Lời nói đầu
Nớc ta từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) thực hiện chuyển đổi
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự
điều tiết của nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa, chấm dứt cơ chế quản lý
tập trung quan liêu bao cấp. Đây là môt sự biến đổi về chất, một bớc ngọăt có tính
quyết định đối với sự phát triển của đất nớc. Cơ chế thị trờng đã có sự tác động
mạnh đến nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói rêng. Trong nền
kinh tế này, các doanh nghiệp là những đơn vị kinh tế độc lập, cạnh tranh gay gắt
với nhau trên thị trờng, vốn trở thành nguồn lực quan trọng mà các doanh nghiệp,
các nhà quản trị doanh nghiệp phải quan tâm, tự bảo toàn và sử dụng để đem lại
hiệu quả cao trong sản xuất và kinh doanh .
Trớc tình hình đó nhiều doanh nghiệp thuộc khối quốc doanh hoạt động
không có hiệu quả, bộc lộ yếu kếm về mặt quản lý, cha thích ứng với cơ chế mới,
làm ăn thua lỗ đã bị phá sản hoặc đang đứng nguy cơ phá sản. Một số doanh
nghiệp khác thích ứng đợc cơ chế mới đã tồn tại và phát triển nhng hiệu quả sản
xuất cha cao, hoạt động vẫn còn mang tính chất chụp giật, chiếm dụng vốn lẫn
nhau, một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do sử dụng không hợp lý
nguồn vốn, làm ứ đọng và thất thoát các nguồn vốn, nhất là các nguồn vốn của nhà
nớc.
Vốn đối các doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng nh vậy, song không phải
bất cứ doanh nghiệp nào cũng sử dụng vốn có hiệu quả. Vì vậy vấn đề đặt ra cho
các doanh nghiệp bây giờ là phải khai thác tối đa hiệu quả của nguồn, các nhà
quản trị phải có chính sách bảo toàn và sử nguồn vốn sản xuất kinh doanh hợp lý
trong chiến lợc kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp mình. Là một sinh viên
chuyên nghành Quản Trị Kinh Doanh Thơng Mại, em thấy đây là một vấn đề bức
thiết. Vì vậy qua nghiên cứu lý luận cơ bản về tài chính doanh nghiệp và quá trình
thực tập tại Tổng Công Ty Rau Quả Việt Nam, em đã chọn đề tài:
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
ở Tổng Công Ty Rau Quả Việt Nam
Bài viết đợc kết cấu gồm ba phần:
Phần I: Hiệu quả sử dụng vốn - mối quan tâm lớn của doanh nghiệp .
vốn đợc giao và doanh nghiệp có trách nhiệm bảo toàn và phát triển số vốn đó.
Đối với các loại hình doanh nghiệp khác nh doanh nghiệp t nhân, công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Vốn sản xuất đ ợc hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau, có thể do một cá nhân hoặc nhiều ngời cùng góp.
Xét về mặt hình thái vật chất, vốn sản xuất bao gồm hai yếu tố nh là t liệu
sản xuất và đối tợng lao động. Hai yếu tố này cùng với sức lao động sẽ tạo ra sản
phẩm, dịch vụ. Trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ để có đợc yếu tố cần thiết cho
quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có lợng tiền vốn nhất định. Có tiền vốn,
doanh nghiệp mới có thể đầu t mua sắm các tài sản cần thiết cũng nh để trả lơng
cho ngời lao động. Sau khi tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp mới có tiền thu bán
hàng. Với số tiền này, doanh nghiệp phải giành ra một bộ phận để bù đắp lại tài
sản cố định đã bị hao mòn và một bộ phận dùng để dự trữ vật t cho quá trình sản
xuất kinh doanh tiếp theo.
Từ sự phân tích trên có thể rút ra vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
là biểu hiện bằng tiền của giá trị toàn bộ tài sản đợc sử dụng đầu t vào hoạt động
sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Quá trình sản xuất kinh doanh nghiệp đợc thực hiện liên tục, do vậy vốn sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng đợc vận động không ngừng, tạo ra sự tuần
hoàn và chu chuyển vốn. Trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì sự tuần
hoàn và chu chuyển vốn cũng khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, sự vận động của vốn nh sau:
T - H - Quá trình sản xuất - H - T.
