôn biến động của thị trường tiêu dùng để có
những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu đó. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp
phải có các nguồn lực tốt để tiến hành và duy trì hoạt động sản xuất kinh
doanh. Trong các nguồn lực cần thiết thì vốn được coi là nguồn lực quan
trọng nhất. Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có vốn để tiến hành sản
xuất, vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các
quyết định của các nhà quản lý. Thực tiễn cho thấy những doanh nghiệp có
quy mô vốn lớn sẽ áp dụng được Khoa học Công nghệ (KHCN), mua sắm
máy móc, xây nhà xưởng mới, tăng cường hoạt động Marketing do đó năng
suất lao động tăng lên, chất lượng hàng hoá được cải thiện ngày một tốt hơn,
từ đó tăng cường được khả năng cạnh tranh và tồn tại của doanh nghiệp. Điều
đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp nào có lượng vốn càng lớn thì càng có thế
chủ động trong kinh doanh và có lợi thế rất lớn trong môi trường cạnh tranh
đầy biến động của thị trường hiện nay. Do vậy, vốn xét trên phương diện hình
thái hiện vật và hình thái giá trị, là yếu tố quan trọng nhất trong mọi hoạt động
của doanh nghiệp.

1.2.3 Phân loại Vốn:
Do có vai trò quan trọng và thiết yếu trong qua trình hoạt động của các
doanh nghiệp nên việc phân loại vốn theo các hình thức khác nhau sẽ giúp

(4) cơ sở hạ tầng;
(5) tồn kho của tất cả các loại hàng hóa;
(6) các công trình công cộng;
(7) các công trình kiến trúc;
(8) nhà ở
(9) các cơ sở quân sự. Dựa vào chức năng tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế, 9 loại tài
sản trên được chia thành hai nhóm:
 Nhóm thứ nhất bao gồm 5 loại đầu. Những tài sản này được sử dụng
làm phương tiện trực tiếp phục vụ quá trình sản xuất và được gọi là tài
sản sản xuất. Trong đó, 4 loại tài sản từ (1) đến (4) được gọi là tài sản
cố định (vốn cố định), còn lại tài sản (5) được gọi là tài sản lưu động
(vốn lưu động). Tuy nhiên, trên thực tế trong các loại hàng tồn kho,
ngoài các loại nguyên, nhiên vật liệu dự trữ cho sản xuất còn có cả
những giá trị tài sản cố định chưa lắp đặt và thành phẩm chưa tiêu thụ,
vì vậy, cách hiểu ở đây chỉ mang ý nghĩa tương đối. Sự khác nhau trên
nguyên tắc về mặt kinh tế giữa tài sản cố định và tài sản lưu động là
tính chất sử dụng nhiều lần của tài sản cố định và tính chất sử dụng
được một lần của tài sản lưu động, từ đó thời hạn phục vụ của tài sản cố
định thường được quy định kéo dài hơn một năm, còn thời gian phục
vụ của tài sản lưu động là dưới một năm.
 Nhóm thứ hai bao gồm 4 loại cuối, đều có tính chất chung là không
tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, nên được gọi là tài sản phi sản
xuất (vốn phi sản xuất).
Vậy, vốn sản xuất là giá trị của những tài sản đựơc sử dụng làm
phương tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm
vốn cố định và vốn lưu động.
a) Vốn cố định:

