HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Hoàng Tiến Hợi TÌM HIỂU VỀ KIẾN TRÚC CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ
CÔNG TRỰC TUYẾN TẠI SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN
THÔNG TỈNH VĨNH PHÚC Chuyên ngành: Truyền dữ liệu và mạng máy tính
Mã số: 60.48.15
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI- 2013
Luận văn được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG Người hướng dẫn khoa học: TS. Phùng Văn Ổn Phản biện 1: …………………………………………………
Phản biện 2: …………………………………………………
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Vào lúc: giờ ngày … tháng . năm Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện của Học viện Công
nghệ Bưu chính Viễn thông
thông tin và truyền thông vào việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực của chính quyền các cấp, đồng thời
từng bướ
c cung cấp dịch vụ công cho người dân qua Internet nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như tiết kiệm thời gian và sức lực của người
dân trong quan hệ với Chính phủ.
Với xu hướng hiện đại hoá công tác quản lý hành chính nhà nước phối kết hợp cùng
các đơn vị chức năng triển khai đề án giải quyết công việc theo mô hình dịch vụ
hành chính
công nhằm từng bước hiện đại hóa thủ tục hành chính với sự áp dụng CNTT, luận văn đã mạnh
dạn đề xuất mô hình tham chiếu cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại Sở Thông tin và Truyền
thông tỉnh Vĩnh Phúc.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Từ những năm đầu của thế kỷ XXI, xây dựng Chính phủ điện tử (CPĐT) đã trở
thành mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới để cải cách nền hành chính, thay đổi
phương thức làm việc, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan nhà nước. Đến nay, các
nước như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore đã thu được nhi
ều thành công, góp phần quan trọng cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Tại Việt Nam, Chính phủ cũng đã triển khai nhiều chương trình, đề án ứng dụng
CNTT, xây dựng CPĐT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển
kinh tế xã hội, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.
Trong quá trình triển khai các
đề án, dự án ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ
quan nhà nước, một trong những yêu cầu cần thiết là phải xác định kiến trúc chuẩn về các quy trình
nghiệp vụ, công nghệ sử dụng và lộ trình triển khai phù hợp để tăng tính hiệu quả, tính linh hoạt và
khả năng tái sử dụng của các hệ thống thông tin.
Do vậy, tôi chọn “Tìm hiểu về kiến trúc Chính phủ điện tử và nghiên c
ứu, đề
sau: Phương pháp nghiên cứu tham khảo, phân tích và tổng hợp tài liệu; phương pháp suy luận
logic và phương pháp so sánh.
24
a. Các chức năng dịch vụ công cung cấp:
- Giới thiệu DV công: giới thiệu về dịch vụ công;
- Hướng dẫn sử dụng: hướng dẫn sử dụng, upload các tài liệu hỗ trợ sử dụng dịch vụ;
- Thống kê, báo cáo: thống kê hồ sơ, tài liệu trong hệ thống;
- In phiếu tiếp nhận
- In giấy cấp phép.
23
- Lớp các dịch vụ hỗ trợ mô tả các dịch vụ cần thiết để có thể cung cấp được các
dịch vụ hành chính công nói trên cho xã hội.
3.3.1. Lớp dịch vụ hành chính công
Lớp dịch vụ hành chính công ngành Thông tin và Truyền thông bao gồm:
- Bưu chính và Chuyển phát: là các dịnh vụ liên quan đến cấp phép trong lĩnh vực
bưu chính, chuyển phát.
- Viễn thông và Internet: là các dịch vụ liên quan đến cấp phép thành lập mạng viễn
thông, kinh doanh dịch vụ viễn thông và Internet, chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy các thiết bị
viễn thông…
- Tần số vô tuyến điện: là các dịch vụ liên quan đến cấp phép sử d
ụng tần số và thiết
bị thu phát sóng…
- Phát thanh- Truyền hình và Thông tin điện tử: là các dịch vụ liên quan đến cấp
phép hoạt động phát thanh – truyền hình và thông tin điện tử.
- Công nghệ thông tin: là các dịch vụ cấp phép liên quan đến hoạt động chứng thực
chữ ký số.
- Báo chí: là các dịch vụ liên quan đến việc cấp giấy phép trong lĩnh vực báo chí.
- Xuất bản: là các dịch vụ liên quan đến vi
ệc cấp giấy phép trong lĩnh vực xuất bản.