Bắt đầu là hình thái tiền tệ (T) sang hình thái hàng hoá (H) (T liệu lao
động, đối tợng lao động) qua quá trình sản xuất chuyển sang hình thái hàng hoá
(H) sản phẩm lao động dịch vụ và cuối cùng trở về hình thái tiền tệ với số vốn lớn
hơn số vốn đã ứng ra ban đầu, phần chênh lệch này chính là lợi nhuận, đợc sáng
tạo ra ở khâu sản xuất, đợc thực hiện ở khâu tiêu thụ (H - T).
Khác với doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thơng mại chỉ thực hiện chức
năng mua và bán. Do đó, vốn trong các doanh nghiệp này chỉ vận động qua 2 giai
đoạn T - H T. ở giai đoạn I, vốn từ hình thái tiền tệ chuyển thành hàng hoá dự
trong sản xuất của mỗi doanh nhiệp là khác nhau. Trên cơ sở nhu cầu thị trờng đối
với sản phẩm trong từng thời kỳ và trên cơ sở các tiến bộ khoa học kỹ thuật, mỗi
doanh nghiệp có kế hoạch đúng đắn trong việc mua sắm, đầu t trang thiết bị, đảm
bảo hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn cố định cho sản xuất .
Quản lý vốn cố dịnh bao gồm quản lý cả về mặt hiện vật và giá trị. Về mặt hiện
vật, vốn cố định bao gồm toàn bộ những tài sản cố định đang phát huy tác dụng
trong quá trình sản xuất (nhà xởng, thiết bị máy móc ) vốn cố định tham gia trực
tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh. Sau mỗi chu kỳ hình thái hiện vật của vốn
cố định không thay đổi nhng giá trị giảm dần do giá trị của vốn cố định đợc
chuyển dần vào giá trị của sản phẩm dới hình thức khấu hao
2.2.Cơ cấu vốn cố định.
Việc nghiên cứu vốn cố định có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá
trình quả lý và sử dụng vốn. Khi nghiên cứu vốn cố đinh phải nghiên cứu trên hai
góc độ: nội dung cấu thành và mối quan hệ tỷ lệ trong mỗi bộ phận so với toàn
bộ. Vấn dề cơ bản là phải xây dựng đợc một cơ cấu vốn hợp lý phù hợp trình độ
phát triển khoa học kỹ thuật, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất, trình độ quản
lý để các nguồn vốn đợc sử dụng hợp lý và có hiệu quả nhất. Cần lu ý rằng quan
hệ tỷ trọng trong cơ cấu vốn là chỉ tiêu động, điều này đòi hỏi cán bộ quản lý phải
không ngừng nghiên cứu tìm tòi để có đợc cơ cấu vốn tối u.
Theo chế độ hiện hành, vốn cố định của doanh nghiệp đợc biểu hiện thành
hình thái giá trị của các loại tài sản cố định sau đây đang dùng trong quá trình sản
xuất:
- Nhà cửa vật đang dùng cho các phân xởng sản xuất và quản lý.
- Vật kiến trúc để phục vụ sản xuất và quản lý.
- Thiết bị động lực.
- Hệ thống chuyền dẫn.
- Máy móc, thiết bị sản xuất.
- Dụng cụ làn việc, đo lờng, thí nghiệm
- Thiết bị phơng tiện vận tải
- Dụng cụ quản lý
do ảnh hởng của điều kiện tự nhiên hay do quá trình hoá học xảy ra bên trong
cũng nh việc trông nom bảo quản tài sản cố định không đợc chu đáo.
Có nhiều nhân tố ảnh hởng đến hao mòn hữu hình của tài sản cố định, có
thể chia làm 3 nhóm sau:
Nhóm những nhân tố thuộc về chất lợng chế tạo nh: vật liệu dùng để sản
xuất ra tài sản cố định, trình độ và công nghệ chế tạo, chất lợng xây dựng lắp
ráp
Nhóm những nhân tố thuộc về quá trình sử dụng nh mức độ đảm nhận về
thời gian và cờng độ sử dụng, trình độ tay nghề của công nhân, chế độ bảo quản,
bảo dỡng sửa chữa
Nhóm những nhân tố ảnh hởng của tự nhiên nh độ ẩm, không khí, thời
tiết
- Hao mòn vô hình có 3 hình thức:
Tài sản cố định bị giảm giá trị do năng suất lao động xã hội tăng lên, ngời
ta sản xuất ra các loại tài sản cố định có chất lợng nh cũ nhng có giá thành
thấp hơn.
