Tài liệu Luận văn Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại - Pdf 10

Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 1 Lu
ận văn

Thông báo k
ết quả học
t
ập của học sinh qua điện
tho
ại

Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong mỗi gia đình, các bậc cha mẹ có con cắp sách tới trường lúc nào
cũng quan tâm đến việc học của con mình. Chẳng hạn bữa nay con mình có
lên trả bài hay không? Các bài kiểm tra trong tháng được bao nhiêu điểm?
Kết quả thi ở cuối mỗi học kỳ ra sao? Và kể cả việc muốn biết con mình có
nghỉ học bữa nào không hoặc có vi phạm nội quy gì ở trường hay không và lý

G
I
I


I
IT
T
H
H
I
I


U

Đ

ỀT
T
À

điện thoại của người gọi để thực hiện yêu cầu của người đó
 Tìm kết quả trong cơ sở dữ liệu
 Thông báo bằng giọng nói cho người gọi nghe
Vấn đề đầu tiên là phải tạo được một giao tiếp giữa điện thoại và máy
tính thông qua một modem. Và để truyền được tín hiệu tiếng nói từ máy tính
đến điện thoại, modem này phải có hỗ trợ chức năng “voice“. Máy tính lúc
này sẽ đồng thời đóng vai trò của máy điện thoại và nhân viên trường học.
Người gọi có thể sử dụng bất kỳ điện thoại nào để gọi tới. Lúc này máy tính sẽ
tự động “nhấc máy” và đối thoại với người gọi.
Vấn đề thứ hai được giải quyết bằng cách sử dụng các câu lệnh truy vấn
(SQL) mà bất kỳ thao tác nào với cơ sở dữ liệu cũng cần phải có.
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 5

Vấn đề cuối cùng là áp dụng công nghệ “text-to-speech” để chuyển từ
chữ trong máy tính sang tiếng nói, sau đó sẽ truyền đi qua điện thoại tới người
gọi.
Tất cả những vấn đề này sẽ được trình bày chi tiết trong các phần sau.

II. Môi trường lập trình :
Chương trình “Thông báo kết quả học tập qua điện thoại” được viết
bằng ngôn ngữ lập trình Visual Basic 6.0 trên hệ điều hành Microsoft
Windows 98.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu được dùng để cài đặt cơ sở dữ liệu là Microsoft
Access 97

III. Giới thiệu về hoạt động của chương trình :
Chương trình được thiết kế để thông báo mọi vấn đề liên quan đến đến


Nếu người gọi nhấn một trong các phím 1, 2, 3, 5 thì sẽ được yêu cầu
nhập vào tháng muốn biết. Nếu nhấn phím 4 hay 6 thì sẽ được yêu cầu nhập
vào học kỳ muốn biết.
Bất cứ lúc nào, người gọi có thể nhấn phím * để trở về menu. Muốn kết
thúc cuộc gọi, ngoài cách nhấn phím * tại menu chọn lựa, người gọi có thể gác
máy như bình thường, lúc này hệ thống sẽ tự phát hiện ra , ngắt kết nối với
cuộc gọi hiện tại và tiếp tục chờ cuộc gọi khác đến. Nếu hệ thống phát hiện
sau một khoảng thời gian định trước (thời gian rỗi) mà không có một tác động
nào từ phía người gọi thì hệ thống cũng sẽ tự động ngắt kết nối.
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 7 PHẦN 2
C
C
Ơ
ƠS


SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 8

Chương 1
GIAO TIẾP GIỮA ĐIỆN THOẠI
VÀ MÁY TÍNH

I. Sự cần thiết của modem :
Như chúng ta đã biết kỹ thuật điện thoại ra đời và phát triển rất sớm
trước kỹ thuật máy tính. Ngày đó, đường dây điện thoại được thiết kế chỉ để
truyền tín hiệu của tiếng nói có tần số của âm thanh. Dạng tín hiệu này thuộc
loại tín hiệu tương tự (analog) và thường gọi là sóng âm tần hình sin. Trong
khi đó, máy tính chỉ có thể xử lý các tín hiệu số (digital) có tần số cao. Nếu
tín hiệu số này được truyền trực tiếp trên đường dây điện thoại thì chúng sẽ bị
suy giảm và biến dạng. Vì thế, một thiết bị chuyển đổi qua lại giữa hai tín hiệu
này đã ra đời, gọi là modem. Công việc chuyển tín hiệu số của máy tính thành
tín hiệu tương tự của đường dây điện thoại được thực hiện bằng một số
phương pháp mà người ta gọi là điều chế (Modulation). Ngược lại, công việc
chuyển tín hiệu tương tự của đường dây điện thoại thành tín hiệu số của máy
tính cũng được thực hiện bằng một số phương pháp mà người ta gọi là giải
điều chế (Demodulation). Modem chính là viết tắt của 2 chữ Modulation và
Demodulation.
Ứng dụng của modem mà chúng ta thường thấy nhất là kết hợp với máy
tính để truy cập internet. Trong trường hợp này, mỗi đầu của đường dây điện
thoại sẽ nối vào một modem gắn vào máy tính. Nhờ đó chúng ta có thể truy
xuất được dữ liệu của máy kia (máy chủ). Còn ở đây, đối với công việc thông
báo qua điện thoại từ máy tính, ta chỉ cần nối một đầu dây điện thoại vào
modem gắn với máy tính tại trường học. Người gọi có thể sử dụng bất kỳ điện
thoại nào để gọi tới. Lúc này tín hiệu từ đường dây điện thoại sẽ được modem
chuyển đổi thành tín hiệu số và đưa vào máy tính để xử lý. Sau đó máy tính sẽ

gọi như: tạo cuộc gọi, chờ cuộc gọi , hộp thư thoại, vv Các ứng dụng được
viết bởi TAPI có thể truy cập trực tiếp vào các dịch vụ trên đường dây điện
thoại. Các ứng dụng này có thể phát ra và nhận vào mọi tín hiệu của điện
thoại.
Dù đường dây điện thoại truyền tín hiệu dạng tương tự hay dạng số thì ta
cũng cần một thiết bị giao tiếp giữa máy tính và đường dây điện thoại . Dĩ
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 10

nhiên, thiết bị giao tiếp đó phải có hỗ trợ TAPI TSP. Thiết bị này có thể là một
trạm ISDN , một bảng mạch hệ thống điện thoại hoặc đơn giản là một modem

II.1.2. Chương trình ứng dụng TAPI :
Ứng dụng TAPI là ứng dụng mà có sử dụng giao tiếp lập trình hệ thống
điện thoại nhằm thực hiện một công việc gì đó. Ví dụ : phần mềm giả lập điện
thoại trong mạng điện thoại chuyển mạch công cộng (PSTN), phần mềm
gửi/nhận fax, hộp thư thoại, hệ thống trả lời tự động, điện thoại qua internet
(VoIP) vv

II.1.3. TAPI DLL (Dynamic link library - Thư viện liên kết động) :
Các thư viện này cùng với TAPI Server (Tapisvr.exe) là sự trừu tượng
hóa trong việc phân cách giữa người dùng và các nhà cung cấp dịch vụ điện
thoại. Một thư viện TAPI liên kết với TAPI Server để cung cấp một giao tiếp
giữa 2 lớp (xem mô hình lập trình cho hệ thống điện thoại ở phần sau).
Có 3 thư viện liên quan tới TAPI : Tapi.dll, Tapi32.dll, Tapi3.dll . Mỗi
thư viện này đều có vài trò như nhau :
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần


32-bit

Tapi32.dll Ứng dụng TAPI3
32-bit

Tapi3.dllMSP

TAPISVR.EXE

TSPRegistry
Telephony Control Panel,
Dialing Properties, vv
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 12

II.1.5. MSPI (Media Service Provider Interface) :
MSPI là tập hợp các giao tiếp và các phương thức được thực hiện bởi
MSP nhằm cho phép việc điều khiển một ứng dụng TAPI 3 trên phương tiện
trong suốt phiên liên lạc truyền thông.

SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 13

II.1.9. Service Providers :
Đây được xem như bộ phận cung cấp các dịch vụ cần thiết để thực hiện
việc điều khiển thiết bị điện thoại một cách chi tiết. TSP cung cấp các điều
khiển cuộc gọi và MSP nếu có sẽ cung cấp điều khiển luồng qua phương tiện.
Tất cả các TSP thực thi bên trong tiến trình TAPISRV. Các bộ phận
cung cấp dịch vụ có thể tạo ra các thread ngay trong ngữ cảnh của TAPISRV
khi cần và được chắc chắn rằng không có tài nguyên nào mà chúng tạo ra bị
hủy do thoát khỏi một ứng dụng cá nhân nào đó. Khi cần TAPI Server có thể
dịch các câu lệnh của ứng dụng sang tập các lệnh phù hợp như là TSPI.
Các MSP thực thi ngay trong tiến trình của ứng dụng, cho phép phản hồi
nhanh một số yêu cầu trong việc điều khiển phương tiện. TAPI DLL cung cấp
một kết nối chặt chẽ tới MSPI.
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 14 II.2. Mô hình lập trình cho hệ thống điện thoại :

- Ứng dụng TAPI sẽ nạp thư viện TAPI (TAPI DLL) vào và sử dụng
TAPI cho các nhu cầu truyền thông
- TAPI sẽ tạo ra một kết nối với TAPI Server. Ngoài ra, với TAPI
phiên bản 3 sẽ tạo thêm một đối tượng MSP và kết nối với nó bằng
cách sử dụng tập các câu lệnh được định nghĩa trước, hình thành nên
MSPI
- Khi ứng dụng thực hiện một thao tác TAPI, thư viện TAPI sẽ làm
một số kiểm tra cần thiết , sau đó sẽ chuyển thông tin cho TAPISVR

thái, chức năng của thiết bị khi có yêu cầu.
Kết quả của việc lập trình theo mô hình này là ứng dụng vẫn có thể hoạt
động khi thay thế thiết bị mới mà không cần thực hiện những thay đổi mã
nguồn.

II.3. Mô hình ứng dụng TAPI : 1. Khởi tạo TAPI (TAPI Initialization) :
- Khởi tạo môi trường truyền thông trên máy tính
- Việc khởi tạo là đồng bộ và không quay trở về cho tới khi thao tác
hoàn tất hoặc bị lỗi
- Nếu TAPISRV không đang chạy thì TAPI sẽ gọi nó
- TAPI thiết lập một kết nối cho tiến trình TAPISRV
Khởi tạo TAPI

Điều khiển
phiên làm việc

Điều khiển
thiết bị

Đi
ều khiển

phương tiện

Kết thúc TAPI

Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần

 Channel : là sự chia nhỏ của một line
 Address : một address đại diện cho một sự định vị trên
network. Mỗi line hay channel đều có một hay nhiều địa chỉ
liên kết với nhau
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 17

 Terminal : một nguồn hoàn trả lại cho một địa chỉ đặc trưng
và một kiểu phương tiện.
4. Điều khiển phương tiện (Media Control) :
- Phương tiện của phiên làm việc truyền thông được thiết kế cho dữ
liệu truyền qua. Nó cho phép một ứng dụng nhận biết những thay đổi
của các kiểu phương tiện và điều chỉnh các luồng trên phương tiện
như âm lượng của tiếng nói được truyền. Đó cũng có thể là việc gửi
và nhận các tín hiệu DTMF từ điện thoại.
5. Kết thúc TAPI (TAPI Shutdown) :
- Kết thúc các phiên làm việc
- Giải phóng các tài nguyên hệ thống đang chiếm giữ