3.3.2. Lớp phương thức cung cấp
Phương thức cung cấp dịch vụ hành chính công hiện nay chủ yếu có 2 phương thức cung
cấp chính là phương thức một cửa và phương thức trực tuyến.
(Federal Chief Information Officer) bên trong Văn phòng quản lý và ngân sách (Office of
Management and Budget) nhằm hỗ trợ việc quản lý và thúc đẩy các dịch vụ CPĐT và thiết lập
các thủ tục trên nền Web để
khuyến khích người dân truy cập vào dịch vụ và thông tin chính
phủ.
1.1.2. Một số nét về Chính phủ điện tử tại Hàn Quốc
Hàn Quốc là quốc gia mạnh trong lĩnh vực CNTT và cũng là quốc gia xây dựng
được nền tảng CPĐT sớm nhất, thành công nhất. Hàn Quốc bắt đầu triển khai kiến trúc tổng thể
(GWEAF) như một dự án lộ trình cho CPĐT vào năm 2003. Mục tiêu của Dự án là hiện thực
hóa “CPĐT tốt nhất thế giới” bao gồm 4 lĩnh vực: Cải cách các quy trình nội bộ của Chính phủ
(G2G), Cải cách dịch vụ công (G2C, G2B), Cải cách quản lý tài nguyên thông tin, Cải cách hệ
thống pháp lý. Kiến trúc CNTT/tổng thể
là một nhiệm vụ trong chương trình “Tích hợp và tiêu
chuẩn hóa tài nguyên thông tin”.
1.1.3. Một số nét về Chính phủ điện tử tại Singapore
Singapore là quốc gia và vùng đặc khu với chính quyền nhất thể đã đưa chương
trình CPĐT vào trong chiến lược kinh tế tri thức và số (knowledge and digital economy). Chiến
lược IT2000 của Singapore đã cung cấp một nền tảng để Singapore trở thành một trong những
chính phủ đầu tiên cung cấp thông tin dịch vụ công trực tuyến điện tử. Tiếp đó, Singapore đưa
ra kế hoạch tổng thể ICT21 (ICT21 Masterplan) để phục vụ cho việc phát tri
ển CNTT và truyền
thông trong thế kỷ 21 để trở thành quốc gia đi đầu trong thế giới điện tử. Singapore đã chú
trọng rất nhiều vào nhu cầu của công dân, nâng cao nhận thức của công dân. Đến nay hầu hết
các dịch vụ đã được cung cấp trực tuyến thông qua cổng thông tin chính phủ. 5
1.2. Chính phủ điện tử tại Việt Nam
1.2.1. Giai đoạn ứng dụng tin học 1996-2000
1.2.1.1.Tình hình thực hiện các nhóm dự án
1.2.1.2. Tình hình xây dựng chương trình ứng dụng trong hệ thống dự án
THHQLNN giai đoạn 1996-2000
a. Giai đoạn 1996-1998 22
- Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà là hàng hóa đặc
biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã
hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật.
- Việc trao đổi dịch vụ công thông qua quan hệ thị trường đầy đủ;
- Từ góc độ kinh tế học, dịch vụ công là các hoạt động cung
ứng cho xã hội một loại
hàng hóa công cộng. Loại hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó,
mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa này.
b. Đánh giá hiện trạng việc cung cấp các dịch vụ hành chính công
- Số lượng các thủ tục hành chính rất nhiều, mặt khác nhiều thủ tục chưa chuẩn hóa được
quy trình thực hiện, điều này gây khó khăn khá lớn cho việc thực hiện tin học hóa việc cung cấp các dịch
vụ hành chính công trực tuyến.
- Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến phát triển không đồng đều tại các địa
phương và bộ ngành, một số địa phương đã rất tích c
ực cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tuy
nhiên chủ yếu mới ở mức độ một và mức đô hai. Các dịch vụ công mức độ 3 được cung cấp rất
hạn chế, dịch vụ công ở mức độ bốn vẫn chưa được cung cấp.
- Thiếu sự chuẩn hóa, thống nhất trong việc cung cấp các dịch vụ hành chính công
giữa các địa phương. Do đó cùng một dị
ch vụ hành chính công, mỗi địa phương lại cung cấp có
những sự khác biệt nhất định.
- So với số lượng các dịch vụ công được tổng hợp số lượng dịch vụ công được cung
cấp trực tuyến còn hạn chế. Việc chậm triển khai các hệ thống chứng thực điện tử là cản trở lớn
hiệu quả.