Tài sản cố định bị giảm giá trị do sản xuất đợc loại tài sản cố định khác
hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật.
Tài sản cố định bị giảm giá trị do sản phẩm của nó làm ra bị lỗi thời
Nh vậy, hao mòn vô hình do tiến bộ KH - KT gây ra. Trong quá trình sử dụng,
doanh nghiệp cần phải nghiên cứu để tìm ra những biện pháp nhằm giảm tối đa
những tổn thất do hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình gây ra nh: Nâng cao trình
độ sử dụng tài sản cố định, sử dụng phơng pháp khấu hao càng nhanh càng tốt, cải
tiến và hiện đại hoá máy móc thiết bị, tổ chức tốt công tác bảo đảm sửa chữa nâng
cao trình độ lành nghề và ý thức làm chủ của công nhân.
2.3.1.2. Khấu hao tài sản cố định.
Tài sản cố định đợc sử dụng nhiều trong chu kỳ sản xuất, giá trị của nó hao
mòn dần và chuyển dịch từng phần vào giá trị của sản phẩm làm ra. Phần giá trị
này đợc thu hồi lại dới hình thức khấu hao, đợc hạch toán vào giá thành sản phẩm
để hình thành quỹ khấu hao, đáp ứng nhu cầu sửa chữa lớn, cải tạo, đổi mới tài sản
một cách giả tạo, ảnh hởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3.1.3. Các ph ơng pháp tính khấu hao tài sản cố định.
- Phơng pháp khấu hao đờng thẳng.
Nội dung của phơng pháp này nh sau:
+ Căn cứ vào quy định trong chế độ này, doanh nghiệp xác định thời gian sử
dụng của tài sản cố định và đăng ký với cơ quan tài chính trực tiếp quản lý. Xác
định mức khấu hao trung bình hàng năm cho tài sản cố định theo công thức nh
sau:
Nguyên giá của tài sản cố định
Mức trích khấu hao trung bình hàng năm
Của tài sản cố định = - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
Thời gian sử dụng
Mức khấu hao Mức khấu hao bình quân Bình
quân tháng = ----- - - - - - - - - - - - - -
12
Phần lớn các loại tài sản cố định đợc đa vào sử dụng để quy định rõ thời gian
sử dụng tối đa. Trờng hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của tài sản cố định
thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức khấu hao trung bình của tài sản cố
định bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia cho thời gian sử dụng, xác
định lại thời gian sử dụng còn lại của tài sản cố định.
Để đơn giản cho cách tính toán thì tài sản cố định tăng (hoặc giảm) trong
tháng thì tháng sau mới tính (hoặc thôi tính) khấu hao. Vì thế, số khấu hao của các
tháng chỉ khác nhau khi có biến động về tài sản cố định. cụ thể:
Số khấu hao Số khấu hao Số khấu hao Số khấu hao
Phải tính trong = đã tính + tăng + giảm
tháng trong tháng trong tháng trong tháng
Việc tính khấu hao tài sản cố định đợc thực hiện trên bảng tính và phân bổ
khấu hao tài sản cố định.
- Phơng pháp theo sản lợng.
Phơng pháp này cố định khấu hao trên một đơn vị sản lợng nên muốn thu hồi
phơng pháp khấu hao cho các báo cáo tài chính, điều cần quan tâm chủ yếu là
chọn một phơng pháp kết hợp giữa chi phí (của việc sử dụng tài sản cố định) với
thu nhập mà chi phí đó tạo ra trong kỳ.
Cách tính:
Chi phí Tổng giá vốn của Tỷ lệ Tỷ lệ thời gian
Khấu = TSCĐ đợc xem x khấu hao giảm x Sử dụng TSCĐ
Hao nh chí phí theo năm trong năm
- Phơng pháp số d giảm dần
Phơng pháp này cũng là một phơng pháp khấu hao nhanh, phơng pháp này
cũng thích hợp với việc đánh giá thu nhập trong các trờng hợp tài sản đóng góp
vào việc tạo ra thu nhập trong các năm đầu nhiều hơn các năm sau.