II.4. Các phiên bản TAPI :
Bất kỳ một vấn đề nào liên quan đến TAPI cũng gồm có 3 thành phần :
chương trình ứng dụng, TSP, và chính bản thân của TAPI. Mỗi một trong ba
thành phần này đều có thể hỗ trợ đến một phiên bản TAPI tối đa nào đó . Đây
là công việc của ứng dụng phải kiểm tra và chọn lựa phiên bản cao nhất của
TAPI mà cả ba thành phần này đều hỗ trợ. Các con số phiên bản này được duy
trì sự tương thích khi Microsoft mở rộng các khả năng của TAPI. Các phiên
bản của hệ điều hành Windows khác nhau sẽ hỗ trợ các phiên bản Windows
khác nhau :

Unicode
2.1 Hỗ trợ Client/Server
2.2 Quản lý cuộc gọi chuyên dụng
3.0
Giao ti
ếp kiểu COM (Component Object Model); Hỗ
trợ Media Stream Providers ; TSP 2.1 vẫn được dùng

3.1
Một số điều khiển thiết bị điện thoại và m
ột số giao
tiếp trạm chuyên dụng

Có 2 thay đổi lớn trong các phiên bản này. Thứ nhất là ở phiên bản TAPI
2.1 khi chức năng hỗ trợ Client/Server được thêm vào. Điều này tạo khả năng
cho thiết bị hệ thống điện thoại có thể được cài đặt trên một máy Server mà
các máy Client trong mạng có thể truy cập được. Thay đổi lớn thứ hai đến với
TAPI 3.0 khi nó được tổ chức như một bộ các đối tượng kiểu COM , sẽ tốt
hơn kiểu kiến trúc ngôn ngữ C++ cho Windows. Nó tạo điều kiện dễ dàng cho
việc viết các ứng dụng bằng bất cứ ngôn ngữ nào : C++ , Visual Basic hay
Java. Ngoài ra , chức năng khác biệt chính là khả năng hỗ trợ MSP (Media
Service Providers) nhằm cung cấp cách thức truy cập các luồng phương tiện
trong một cuộc gọi và có thể hỗ trợ hệ thống điện thoại theo giao thức internet
(IP)
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 19

III. DTMF trong hệ thống điện thoại :
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 20

Chương 2
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU

I. Cơ sở dữ liệu trong thế giới hiện đại :
Mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ do tiến sĩ E.F.Codd sáng chế đầu tiên
vào năm 1970 để lưu trữ thông tin. Mô hình này là nền tảng của tất cả các hệ
quản trị cơ sở dữ liệu thương mại như Access, SQL Server, Oracle, vv
Trong cơ sở dữ liệu quan hệ, các mục dữ liệu được lưu trữ trong các
bảng (table), được cấu tạo bởi các dòng gọi là các mẫu tin (record) và các cột
gọi là các trường (field). Cơ sở dữ liệu quan hệ cho phép nối các bảng với
nhau với mục đích truy cập các mẫu tin liên quan với nhau chứa trong các
bảng khác nhau.
Ví dụ, ta có một cơ sở dữ liệu để lưu trữ thông tin học sinh. Trong cơ sở
dữ liệu này, mỗi mẩu tin tương ứng với một học sinh. Mỗi mẩu tin có 6 trường
: mã số , họ , tên , ngày sinh, giới tính, mã nơi sinh. Đối với mọi học sinh, ta
muốn biết cùng loại thông tin nhưng những chi tiết cụ thể về từng học sinh dĩ
nhiên là khác nhau. Từng học sinh phải được xác định một cách riêng rẽ, do
đó mỗi mẫu tin sẽ có một mã nhận dạng duy nhất được gọi là khóa (key).
Khóa có thể được dùng để tham chiếu chéo (cross reference) thông tin lưu
trong các bảng khác nhau trong cùng cơ sở dữ liệu. Các mẩu tin trong cơ sở dữ
liệu có dạng như sau:

