Phần mở đầu
Đất nớc ta với hơn 70% dân số sống bằng nghề nông với trồng trọt và
chăn nuôi là chủ yếu. Trong các loại cây tròng mang lại thu nhập khá cao
trong đó có cây mía là nguyên liệu chủ yếu sản xuất ra sản phẩm đờng. Sản
phẩm này thờng không ổn định đã làm cho sản xuất đờng đứng trong tình
trạng Ngàn cân treo sợi tóc. Trong khi nền kinh tế nớc ta không ngừng
phát triển vợt bậc, do sự đóng góp lớn của sản phẩm nông nghiệp. Trong đó
đỉnh cao là xuất khẩu gạo và sản phẩm của một số cây công nghiệp. Còn cây
mía vẫn đang trong tình trạng trì trệ không đợc cải thiện thêm. Đến lúc này
chúng ta kêu gọi kế hoạch sản xuất đờng liệu có phải là quá muộn không?
Dù sao chúng ta không thể để tình trạng này kéo dài. Đây là lý do em chọn
đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy đã giúp đỡ em hoàn thiện đề án này.
Voí kién thức cha đầy đủ của mình em mong thầy thông cảm cho em những
phần còn thiếu sót.
1
Phần nội dung
I . tổng quan về kế hoạch trong doanh nghiệp
1.Tổng quan vế doanh nghiệp
1.1. Khái niệm về doanh nghiệp
Trong những năm qua thế giới nói chung và các tổ chức kinh tế nói
riêng đã từng trải qua những sự thay đổi nhanh chóng, cơ bản và quyết liệt và
đầy kịch tính hơn bất kỳ điều gì chúng ta đều có thể nghĩ đến. Quá trình
cạnh tranh toàn cầu, việc sử dụng rộng rãi mạng máy vi tính và thông tin
viễn thông, các chính sách mở rộng tự do của các nớc trên thế giới, sự đổ vỡ
của bức tờng Berlin từng chia cắt miền ĐôngTây nớc Đức hàng nhiều thập
kỷ, cũng nh sự biến động khôn lờng của các nớc Đông Âu. Rồi lại dến các
cuộc khủng bố vào các nớc sừng sỏ đã biến điều bất thờng trở thành điều
bình thuờng.Việt Nam với chính sách mở cửa, chuyển đổi nền kinh tế tập
trung sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN có sự điều tiết của
nhà nớc đang vừa là động lực, vừa là cú sốc lớn cho nhiều doanh nghiệp.
chất hoạt động sẽ có các tổ chức khác nhau: tổ chức chính trị, tổ chức xã
hội, tổ chức kinh doanh Nếu xét theo mục tiêu sẽ có tổ chức nhằm mục
tiêu lợi nhuận và tổ chức nhằm mục tiêu phi lợi nhuận, xét theo tính tồn tại
thì sẽ có tổ chức ổn định và tổ chức tạm thời.
Vậy để xác định đâu là tổ chức kinh tế, chúng ta phải dựa vào mục
đích hoạt động của doanh nghiệp. Đây là điều cơ bản để ta phân biệt nó với
các tổ chức khác.
1.2.Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
Vào năm 1986 Đaị Hội Đảng lần VI tuyên bố đờng lối đổi mới bắt
đầu thực hiện chơng trình đổi mới. Trớc năm 1986 chúng ta đang nằm trong
cái bọc của nền kinh tế quan liêu bao cấp. Phạm trù xí nghiệp đợc sinh sôi
nảy nở, nó đợc hiểu là tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn, thành lập và tổ
chức quản lý, hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu chung do nhà nớc
giao cho. Hoạt động sản xuất thụ động, trông chờ từ cấp trên đa xuống, với
mục tiêt hoàn thành đúng, đủ, kịp thời số lợng từ trên đa xuống, không cần
quan tâm đến khách hàng. Điều này dẫn đến khủng hoảng kinh tế trầm
trọng. Cái ngột ngạt của cơ chế cũ đã khiến cho làn gió KTTT ùa vào đã làm
thay đổi cục diện nền kinh tế. Mục tiêu hoạt động kinh tế là tối đa hoá lợi
nhuận. Đây là mục tiêu cuối cùng mà mọi doanh nghiệp đều hớng tới. Để
thực hiện đợc điều đó doanh nghiệp cần phải làm nhiều mục tiêu trung gian
khác nhau để đạt đợc mục tiêu cuối cùng đó. Các mục tiêu trung gian chồng
3
chéo lên nhau, để đạt đợc mục tiêu trung gian này lại cần hoàn thành mục
tiêu trung gian khác.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau song có thể khẳng định trong
cơ chế thị trờng mọi doanh nghiệp đều phải nhằm vào mục bao trùm, lâu dài
là tối đa hoá lợi nhuận. Chỉ trên cơ sở này doanh nghiệp mới đứng vững trên
trong cạnh tranh, có điều kiện thực hiện tái sản xuất mở rộng, cải thiện việc
làm , nâng cao đời ích ngời lao động và thực hiện nghĩa vụ xã hội.