Cách tính:
Chi phí Giá Tổng Tỷ lệ thời gian
Khấu hao = ghi sổ x số d x trong năm
TSCĐ luc đầu kỳ giảm dần TSCĐ đợc sử dụng
Giá trị ghi sổ đợc định nghĩa nh số d đợc phản ánh trên bảng tổng kết tài sản,
có nghĩa là giá vốn (Tài khoản tài sản) trừ cho số d của tài khoản khấu hao tích
luỹ. Giá vốn của tài sản đợc xác định bằng cách cộng giá mua với chi phí chuyên
chở và chi phí lắp đặt. Theo phơng pháp này giá vốn còn lại của TSCĐ không đợc
phép thấp hơn giá trị còn lại 2000 USD.
2.3.2. Kế hoạch khấu hao tài sản cố định.
Khấu hao tài sản cố định là một bộ phận quan trọng của kế hoạch tài chính.
Kế hoạch khấu hao tài sản cố định phản ánh các chỉ tiêu giá trị của tài sản cố định
nh: tổng giá trị tài sản cố định có đầu kỳ, tình hình tăng giảm tài sản cố định trong
năm kế hoạch, xác định tổng giá trị bình quân của tài sản cố định cần tính khấu
hao mức khấu hao trong năm và tình hình phân phối quỹ khấu hao.
Trong khi lập quỹ khấu hao cần xác định rõ:
* Tài sản cố định đã trích khấu hết nhng vẫn còn sử dụng đợc, doanh nghiệp
vẫn tiếp tục trích khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn theo tỉ lệ nguyên giá
khỏi những biến động về giá, lạm phát Xu thế này th ờng có chiều hớng gia tăng,
làm cho sức mua của đồng tiền và giá trị của tiền vốn giảm xuống so với thực tế.
Mặt khác, do sự lỏng lẻo trong quản lý thị trờng dẫn đến hiện tợng h hỏng mất mát
tài sản cố định trớc thời hạn. Cả hai nguyên nhân này làm cho giá trị của đồng vốn
giảm đi tơng đối so với thực tế và giảm tuyệt đối so với thời gian sử dụng.
Theo điều 2 của Quyết định 332 HĐBT qui định doanh nghiệp Nhà nớc có
trách nhiệm bảo toàn và phát triển cả về tiền mặt hiện vật và giá trị.
Bảo toàn về mặt hiện vật không có nghĩa là Nhà nớc bắt buộc doanh nghiệp
giữ nguyên hình thái vật chất của tài sản cố định. Cụ thể, trong quá trình sử dụng
tài sản cố định và sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ, không
làm mất mát tài sản cố định không làm h hỏng trớc thời hạn, duy trì, nâng cao
năng lực của tài sản cố định. Doạnh nghiệp có quyền chủ động thực hiện đổi mới,
thay thế tài sản cố định theo yêu cầu đổi mới công nghệ. Phát triển và nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh
Bảo toàn về mặt giá trị có nghĩa là trong điều kiện có biến động lớn về giá trị
của các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh các qui định của nhà nớc về
điều chỉnh nguyên giá taì sản cố định theo hệ số nhất định lại đợc cơ quan có thẩm
quyền công bố nhằm bảo toàn giá trị tài sản cố định. Đồng thời phải sử dụng đúng
mục đích và có sự kiểm tra của nhà nớc đối với việc sử dụng vốn thu hồi, nhọng
bán và thanh lý tài sản cố định.
Nội dung của chế độ bảo toàn vốn và phát triển vốn cố định:
* Các doanh nghiệp xác định đúng nguyên giá của tài sản cố định trên cơ sở
tính đúng , tính đủ khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn để tạo nguồn thay
thế và duy trì năng lực sản xuất của tài sản cố định, bảo toàn vốn cố định.
* Hằng năm các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền sẽ công bố hệ số điều
chỉnh giá trị tài sản cố định vào ngày 1 tháng 1và ngày 1 tháng 7 phù hộp với đặc
điểm cơ cấu hình thành tài sản cố định của từng ngành kinh tế kỹ thuật làm căn cứ
thống nhất để các doanh nghiệp điều chỉnh tăng giá trị tài sản cố định, vốn cố
định.
* Ngoài việc bảo toàn vốn cố định trên cơ sở hệ số trợt giá, doanh nghiệp
dụng vốn. Vì vậy, doanh nghiệp thờng tìm cách rút ngắn chu kỳ vận động của vốn.