+ Tư nhân hóa dịch vụ công, trong đó nhà nước bán phương tiện và quyền chi phối
của mình đối với dịch vụ nào đó cho tư nhân song vẫn giám sát và đảm bảo lợi ích công bằng
pháp luật.
+ Mua dịch vụ công từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tư nhân có thể làm tốt và
giảm được số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước, như bảo dưỡng ph
ương tiện phòng cháy,
chữa cháy, các phương tiện tin học, …
b. Các hình thức cung cấp dịch vụ hành chính công hiện tại
Hiện nay dịch vụ hành chính công đươc cung cấp dưới 3 dạng chủ yếu:
- Hình thức dịch vụ hành chính công truyền thống;
- Hình thức dịch vụ hành chính công 1 cửa;
- Hình thức cung cấp dịch vụ hành chính công điện tử (dịch vụ hành chính công trực
tuyến).
3.2.3. Đặc điểm của dịch vụ công và đánh giá hiện trạng cung cấp các dịch vụ
hành chính công
a. Đặc điểm của dịch vụ công
Đặc điểm của dịch vụ công cơ bản như sau:
- Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng đáp
ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội và đảm bảo công bằng
và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rỗng rãi. 6
Trong 3 năm triển khai CTQG về CNTT, các Bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và
triển khai được 838 phần mềm ứng dụng và 1075 phần mềm hệ thống.
b. Giai đoạn 1999-2000
Thời kỳ này, do CTMT QG về CNTT bị giải thể, các triển khai ứng dụng do các cơ
quan tự đầu tư tùy theo nhu cầu và khả năng kinh phí thường xuyên, việc xây dựng mua sắm
các phần mềm ứng dụng không có sự chỉ đạo thống nhất về chuẩn, không có số liệu thống kê
7
Hầu hết các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã có trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin
điện tử (năm 2010 đạt 61/63 tỉnh).
Hiện nay trên cả nước, tại bộ phận một cửa của nhiều sở, ngành, quận, huyện đã có
ứng dụng CNTT (khoảng 70%). Điều này làm rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục, giảm chi phí
hoạt động. Ví dụ, tại thị xã Sơn Tây cho thấy s
ố lượng hồ sơ xử lý tăng 125%, tại Sở Kế hoạch
và Đầu tư thành phố Hà Nội chi phí giảm 30%.
1.2.4. CPĐT Việt Nam trên các bảng xếp hạng của thế giới
Theo bảng xếp hạng về chỉ số sẵn sàng cho CPĐT năm 2012 của Liên hợp quốc,
Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định, từ vị trí 105 trong 179 nước được xếp hạng năm 2005
tăng lên vị trí 91 trong 182 nước được xếp hạng năm 2008. Đến năm 2012, Việt Nam đứng thứ
83 trong 190 nước. Nếu chỉ tính riêng các nước thuộc Đông Nam Á, Việt Nam hiện đang đứng
th
ứ 4 về chỉ số sẵn sàng cho CPĐT.
- Dịch vụ công ích: là các dịch vụ cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cơ bản, thiết yếu
cho người dân và cộng đồng như: vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, phòng
chống thiên tai…chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện.
c. Dịch vụ hành chính công ở Việt Nam
Theo Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ, dịch vụ
hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục
tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm
quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh
vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý.
3.2.2. Các hình thức cung cấp dịch vụ công và dịch vụ hành chính công
a. Các hình thức cung cấp dịch vụ công
- Các cơ quan nhà nước trực tiếp cung ứng dịch vụ công: cung ứng dịch vụ công đối với các
dịch vụ liên quan đến an ninh quốc gia và lợi ích chung của đất nước (như quốc phòng, hộ tịch…) mà
chỉ có cơ quan công quyền mới có đủ tư cách pháp lý để làm. Các đơn vị sự nghiệp do nhà nước thành 19
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG
TRỰC TUYẾN TẠI SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TỈNH
VĨNH PHÚC
3.1. Tổng quan về cơ quan nhà nước của Việt Nam
3.1.1. Hệ thống tổ chức của cơ quan nhà nước
Theo Hiến pháp năm 1992, các cơ quan nhà nước Việt Nam được chia thành 03
nhánh: các cơ quan lập pháp, các cơ quan hành pháp và các cơ quan tư pháp.
