Chuyên đề tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta sau hai mươi lăm năm đổi mới đã gặt hái được những kết
quả đáng ghi nhận, được bạn bè thế giới đánh giá cao. Những thành công đó đã
khẳng định tính chất đúng đắn con đường cải cách mà Đảng đã lựa chọn, khởi
xướng, đã cho phép chúng ta tin tưởng vào khả năng “cất cánh” của Việt Nam
trong tương lai. Tuy nhiên, vì mức khởi điểm xuất phát ban đầu của chúng ta quá
thấp nên để có thể đẩy nhanh sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, mở rộng đầu tư
và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong tiến trình hội nhập khu
vực và quốc tế thì chúng ta còn cần rất nhiều vốn, nhu cầu về vốn đang được đặt
lên hàng đầu.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng đã chỉ rõ: “Trong
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo đường lối mới, Đảng và Nhà
nước chủ trương huy động mọi nguồn vốn trong nước và ngoài nước để đầu tư
phát triển, trong đó vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn ngoài nước có ý
nghĩa quan trọng, kết hợp tiềm năng sức mạnh bên trong với khả năng có thể
tranh thủ bên ngoài”. Đại hội Đảng lần thứ IX, X Đảng ta tiếp tục khẳng định:
“Nhà nước có chính sách động viên các nguồn lực trong nước là chính và tranh
thủ tối đa nguồn lực ngoài nước, mở rộng đầu tư tín dụng, góp phần giải phóng
mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế…”.
Nội dung trên đã khẳng định nhu cầu to lớn về vốn đối với nền kinh tế, đồng
thời chỉ rõ tầm quan trọng của các nguồn vốn trong nước và quốc tế.
Thực tế, trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay, có rất nhiều chủ thể, thông
qua các con đường khác nhau có khả năng cung cấp dẫn vốn đáp ứng nhu cầu về
vốn. Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận được là huy động vốn qua các
trung gian tài chính - Ngân hàng thương mại (NHTM) - là kênh quan trọng nhất,
có hiệu quả nhất vì trong nền kinh tế, NHTM được coi là trung gian tài chính lớn
nhất quan trọng nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của đề tài, sau một thời
gian thực tập và nghiên cứu tại Chi nhánh NHNo&PTNT Đống Đa, với mong
Lớp: TN1C
nghiệp hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng”. Theo cách tiếp
cận trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì
“NHTM là một loại hình tổ chức tài chính, cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện
nhiều chức năng về tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức nào trong nền kinh
tế”. Theo luật tổ chức tín dụng có hiệu lực từ tháng 10/1998, NHTM được định
nghĩa như sau:
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mở hoạt động chủ yếu và thường
xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số
tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
1.1.2 Hoạt động của NHTM
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cung cấp vốn cho
nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân
hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song ngân
hàng vẫn duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau:
Lớp: TN1C
3
Chuyên đề tốt nghiệp
a, Nghiệp vụ huy động vốn:
Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng, hoạt
động của ngân hàng. Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác
nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá. Mặt
khác, trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay phục
vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa
phương và cả nước. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng,
tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao,các ngân hàng chủ động trong hoạt động
kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức
dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó các ngân hàng thương mại
phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước của địa
phương từ đó đưa ra các loại hình huy động phù hợp nhất là các nguồn vốn
loạt các nhân tố cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó là tính an toàn. Nghề
ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của mình
ngân hàng không thể bỏ qua sự “an toàn”. Vì thế, ngoài việc cho vay và đầu tư
để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy
động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định
về dự trữ bắt buộc do Trung ương đề ra.
c, Nghiệp vụ khác
Là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những
lợi thế đó là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng
hóa dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí ngân
hàng đưa cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc,
ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết
nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Mặt khác, các ngân hàng
thương mại còn tiến hành môi giới, mua bán chứng khoán cho khách hàng và
làm đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty. Ngoài ra ngân hàng còn thực
hiện các dịch vụ ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, uy thác giải
ngân và thu hộ.