 Theo hình thái biểu hiện: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
(1) TSCĐ hữu hình là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ thể
do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh. TSCĐ hữu hình bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,
thiết bị, dụng cụ quản lý. . . .
(2) TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác
định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt
động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng
khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn TSCĐ vô hình. TSCĐ vô hình chỉ
được thừa nhận khi xác định được giá trị của nó, thể hiện một lượng
giá trị lớn đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp, nó bao gồm quyền sử dụng đất, nhãn hiệu
hàng hoá, quyền phát hành, phần mềm máy tính, bản quyền sáng chế.
. . .
 Theo mục đích sử dụng: TSCĐ dùng cho sản xuất kinh doanh và TSCĐ
dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng:
(1) Tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh là những TSCĐ đang
dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản
xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp.
(2) TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi…là những TSCĐ không mang
tính chất sản xuất do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các hoạt động
phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo an ninh quốc phòng
 Theo hình thái sử dụng: TSCĐ đang dùng, TSCĐ chưa cần dùng,
TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý.
 Theo quyền sở hữu: TSCĐ tự có và TSCĐ đi thuê.
Tuy nhiên trong thực tế doanh nghiệp có thể kết hợp nhiều phương pháp phân
loại TSCĐ tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng thời kỳ.



 Dựa vào vai trò của VLĐ với quá trình sản xuất kinh doanh, VLĐ bao
gồm các loại sau
VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất:
(1) vốn nguyên vật liệu chính
(2) vốn vật liệu phụ
(3) vốn nhiên liệu
(4) vốn phụ tùng thay thế
(5) vốn vật đóng gói
(6) vốn công cụ dụng cụ nhỏ
VLĐ trong khâu trực tiếp sản xuất
(1) vốn sản phẩm đang chế tạo
(2) vốn về chi phí trả trước
VLĐ trong khâu lưu thông
(1) vốn thành phẩm
(2) vốn bằng tiền
Phương pháp này cho phép đánh giá kết cấu VLĐ theo vai trò, từ đó
giúp định hình đánh giá tình hình phân bổ VLĐ trong các khâu của quá trình
luân chuyển vốn, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích hợp
nhằm tạo ra một kết cấu VLĐ hợp lý, tăng được tốc độ luân chuyển VLĐ.
 Dựa vào quan hệ sở hữu về vốn: TSLĐ được tài trợ bởi hai nguồn đó là
vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. (vốn chủ sở hữu chỉ tài trợ một phần
cho nguồn VLĐ của doanh nghiệp)
(1) Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối, và định
đoạt về nguồn vốn đó, và tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ
sở hữu có nội dung cụ thể như Vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà Nước (NSNN), Vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, Vốn góp cổ phần trong

thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu VLĐ trong kinh doanh từ đó
xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của
mình.
TSLĐ là một nguồn tài sản của doanh nghiệp, thường có sự quay
vòng nhanh hơn nhiều so với TSCĐ. Việc quản lý TSLĐ là rất quan trọng
đối với doanh nghiệp.
Trong các doanh nghiệp người ta thường chia TSLĐ ra làm hai loại:
TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông. TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên,
nhiên, vật liệu; phụ tùng thay thế; bán thành phẩm. . .đang trong qua trình dự
trữ sản xuất hoặc sản xuất, chế biến. TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm
hoàn thành đang chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong
thanh toán, các khoản chi phí kết chuyển, chi phí trả trước. . . Trong quá trình
sản xuất kinh doanh các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận động
thay thế và chuyển hoá lẫn nhau đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh
được liên tục.
1.2.4 Các nguồn vốn của doanh nghiệp nói chung và của Công ty tài
chính nói riêng
1.2.4.1 Nguồn vốn của doanh nghiệp
 Nguồn vốn tự có của chủ doanh nghiệp: đây là khoản đầu tư ban đầu
khi thành lập doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, nguồn
vốn tự có là vốn đầu tư của NSNN. Đối với công ty cổ phần hoặc công
ty Trách nhiệm hữu hạn (Công ty TNHH), nguồn vốn ban đầu do các
cổ đông hoặc thành viên đóng góp để hình thành công ty. Đối với các Công ty cổ phần, vốn kinh doanh có thể huy động thêm từ việc phát
hành cổ phiếu. Công ty TNHH không thể phát hành cổ phiếu mà chỉ có
thể phát hành trái phiếu.
 Vốn vay: Ngoài phần vốn tự có của doanh nghiệp (vốn góp), thì nguồn
vốn vay có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh

tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và
các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước theo quy định của pháp luật hiện hành, tiếp nhận vốn uỷ thác
của Chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.