- Phân cấp hành chính:
Theo Hiến pháp năm 1992, các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được phân định như sau:
+ Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
+ Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung
ương chia thành quận, huyện và thị xã;
cần thiết và vai trò của kiến trúc.
Trước hết là về quy trình nghiệp vụ: có thể thấy, ở mỗi nước, Chính phủ được tổ
chức theo một cách thức khác nhau. Ví dụ: ở Việt Nam hiện tại có 22 Bộ, cơ quan ngang Bộ,
trong khi ở Mỹ có 15 Bộ, Úc có 21 Bộ… Như vậy, nếu các h
ệ thống thông tin được xây dựng
dựa trên các cơ quan cụ thể của Chính phủ có thể sẽ thường xuyên phải thay đổi khi có sự thay
đổi cơ cấu của Chính phủ. Việc xây dựng kiến trúc CPĐT dựa trên các chức năng của Chính
phủ thay vì dựa trên các cơ quan cụ thể sẽ khắc phục được nhược điểm này.
Về luồng thông tin, biểu mẫu, quy trình: trên thực tế, số lượng bi
ểu mẫu, thông tin
trao đổi giữa các cơ quan Chính phủ với nhau, giữa các cơ quan Chính phủ với các doanh
nghiệp và người dân là rất lớn. Nếu như các quy định về cách thức, nội dung thông tin trao đổi
không theo chuẩn chung dẫn đến việc phối hợp, nhất là khi tự động hóa các quy trình thông qua
các ứng dựng CNTT sẽ gặp nhiều khó khăn.
Về các chuẩn kỹ thuật: mặc dù các công ty cung cấp các giải pháp phần mềm đều
hướ
ng tới việc đảm bảo tính tương hợp giữa các giải pháp cùng loại, tuy nhiên thực tế vẫn tồn
tại những vấn đề về kỹ thuật do sự không tương thích giữa các hệ thống.
2.2. Kiến trúc CPĐT và một số khái niệm liên quan
2.2.1. Khái niệm về Kiến trúc Chính phủ điện tử
a. Định nghĩa kiến trúc
Có nhiều định nghĩa về Kiến trúc. Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Viện
ngôn ngữ học Việt Nam, kiến trúc là “nghệ thuật thiết kế, xây dựng các công trình, thường là
nhà cửa”, định nghĩa này áp dụng trong lĩnh vực xây dựng.
Theo định nghĩa của Viện Tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ/ Viện kỹ thuật điện và điện
(tên viết tắt: ANSI/IEEE), ki
ến trúc của một hệ thống bao gồm: (1) các thành phần cơ bản của
hệ thống và (2) mối liên hệ giữa các thành phần cơ bản này với nhau cũng như (3) các nguyên
tắc định hướng cho việc thiết kế và phát triển hệ thống, định nghĩa này áp dụng trong lĩnh vực
CNTT.
nhau.
- Mô hình tham chiếu (Reference Model): sử dụng để mô tả kỹ hơn về một thành
phần nào đó của kiến trúc. Một thành phần kiế
n trúc có thể có một hoặc nhiều mô hình tham
chiếu.
- Quan điểm kiến trúc (Architecture Viewpoint): mô tả kiến trúc dựa trên một quan
điểm hoặc một góc nhìn cụ thể nào đó.
2.3. Một số kiến trúc Chính phủ điện tử điển hình
2.3.1. Kiến trúc TOGAF (The Open Group Architecture Framework)
Kiến trúc TOGAF cho phép ta xây dựng và duy trì Kiến trúc tổng thể CNTT xuất
phát từ tầm nhìn của kiến trúc thông qua việc phát triển các kiến trúc thành phần như kiến trúc
nghiệp vụ, kiến trúc thông tin, kiến trúc công nghệ đảm bảo đáp ứng được tốt nhất yêu cầu của
tổ chức. Các kiến trúc thành phần TOGAF cũng đưa ra những cơ chế để quản lý, giám sát và 18
(1) các hoạt động cung cấp dịch vụ hành chính công. Các hoạt động này đóng vai trò
quan trọng chính yếu vì đây là các hoạt động nghiệp vụ có liên hệ với người dân, doanh nghiệp
và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người dân.
(2) các hoạt động nghiệp vụ trong nội bộ các cơ quan nhà nước nhằm thực thi chức
năng quản lý nhà nước của ngành/lĩnh vực, góp phần phát triển kinh t
ế - xã hội.
trúc dữ liệu; Kiến trúc ứng dụng và các giải pháp kỹ thuật.