Một doanh nghiệp luôn phải theo đuổi nhiều mục tiêu khác nhau, hình
Dù bất kỳ một tổ chức nào cũng cần phải có quản lý. Nhất là trong
một doanh nghiệp thì nó không thể thiếu đợc. Chỉ khi có quản lý các doanh
nghiệp mới hớng các thành viên cùng theo đuổi một mục tiêu chung, và hoạt
động có hiệu quả. Nếu không có quản lý thì doanh nghiệp không còn là một
tổ chức nữa, ngày nay cùng với sự vợt bậc sản xuất thì năng lực của ngời
quản lý không ngừng đợc nâng cao.
Nhìn vào sơ đồ ta thấy bốn đỉnh của tứ giác là chất lợng, tốc độ, hiệu
quả, tính linh hoạt. Bốn đỉnh đó chịu ảnh hởng của môi trờng kinh doanh.
Nh chúng ta đã biết môi trờng kinh doanh không phải lúc nào cũng ổn định.
Sự đỏng đảnh của nó khiến cho chúng ta phải quản lý tốt.
Đúng vậy kế hoạch và quản lý là hai vấn đề lớn tạo ra sự thành công
của doanh nghiệp. Vậy kế hoạch kinh doanh là gì?
2. Khái quát kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp.
2.1. Khái niệm kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp.
Đứng trên góc độ ngời quản lý lập kế hoạch là việc xác định cần làm
gì và làm nh thế nào vì vậy nó trở thành việc lựa chọn những cơ hội về lâu
dài cần phải biết phân tích cơ hội và lựa chọn ra cơ hội tốt nhất. Ví dụ, cần
phải quyết định chào bán những chủng loại sản phẩm nào, giá bán, phơng
pháp sản xuất sẽ sử dụng, mức lơng sẽ trả và nhiều vấn đề khác vvv
Một định nghĩa kế hoạch kinh doanh đợc đa ra là: Đó là việc đa ra
mục tiêu mà doanh nghiệp cần đạt tới và những phơng thức thực hiện để đạt
đợc mục tiêu đó.
Dù trong bất kỳ thời kỳ nào thì kế hoạch kinh doanh cũng đợc hiểu
theo nghiã nh trên nhng khác nhau ở mục tiêu và phơng thức thực hiện. Nếu
nh trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp mục tiêu của
5
Chất lợng
Tốc độ
Hiệu quả
Tính linh hoạt
vật chất những con số tơng ứng trong nông nghiệp là 40 % và 70%. Chi phí
đầu vào của mỗi sanr phẩm nhất là nông phẩm có chiều hớng gia tăng. Chi
phí đầu vào của cả nền kinh tế cao là do lệ thuộc nhiều vào nhập khẩu, phẩn
nguyên liệu sản xuất trong đó chất lợng không cao, không ổn định. Ngoài ra
chi phí dịch vụ sau sản xuất kinh doanh ở mức cao( nh là chi phí kho bãi,
6
thông tin, lệ phí , hải quan ) trình độ trang thiết bị lạc hậu từ hai đến ba thế
hệ so với các nớc trong khu vực. Công nhân kỹ thuật thiếu, tay nghề thấp. Tất
cả điều đó đã làm cho năng xuất lao dộng thấp, 80% tăng trởng dựa vào vốn.
Phần đóng góp tăng trởng từ năng xuất lao động chỉ chiếm khoảng 20%
( con số này ở các nớc trong khu vực từ 35% - 45%) và vẫn còn xu hớng
giảm.
Đứng trớc tình hình hội nhập ta phải đối phó với hàng loạt vấn đề nh
trên, không loại trừ vấn đề bảo hộ thuế quan. Trong khi chính phủ khuyến
khích tự lực thì các doanh nghiệp còn trông chờ vào hỗ trợ của nhà nớc dới
các hình thức khác nhau. Tuy vậy điều nhức nhối nhất của ta là vấn đề quản
lý, quản lý không tốt là một vấn đề quan trọng kéo theo nhiều vấn đề nhất là
vấn đề sử dụng vốn đầu t.