1.3 HIỆU QUẢ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

1.3.1 Hiệu quả và hiệu quả sử dụng vốn
Mục tiêu của các doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động sản xuất và
tham gia vào thị trường đó là tối đa hoá giá trị tài sản sở hữu (tối đa hoá lợi
nhuận). Một trong những điều quan trọng ảnh hưởng đến mục tiêu này đó
chính là “hiệu quả sử dụng vốn. ” Câu hỏi đặt ra là “hiệu quả sử dụng vốn là
gì?”
Để trả lời cho câu hỏi này, đầu tiên chúng ta đi xem xét vấn đề về hiệu
quả. Bất kỳ một hoạt động nào do con người tiến hành cũng đều có mục đích
rõ ràng và việc xem xét mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt được
được hiểu là “hiệu quả.” (ví dụ một người muốn xây đươc một cái nhà, kết
quả là cái nhà mà anh ta muốn, còn hiệu quả sẽ xem xét xem để có đươc nhà
anh ta mất bao nhiêu tiền, bao nhiêu thời gian? ) Trong sản xuất kinh doanh,
hiệu quả xem xét mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất đó. Về mặt định lượng, hiệu quả kinh tế là sự chênh lệch giữa
tổng lượng thu được và chi phí bỏ ra, sự chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả
càng cao và ngược lại.
Từ đó hiệu quả sử dụng vốn có thể được hiểu như sau: “Hiệu quả sử
dụng vốn là thước đo phản ánh tương quan so sánh giữa những chi phí về
vốn mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh để đạt được kết quả đó.”

thân, nâng cao hiệu quả đóng góp cho xã hội, làm tăng các khoản thu cho
NSNN.
Như vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn rất có ý nghĩa trong nền kinh
tế thị trường, không những mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp mà
còn ảnh hưởng trực tiếp đến sựu phát triển của toàn bộ nền kinh tế đất nước
nói chung.

1.3.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

1.3.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ

a) Hiệu suất sử dụng VCĐ
Là chỉ tiêu phản ánh cứ một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu
đồng Doanh thu (DT) hoặc doanh thu thuần (DTT) trong kỳ.
DTT trong năm
HSSDVCĐ =
Số VCĐ bình quân sử dụng trong năm
Trong đó số VCĐ bình quân trrong kỳ được tính bằng phương pháp
bình quân số VCĐ đầu kỳ và cuối kỳ như sau VCĐ đầu kỳ + VCĐ cuối kỳ
VCĐBQ trong kỳ =
2
Trong đó số VCĐ đầu kỳ (hoặc cuối kỳ) được tính
Số VCĐ đầu kỳ = Nguyên giá TSCĐ đầu kỳ - Số tiền khấu hao luỹ kế đầu kỳ
(cuối kỳ) (cuối kỳ) (cuối kỳ)

b) Hàm lượng VCĐ
Là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VCĐ. Nó phản

f) Tỷ suất đầu tư TSCĐ
Là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư vào TSCĐ trong tổng giá trị tài sản
của doanh nghiệp. Nói cách khác, trong một đồng giá trị tài sản của doanh
nghiệp có bao nhiêu đồng được đầu tư vào TSCĐ. Tỷ suất này càng lớn
chứng tỏ doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư vào TSCĐ.
Giá trị còn lại của TSCĐ
Tỷ suất đầu tư TSCĐ =
Tổng tài sản

1.3.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ

a) Tốc độ luân chuyển VLĐ
Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm VLĐ được biểu hiện trước hết ở tốc
độ luân chuyển VLĐ của doanh nghiệp nhanh hay chậm. VLĐ luân chuyển
càng nhanh thì hiệu suất sử dụng VLĐ của doanh nghiệp càng cao và ngược
lại.
Tốc độ luân chuyển VLĐ có thể được đo bằng hai chỉ tiêu Số làn luân
chuyển (số vòng quay vốn) và Kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng
quay vốn)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status