- Kiến trúc nghiệp vụ
hay mô hình tham chiếu nghiệp vụ: khảo sát, phân loại hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước về chức năng, nhiệm vụ, quy trình nghiệp vụ, các
biểu mẫu, đánh giá hoạt động để mô hình hóa các quy trình ngiệp vụ và biểu mẫu, từ đó, xác
định mối quan hệ giữa các thành phần và kiến trúc quy trình nghiệp vụ và biểu mẫu. Việc xác
định các nghiệp vụ, nhiệm vụ chuyên môn, trong đó bao gồm các dịch vụ hành chính công mà
không ph
ục thuộc vào cấu trúc, tổ chức của Chính phủ.
- Kiến trúc nghiệp vụ (mô hình tham chiếu nghiệp vụ): là mô hình tham chiếu các
hoạt động nghiệp vụ của Chính phủ. Các hoạt động nghiệp vụ được chia thành 02 nhóm chính:
cung cấp các dịch vụ hành chính công cho người dân, doanh nghiệp và các hoạt động trong các
cơ quan để thực thi chức năng quản lý nhà nước của ngành/lĩnh vực, góp phần phát triển kinh tế
- xã hội.
- Kiến trúc dị
ch vụ (mô hình tham chiếu dịch vụ): xác định các dịch vụ cơ bản dùng
chung, các dịch vụ có thể chia sẻ, sử dụng lại giữa các hoạt động nghiệp vụ khác nhau.
- Kiến trúc thông tin: mô tả các luồng thông tin và các nội dung thông tin trao đổi
giữa các cơ quan nhà nước với nhau và với người dân, doanh nghiệp. Việc khảo sát, phân loại
thông tin, từ đó, xác định kiến trúc thông tin có liên quan mật thiết với việc xác định kiến trúc
nghiệp vụ
.
- Kiến trúc dữ liệu: gồm siêu dữ liệu, các mô hình dữ liệu, chuẩn trao đổi dữ liệu và
định hướng cho toàn bộ trường thông tin.
- Kiến trúc ứng dụng và các giải pháp kỹ thuật: xác định các ứng dụng hỗ trợ các
quy trình nghiệp vụ.
Mô hình tham chiếu nghiệp vụ là thành phần quan trọng trong kiến trúc tổng thể của
nhiều nước trên thế giới. Các hoạt động nghiệp vụ của cơ
quan nhà nước có thể chia thành 02
nhóm cơ bản:
lược nhất hiện nay. Mô hình này được xây dựng chủ yếu dựa trên khung định h
ướng theo quy
trình nghiệp vụ, bao gồm một bộ các mô hình tham chiếu có liên quan chặt chẽ với nhau, được
thiết kế để trợ giúp cho việc phân tích sự liên kết các tổ chức công và phát hiện các mục đầu tư
trùng lặp, khoảng cách và các cơ hội cho sự hợp tác trong mỗi tổ chức công và liên tổ chức
công bao gồm: Mô hình tham chiếu hiệu năng, Mô hình tham chiếu nghiệp vụ, mô hình tham
chiếu thành phần dịch vụ chung và mô hình tham chiếu kỹ thu
ật.
2.3.4. Mô hình tham chiếu dịch vụ của Cộng hòa liên bang Đức (kiến trúc SAGA)
Các chuẩn và kiến trúc cho các ứng dụng CPĐT của Đức do Bộ Nội vụ Liên bang
Đức chủ trì xây dựng và phát triển. 11
Kiến trúc SAGA nhằm đạt các mục tiêu sau:
- Hỗ trợ việc giao tiếp, trao đổi giữa các ứng dụng CNTT thông qua một cách hiểu chung
nhất về kiến trúc và công nghệ cập nhật;
- Xác định các giải pháp về CNTT sẵn có cho các ứng dụng CPĐT, so sánh, đánh
giá về mức độ phù hợp nhằm đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán giữa các ứng dụng với nhau;
- Đưa ra các chuẩn đồng bộ phục vụ
cho việc thực hiện các dự án CPĐT.
Mô hình kiến trúc của SAGA gồm 05 góc nhìn: góc nhìn tổng thể; góc nhìn thông
tin; góc nhìn tính toán; góc nhìn kỹ nghệ; góc nhìn công nghệ.