3.2. Cơ cấu của vốn lu động.
Xác định cơ cấu vốn lu động hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong công tác quả
lý vốn lu động. Nó đáp ứng yêu cầu về vốn cho từng khâu, từng bộ phận, đảm bảo
cho việ sử dụng tiết kiệm, hợp lý vốn lu động trên cơ sở đó đáp ứng đợc yêu cầu
sản suất kinh doanh trong điều kiện thiếu vốn cho sản xúât.
Cơ cấu vốn lu động là tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành vốn lu động và mối
quan hệ giữa các bộ phận đó. Tỷ lệ giữa các bộ phận trong toàn bộ vốn lu động
hợp lý thì chỉ hợp lý tại một thời điểm nào đó. Vì vậy trong quản lý phải thờng
xuyên nghiên cứu xây dựng một cơ cấu vốn thích hợp, đáp ứng yêu cầu sản xuất
trong từng thời kỳ, đánh giá cơ cấu về mặt giá trị của từng bộ phận vốn lu động
hay tổng vốn lu động. Để thuân lợi cho việc quản lý, ngời ta thừng phân loại vốn l-
u động bằng một số cách sau.
Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển của vốn lu động:
. Vốn dự trữ: là loại vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, dự
trữ để đa vào sản xuất.
Vốn trong sản xuất: là loại vốn phục vụ trực tiếp cho giai đoạn sản xuất nh
sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi phí chờ phân bố
Vốn lu thông : là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lu thông nh
thành phẩm, vốn bằng tiền
Căn cứ vào phơng pháp xác định :
* Vốn định mức là vốn lu động mức tối thiểu cần thiết cho sản xuất kinh
doanh, bao gồm vốn dự trữ vốn trong sản xuất, sản phẩm trong hàng hoá ngoài
dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật t thuê ngoài chế biến
* Vốn lu thông không định mức: là vốn lu thông có thể phát sinh trong quá
trình sản xuất nhng không có căn cứ tính toán xác định nh thành phẩm trong đờng
gửi đi
Căn cứ vào nguồn vốn lu động :
* Vốn lu động tự bổ sung : là vốn lu động mà doanh nghiệp tự bổ sung lợi
nhuận, các khoản tiền phải trả nh tiền lơng, tiền nhà
điều chỉnh giá thì mức vốn đó đợc Nhà nớc xác nhận và bổ sung kịp thời.
Trong quá trình sử dụng, doanh nghiệp phải thờng xuyên duy trì chế độ bảo
toàn và phất triển vốn nhất là trong nền kinh tế thị trờng có nhiều biến động phức
tạp. Để xác định vốn lu động định mức kỳ kế hoạch, doanh nghiệp phải lần lợt tính
toán vốn lu động ở từng khâu (dự trữ, sản xuất lu thông) và đối với từng loại
(nguyên vật liệu chính nguyên vật liệu phụ ) sau đó tổng hợp thành vốn l u động
định mức kỳ kế hoạch.
- Vốn lu động định mức ở khâu dự trữ.
Việc xác định mức vốn lu động ở khâu dự trữ cần phải kết hợp chặt chẽ kế
hoạch thu mua vật liệu và dự toán chi phí sản xuât của doanh nghiệp. Vốn lu động
định mức tính toán căn cứ vào mức luân chuyển kế hoạch và số ngày dự trữ. Mức
luân chuyển ngày đợc tính bằng cách lấy mức luân chuyển kế hoạch và định mức
số ngày dự trữ. Mức luân chuyển ngày đợc tính bằng cách lấy mức luân chuyển cả
năm chia cho 360 ngày.
Định mức số ngày dự trữ đợc xác định nh sau :
Đối với nguyên vật liệu nhập khẩu (Nhà nớc đọc quyền quản lý ), định mức
số ngày đợc cơ quan cấp trên qui định trớc cho doanh nghiệp .
Đối với nguyên vật liệu mua trong nớc:
Định mức Số ngày cách Hệ số Số ngày Số ngày Sốngày
số ngày = nhau giữa 2 x thu mua + chỉnh lý + bảo + vận
dự trữ lần mua xen kẽ chuẩn bị hiểm chuyển
Vốn lu động định mức ở khâu sản xuất.
Phần vốn ở khâu sản xuất tham ra trực tiếp vào quá trình tạo nên sản phẩm, cho
nên vốn lu động ở khâu này phải đợc xác định riêng cho từng loại sản phẩm dở
dang, bán thành phẩm tự chế và chi phí chờ phân bổ.