Lớp: TN1C
5
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3 Các hình thức huy đông vốn của NHTM
Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội để hoạt động là quan
trọng nhất đối với các NHTM, đặc biệt là các ngân hàng có quy mô lớn. Từ thập
niên 60 đến nay, khi chế độ lãi suất trả cho tiền gửi được thả nổi linh hoạt, tài
sản nợ trở nên đa dạng và sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng thương mại
với nhau trong việc tìm kiếm vốn hoạt động đã dần dần hướng các ngân hàng
chú ý đến sự giao động của tài sản nợ. Từ thập niên 60 trở đi thì với sự phát triển
nhanh của các thị trường tài chính liên quốc gia, đã có rất nhiều loại tài sản có
lợi tức ổn định và thanh khoản cao được mở ra trước mắt các ngân hàng ở các
nước phát triển. Cho nên, vấn đề khó khăn không còn là đầu tư vào đâu mà là
trong các ngân hàng.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận giữa người gửi
tiền và ngân hàng về số lượng, kỳ hạn lãi suất của khoản tiền gửi. Do có sự xác
định rõ ràng về kỳ hạn nên nguồn tiền gửi có kỳ hạn là nguồn tiền gửi có sự ổn
định cao, ngân hàng có thể sử dụng để cho vay với thời hạn tương ứng hoặc có
thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung dài hạn. Chính vì lý
do này mà lãi suất của các khoản tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn nhiều lãi
suất của các khoản tiền gửi không kỳ hạn. Bởi vì mục đích chính của việc gửi
tiền vào ngân hàng là tiền lãi. Thông thường thì lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn,
tức là khoản tiển gửi càng lâu thì lãi suất càng cao và ngược lại.
1.1.3.1.2 Phân loại theo tiêu thức nguồn hình thành.
- Các khoản ký gửi của các cá nhân và tổ chức là các khoản tiền mà họ
trực tiếp chuyển vào ngân hàng: Cá nhân gửi tiền tiết kiệm, doanh nghiệp nộp
tiền bán hàng... Đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế được
ngân hàng tập trung lại. Các cá nhân và tổ chức thường gửi tiền với mục đích và
kỳ hạn khác nhau. Cá nhân gửi tiền thường với mục đích là để hưởng lãi còn
mục đích của các doanh nghiệp thường là để sử dụng các dịch vụ của ngân hàng.
- Tín dụng tạo tiền gửi: Đây cũng là một hình thức nhận tiền gửi, khi ngân
hàng cho khách hàng vay tiền thì Ngân hàng chuyển số tiền này vào tài khoản
tiền gửi của khách hàng ngay trong ngân hàng. Khi khách hàng chưa có nhu cầu
Lớp: TN1C
7
Chuyên đề tốt nghiệp
rút tiền ngay lập tức thì ngân hàng có thể sử dụng số tiền đó mặc dù với thời hạn
rất ngắn.
1.1.3.1.3 Phân loại theo tiêu thức mục đích sử dụng
- Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản ký gửi của các cá nhân với mục
đích là tìm kiếm một khoản thu nhập. Thường thì mỗi khoản tiền gửi tiết kiệm
có khối lượng nhỏ, thời hạn ngắn. Những người gửi tiền tiết kiệm là những đối
tượng giảm chi tiêu trong hiện tại với hy vọng là sẽ tăng được chi tiêu trong
họ có thể nhận loại chứng thư này, nhưng chứng thư loại này không có những
đơn vị quá nhỏ bằng tiền mặt.
Khi ngân hàng thương mại phát ra chứng thư này, nó hướng tới việc vay
tiền của thị trường, của nhân dân và chứng thư là giấy xác nhận khoản vay này.
Đồng thời trên chứng thư có ghi rõ thời hạn sẽ trả lại tiền mặt (6 tháng, 1 năm...)
và lãi xuất người cho vay được hưởng. Đến ngày đáo hạn cuối cùng, người sở
hữu chứng thư đem nộp nó cho ngân hàng đã phát hành để nhận lại cả vốn theo
giá trị bề mặt và tiền lời.
Loại chứng thư này ở các nước công nghiệp thường có thời gian đáo hạn
không quá 6 tháng kể từ ngày phát hành. Với thời gian ngắn và tính chất được sử
dụng, chấp nhận không khác gì Séc hay tiền mặt, trong khi nó có lãi suất mà Séc
và tiền mặt không có lãi suất, chứng thư này trở thành loại đầu tư ngắn hạn hấp
dẫn nhất đối với các nhà kinh doanh và hộ gia đình.
1.1.3.3 Phát hành giấy tờ có giá
Để huy động được đủ nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn của
mình các NHTM không chỉ sử dụng các công cụ truyền thống để huy động vốn
mà còn đưa ra các công cụ mới hiệu quả hơn như phát hành kỳ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ tiền gửi.Kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi là giấy tờ có giá xác
nhận khoản nợ của ngân hàng với người nắm giữ. Việc phát hành các giấy tờ có
giá này giúp ngân hàng huy động được số vốn cần thiết và có thời hạn đáp ứng
đủ nhu cầu sử dụng vốn của mình. Tuy nhiên chi phí của nguồn vốn huy động
Lớp: TN1C
9