Các góc nhìn này được sử dụng để mô tả hệ thống đang tồn tại, đồng thời để mô
hình hóa các hệ thống và ứng dụng mới.
2.4. Mô hình Kiến trúc Chính phủ điện tử của các nước Mỹ, Hàn Quốc,
Singapore
2.4.1. Mô hình Kiến trúc Chính phủ điện tử nước Mỹ
a. Chính sách và cơ quan thực hiện
Tại Mỹ, Văn phòng Chính phủ điện tử và Công nghệ thông tin (CPĐT&CNTT)
điện tử
Phát triển CPĐT là một quá trình, trong đó các chức năng/công việc chính bao gồm:
- Hướng dẫn các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương xây dựng kế
hoạch, dự án ứng dụng CNTT phù hợp với mức độ sẵn sàng (hiện trạng ứng dụng CNTT), đặc
thù về chính trị - xã hội, trình độ phát triển, kinh nghiệm triển khai trong giai đoạn trước và
tuân theo kiến trúc tổng th
ể chung của cả nước;
- Hướng dẫn quản lý các kế hoạch, dự án ứng dụng CNTT theo các đặc thù của dự
án CNTT nói chung (các dự án sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ cao có vòng đời,
tuổi thọ ngắn, liên tục cần cập nhật, nâng cấp) dự án CPĐT nói riêng.
- Theo dõi, giám sát việc thực hiện các kế hoạch, dự án ứng dụng CNTT trong cơ quan
nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện đúng các m
ục tiêu và tiến độ đã đặt ra.
- Đánh giá hiệu quả các kế hoạch, dự án nhằm rút ra bài học kinh nghiệm để triển
khai các dự án tiếp theo, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.
Ứng dụng CNTT vào hoạt động nghiệp vụ
Việc ứng dụng CNTT và hoạt động nghiệp vụ có tác dụng tương hỗ lẫn nhau và gắn
bó chặt chẽ với nhau và là 2 mặt của quá trình cả
i cách hành chính nhà nước: ứng dụng CNTT
có thể làm thay đổi quy trình nghiệp vụ theo hướng tối ưu hơn, phù hợp hơn nhằm thúc đẩy
mạnh mẽ hơn nữa việc ứng dụng CNTT.
Mức độ sẵn sàng ứng dụng CNTT
Mức độ sẵn sàng ứng dụng CNTT, hay còn gọi là mức độ sẵn sàng điện tử (e-
readiness) là một bộ chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ
phát triển CPĐT và mức độ phát
triển kiến trúc CPĐT.
Kế hoạch, dự án ứng dụng CNTT
Các kế hoạch, dự án ứng dụng CNTT chính là hành động cụ thể của các cơ quan, tổ
chức trong việc triển khai ứng dụng CNTT và đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển
CPĐT của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Các kế hoạch, dự án này thường được phê duyệt bởi
trúc CPĐT là công cụ cần thiết và duy nhất để đạt được mục đích trên.
Thứ hai, kiến trúc CPĐT là tài liệu mô tả tổng thể về tiến trình ứng dụng CNTT
trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Hầu hết các chính phủ hiện tại đều đã là CPĐT, chỉ
khác nhau ở mức độ phát triển, do đó, hầu hết các chính phủ đều đã có kiến trúc CP
ĐT và chỉ
khác một cách tương ứng ở mức độ phát triển.
Thứ ba, kiến trúc CPĐT cũng góp phần làm rõ mối quan hệ giữa CNTT với các hoạt
động nghiệp vụ, từ đó hướng dẫn triển khai ứng dụng CNTT vào các hoạt động nghiệp vụ để
nâng cao hiệu quả, hiệu lực của chính phủ.
Thứ 4, việc phát triển kiến trúc CPĐT là một tiến trình liên tục, đ
òi hỏi thời gian và
nguồn lực rất lớn, đòi hỏi phải liên tục cập nhật điều chỉnh cho phù hợp với tình hình phát triển
thực tế. 12
trúc tổng thể liên bang. Khung chuyển đổi liên bang bao gồm các mục tiêu chính sách CNTT
của toàn Chính phủ và các sáng kiến giữa các cơ quan.
c. Khung kiến trúc và phương pháp luận
Khung kiến trúc tổng thể liên bang được bao quát rất rộng về công nghệ và nghiệp
vụ. Nó bao gồm các mô hình được sử dụng để mô hình hóa các hoạt động của một tổ chức. Các
mô tả gồm trạng thái hiện tại, tương lai và chiến lược thực hiện. Các khung sử dụng gồm có
TOGAF, FEAF and FEA.