Định mức VLĐ Mức luân chuyển cả năm hệ số Chu kỳ
cho sản phẩm = của thành phẩm theogiá :360 x sản phẩm x Sxuấtdởdang
thành công xởng dở dang Sphẩm
Định mức VLĐ Mức luân chuyển cả năm Định mức Hệ số
cho nửa thành = của thành phẩm theogiá : 360 x ngày x tphẩm
vốn lu động năm trớc và nhu cầu về vốn trong năm kế hoạch.
Nếu năm trớc doanh nghiệp đã sản xuất bình thờng thì năm kế hoạch chỉ
cần lập nguồn vốn lu động nhằm tính ra mức thừa hoặc thiếu về định mức năm kế
hoạch, trớc hết đợc bù đắp bằng vốn lu động tự có và coi nh tự có từ năm trớc. So
sánh nhu cầu vốn trong năm kế hoạch có thể xảy ra 3 khả năng sau :
-Thừa vốn .
-Thiếu vốn .
-Đủ vốn .
Trong trờng hợp thừa vốn doanh nghiệp cần ghi vào kế hoạch số vốn
thừa để có biện pháp sử dụng hợp lý.
Trong trờng hợp thiếu vốn, để duy trì đợc sản xuất doanh nghiệp cần có kế
hoạch huy động thêm từ các nguồn vốn để phục vụ cho nhu cầu sản xuất nh nguồn
vốn ngân sách, nguồn vốn tự bổ sung
Nhìn chung trong tình trạng hiện nay, các doanh nghiệp đều thiếu vốn gay gắt
cho hoạt động sản xuất. Do đó việc lập kế hoạch nguồn vốn lu động là hết sức
quan trọng. Một cấu trúc vốn hợp lý không những đáp ứng đợc nhu cầu của sản
xuất kinh doanh mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
3.3.3. Bảo toàn và phát triển vốn l u động
Để duy trì và phát triển vốn sản xuất, bên cạnh việc bảo toàn và phát triển
vốn cố định doanh nghiệp còn phải bảo toàn và phát triển vốn lu động
Do đặc điểm chu chuyển toàn bộ một lần của vốn lu động và giá thành sản
phẩm và hình thái của vốn lu động thờng xuyên biến đổi, nên theo điều 3 quyết
định 332 HĐBT qui định : Doanh nghiệp Nhà nớc chịu trách nhiệm bảo toàn
vốn lu động về mặt giá trị.
Bảo toàn vốn lu động về mặt gía trị thực chất là giữ nguyên đợc giá trị thực tế
hay sức mua của vốn, thể hiện ở khả năng mua sắm vật t cho khâu dự trữ và TSLĐ
định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Trong quá
trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải thờng xuyên hạch toán đúng giá
trị thực tế của vật t hàng hoá theo mức tăng (giảm ) giá cả thị trờng nhằm tính
đúng, đủ chi phí vật t hàng hoá vào thành phẩm, giá vốn hàng hoá và chi phí lu
xuyên sản xuất các sản phảm hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp. Vốn lu động
dùng để đầu t tài sản lu động, mua sắm nguyên vật liệu trả tiền cho cán bộ công
nhân viên
Vấn đề sử dụng vốn có hiệu quả hay không, ngời ta dựa vào mức độ đạt đợc
của mục đề ra.
- Nhóm các mục tiêu kinh tế.
- Nhóm các mục tiêu xã hội.
Cả hai nhóm mục tiêu này xét đến cùng vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy xét
về lợi nhuận kinh tế. Thì lợi nhuận cực đại là bao trùm và tổng quát nhất. Tuy
nhiên theo từng giai đoạn mà doanh nghiệp có một hoặc một số mục tiêu khác
nhau.
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn vốn, nguồn lực của doanh nghiệp để đạt đ ợc kết quả cao nhất trong quá
trình kinh doanh với tổng chi phí thhấp nhất.
Để đánh giá chính xác có cơ sở khoa học hiêu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêuphù hợp, cả chỉ tiêu tổng hợp và chỉ
tiêu chi tiết. Các chỉ tiêu đó phải phản ánh đợc sức sản xuất, suất hao phí và sức
sinh lời của từng loại vốn.