Mã số Họ Tên Ngày sinh Giới tính Mã nơi sinh

0058613 Bùi Danh Đạt 26/01/1980 Nam 31
0058614 Nguyễn Thị Trinh 8/10/1985 Nữ 31

các câu truy vấn, cập nhật dữ liệu trong các bảng và cấu trúc cho cơ sở dữ liệu.
DAO cũng được các nhà lập trình sử dụng để truy cập các cơ sở dữ liệu trên
máy cá nhân hay Client/Server và DAO hoạt động khá hiệu quả với cơ sở dữ
liệu Access
III.2. RDO (Remote Data Object) :
RDO tương tự như DAO nhưng mục đích chính là để truy cập dữ liệu từ
xa thông qua ODBC.

Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 22

III.3. ADO (ActiveX Data Objects) :
ADO là nền tảng của kỹ thuật truy cập cơ sở dữ liệu Internet. Tuy nhiên,
ta có thể sử dụng ADO không chỉ để truy cập dữ liệu thông qua trang Web mà
còn có thể dùng nó để lấy dữ liệu từ ứng dụng. ADO là giao diện dựa trên đối
tượng cho công nghệ dữ liệu mới nổi gọi là OLE DB.
OLE DB được thiết kế để thay thế ODBC như một phương thức truy cập
dữ liệu. ODBC hiện thời là tiêu chuẩn phía Client để truy cập các cơ sở dữ liệu
quan hệ . OLE DB đi sâu hơn một bước bằng cách làm cho tất cả các nguồn
dữ liệu trở thành tổng quát đối với ứng dụng Client.

IV. Sơ lược về SQL (Structured Query Language) :
SQL là viết tắt của cụm từ “Structured Query Language” , tạm dịch là
ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc. SQL thuộc loại ngôn ngữ thế hệ thứ tư. Việc sử
dụng nó có thể giải quyết nhanh chóng vấn đề cung cấp thông tin mà với ngôn
ngữ thế hệ thứ ba phải tốn khá nhiều thời gian mã hóa. Cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của các hệ quản trị cơ sở dữ liệu, SQL ngày càng được mở rộng.
 Ngôn ngữ : SQL không phải là ngôn ngữ thảo chương theo nghĩa cổ

Các đối tượng truy cập dữ liệu DAO, RDO, ADO đều hỗ trợ rất mạnh
việc thực thi các câu lệnh SQL nhằm tạo sự uyển chuyển, linh động và tối ưu
trong các thao tác dữ liệu.
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 24

Chương 3
SƠ LƯỢC VỀ TIẾNG NÓI
VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
TỔNG HỢP TIẾNG NÓI

I. Sơ lược về tiếng nói :
I.1. Đặc tính chung của tiếng nói :
Tiếng nói là công cụ diễn đạt thông tin rất uyển chuyển và đặc biệt. Khi
chúng ta phát ra một tiếng thì có rất nhiều bộ phận như lưỡi, thanh môn, môi,
họng, thanh quản…kết hợp với nhau để tạo thành âm thanh. Âm thanh này lan
truyền trong không khí để đến tai người nhận; chính vì sự kết hợp của rất
nhiều bộ phận để tạo ra âm thanh này nên âm thanh được phát ra ở mỗi lần
hầu như là khác nhau. Vì vậy việc phân chia tiếng nói thành những loại có đặc
tính riêng là rất khó. Ở đây người ta tạm chia thành ba loại:
 Voiced sound :
Khi chúng ta nói chữ "a" hay chữ "o" thanh môn của ta rung và giãn ra, áp
suất không khí ban đầu lớn và từ từ giảm xuống, lúc này âm phát ra có dạng
sóng wave đặc trưng như hình vẽ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status