Mô hình tham chiếu FEA bao gồm các mô hình tham chiếu thành phần: Mô hình
tham chiếu Hiệu suất (Performance Reference Model), Mô hình tham chiếu Nghiệp vụ (Business
Reference Model), Mô hình tham chiếu Dịch vụ (Service Reference Model), Mô hình tham
chiếu Kỹ thuật (Technical Reference Model), Mô hình tham chiếu Dữ liệu (Data Reference
Model).
d. Quản trị kiến trúc
Mô hình quản trị được dựa trên khung quản lý và đánh giá kiến trúc tổng thể, dùng để
trì và đánh giá hiệu quả
kiến trúc tổng thể toàn chính phủ.
- Hoạt động kiến trúc tổng thể: miêu tả việc triển khai và quản lý các sản phẩm kiến
trúc tổng thể chính phủ. Nó bao gồm các thành phần: Mô hình kiến trúc, Chu kỳ sống, Các công
cụ hỗ trợ, Các sản phẩm kiến trúc tổng thể.
d. Quản trị kiến trúc
Mô hình quản trị kiến trúc bao gồm 5 hệ số đánh giá bắt đầu từ mức một là mức
thấp nhất. Khía cạnh quản lý gồm chính sách và ngân sách, tổ chức, quy trình, sản phẩm, quản
lý các thay đổi. Khía cạnh hoàn thiện gồm có các kiến trúc hiệu suất, nghiệp vụ, dữ liệu, công
nghệ, an toàn thông tin, chiến lược triển khai. Khía cạnh sử dụng gồm quản trị CNTT, lập kế
hoạch ngân sách tin học hóa, t
ăng cường dự án tin học hóa, cải tiến nghiệp vụ và dịch vụ.
2.4.3. Mô hình Kiến trúc Chính phủ điện tử Singapore
a. Chính sách và cơ quan thực hiện
Kiến trúc tổng thể chính phủ Singapore (SGEA) được phát triển theo chiến lược
iGov20. Kiến trúc này được khởi xướng và phát triển bởi Bộ Tài chính và cơ quan phát triển
thông tin truyền thông (IDA). Nó được thiết lập để hỗ trợ và thực hiện các mục tiêu, chiến lược
nghiệp vụ và tầm nhìn cho một “chính phủ nối mạng”. Chiến lược chính của chương trình này
gắn kết sự cộng tác giữa các cơ quan làm cho việc đầu t
ư công nghệ thông tin và truyền thông
hiệu quả, gắn kết việc đầu tư CNTT-TT với các chức năng nghiệp vụ và mang lại cơ hội cộng
tác giữa các cơ quan thông qua việc sử dụng chung các dịch vụ và hệ thống thông tin và truyền
thông.
b. Nguyên lý và chuẩn kiến trúc
Kiến trúc tổng thể chính phủ Singapore dựa trên kiến trúc tổng thể liên bang. Các mô
hình tham chiếu cần được phát triển để phục vụ toàn bộ khung kiến trúc tổng thể chính phủ với
phương pháp luận và/hoặc quy trình phù hợp như là một phần của khung để cung cấp hướng dẫn
cho việc phát triển kiến trúc. Các sản phẩm kiến trúc tổng thể được mong đợi hữu ích và thích hợp
hơn là tính toàn diện. Một t
ập hợp các kế hoạch chi tiết được phát triển để cung cấp một góc nhìn
miêu tả tổng quan để các cơ quan có thể hiểu được những trợ giúp này có thể giúp họ như thế
nào.
2.5. So sánh mô hình Chính phủ điện tử của các nước Mỹ, Hàn Quốc, Singapore
với Việt Nam; từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm và
đề xuất giải pháp phù hợp với thực tế tại nước ta.
2.5.1. So sánh mô hình Chính phủ điện tử của các nước Mỹ, Hàn Quốc,
Singapore với Việt Nam, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá.
Các quốc gia Mỹ, Hàn Quốc và Singapore đã ý thức xây dựng CPĐT từ rất sớm,
mặt khác khối tư nhân của các quốc gia này phát triển và gánh bớt các dịch vụ cho chính phủ