Công thức đánh giá hiệu quả chung:
Kết quả đầu ra đợc đo bằng các chỉ tiêu nh: giá trị tổng sản lợng, tổng doanh
thu thuần, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp , còn yếu tố đầu vào bao gồm lao động,
vốn chủ sở hữu và vốn vay
Công thức này phản ánh mức sản xuất (hay mức sinh lợi) của các chỉ tiêu
đầu vào, đựơc tính cho tổng số và cho riêng phần ra tăng.
Hiệu quả kinh doanh còn đợc tính theo công thứcsau:
Công thức này phản ánh xuất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có
một đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết mấy đơn vị chi phí (hoặc vốn) ở đầu vào.
2.1-Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dụng vốn cố định.
Hiệu quả sử vốn cố định đợc đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu, nhng phổ biến là
- Hiệu quả sử dụng =
vốn lu động Vốn lu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lu động có thể tạo ra bao nnhiêu đồng
doanh thu thuần.
Lợi nhuận thuần
Mức doanh lợi =
vốn lu động Vốn lu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận trong kỳ.
Nh chúng ta đã biết trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lu động vận động
không ngừng, thờng xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất (dự trữ -
sản xuất tiêu thụ). Đẩy nhanh tốc độ của vốn lu động sẽ góp phần giải quyết
nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để
xác định tốc độ luân chuyển của vốn lu động, ngời ta thờng sử dụng các chỉ tiêu
sau:
Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ
Số vòng quay của =
vốn lu động vốn lu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết vốn lu động quay đợc mấy vòng trong kỳ, nếu số vòng
quay tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngợc lại.
360 ngày
Kỳ luân chuyển =
Số vòng quay của vốn lu động trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện, số ngày càn thiết cho vốn lu động quay đợc một vòng.
Thời gian một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn. Hiệu
quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiệm đợc càng nhiều.
Vốn lu dộng bình quân trong kỳ
Hiệu quả đảm nhiệm =
vốn lu động Tổng doanh thu thuần
nghiệp sản xuất hay kinh doanh sản phẩm nông nghiệp thì có đặc trng rõ nét là
nhu cầu vốn thay đổi theo mùa. Các doanh nghiệp công nghiệp nhẹ thì nguồn vốn
lu động chiếm một vai trò quan trọng và nhu cầu thờng ổn định theo thời gian.
3.3. Quy mô doanh nghiệp.
Hiển nhiên là doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì lợng vốn cần thiết cho nó
càng nhiều. Tuy nhiên vốn đợc sử dụng nh thế nào lại biến đổi theo quy mô doanh
nghiệp. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn đợc sử dụng chủ yếu phục vụ trực
tiếp cho sản xuất ra sản phẩm. Khi quy mô doanh nghiệp lớn dần thì tỷ trọng vốn
giành cho bộ phận gián tiếp và các hoạt động phí sản xuất cũng tăng theo, nhiều
công ty lớn trên thế giới đã đầu t một khoản chi phí đáng kể cho tiếp thị, quảng
cáo. Nếu chỉ xét riêng tới bộ phận sản xuất sản phẩm thì việc tăng quy mô đồng
nghĩa với tăng hiệu quả sử dụng vốn. Việc tăng quy mô của dự trữ hay bán thành
phẩm, đẩy nhanh tốc độ khấu hao tới sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
3.4. Chính sách kinh doanh.
Hơn ai hết chính bản thân doanh nghiệp chính là ngời quyết định vốn của mình
sẽ đợc sử dụng vốn nh thế nào. Để thâm nhập vào một thị trờng lớn hay để gia
tăng thị phần trong thị trờng truyền thống, một Công ty có thể tung ra một lợng
vốn để quảng cáo, tiếp thị. Bán chịu hay phá giá sản phẩm của mình. Nhiều doanh
nghiệp đã sẵn sàng chịu những khoản lỗ đáng kể để giành đợc thị trờng. Hiện tợng
này đã diễn ra ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam, chiến thắng cuối cùng sẽ thuộc
về ai nhiều vốn hơn. Ngợc lại nếu mục đích của doanh nghiệp là nâng cao lợi
nhuận, thì doanh nghiệp sẽ xem sét toàn bộ các khsâu từ đầu vào tới đầu ra để có
thể nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình lên mức tối đa. Doanh nghiệp
cũng có thể sử dụng đòn bẩy tài chính (dùng vốn vay kết hợp với vốn tự có) để tối
đa hoá tỷ suất lợi nhuận cho lợng vốn của mình bỏ ra.