Từ thuận lợi và khó khăn trên thì sản xuất của các doanh nghiệp không
phải là đơn giản với biến động không ngừng từ cuộc chiến tranh vùng vịnh
mà mục đích là sở hữu dầu mỏ, rrồi đến chiến tranh một số nớc trên thế giới
đã làm cung cầu sản phẩm hàng hoá biến động mạnh. Vấn đề dự báo sản
xuất đã khó khăn lại càng trở lên khó khăn hơn đối với doanh nghiệp việt
nam. Bởi chúng ta bị hạn hẹp trong thu thập thông tin, nhng không phải vì
vậy mà các doanh nghiệp sản xuất cứ sản xuất dàn trải mà không dựa vào
đâu để sản xuất. Họ phải có kế hoạch kinh doanh phù hợp.
3. Hệ thống kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp có kế hoạch sản xuất, tài chính đợc mô tả trong
sơ đồ sau:
Đúng là sản xuất rất quan trọng nhng để đạt đợc mục tiêu của mình,
để giúp họ phân tích và đa ra quyết định tuy vậy ta không đợc quên rằng kỹ
thuật đó không đa ra quyết định mà ngời ra quyết định là ngời quản lý. Một
ví dụ về việc lập dự án Satur của Generalmotors, trong đó công ty dự kiến
xây dựng một nhà sản xuất ôtô mới để chế tạo và bán loại xe nhỏ dùng cho
gia đình việc lập kế hoạch đợc xúc tiến khẩn trơng để đảm bảo chắc chắn
thành công trong một tổng thể công trình trên mặt bằng rộng 4 triệu phít
vuông và áp dụng những khái niệm tiên tiến nh tôt lắp ráp, chứ không phải
hệ thống dây chuyền lắp rap, những nguồn cung cấp duy nhất và khối lợng
dự trữ vật t chỉ dùng cho 3 giờ.
Nh vậy việc lập kế hoạch không phải là đơn giản, nó đòi hỏi phải có sự
công phu từ khâu xây dựng đến khâu thực hiên.
Dù cho nền kinh tế thị trờng có kế hoạch Marketing là hoa tiêu nhng
chúng ta không thể phủ nhận vai trò của kế hoạch sản xuất. Một doanh
nghiệp chỉ tồn tại khi họ sản xuất bởi nó là hoạt động tạo đầu vào thành đầu
ra. Kế hoạch sản xuất lại càng không thể thiếu đợc.
8
II. Kế hoạch sản xuất và kế hoạch dữ trữ trong doanh
nghiệp.
1. Vai trò của hoạt động sản xuất:
Con ngời muốn tồn tại thì phải sản xuất, từ thời nguyên thuỷ chính
loài ngời biết tập hợp thành nhóm để cùng taọ ra sản phẩm, duy trì sự sống.
Cùng với tiến hóa của loài ngời thì sản xuất cũng tiến triển theo, nó không
còn là hoạt động hái lợm săn bắn mà nó là hoạt động sản xuất, mục đích
không chỉ dừng ở lo đủ mà mong muốn giầu có. Vào 1778 có cuộc cách
mạng KHCN tại đây đánh dấu một bớc vợt trội trong sản xuất. Nó khẳng
định sự phát triển vợt bậc của loài ngời. Sản xuất dới tác động của khoa học
công nghệ đã làm cho năng xuất lao đông không ngừng tăng lên cho đến khi
sản xuất quá nhiều so với nhu cầu, đó là lý do tạo ra cuộc khủng hoảng thừa
trong sản xuất vào những năm 1929 1933. Vấn đề đặt ra cho sản xuất
ngày càng khắt khe hơn vì vậy nền sản xuất hiện đại mang những đặc điểm
phân công việc và trách nhiệm, điều này tác động cả công nhân và ngời quản
lý.
Đặc điểm thứ sáu: Thừa nhận rằng những nhà máy sản xuất hàng loạt,
lớn, cũ của chúng ta có thể gặp trở ngại lớn do sự tiến bộ. Ngày càng nhiều
các đơn vị độc lập, nhỏ có tính mềm dẻo.
Đặc điểm thứ bẩy: Cơ khí hoá hiện đại hoá. Cách mạng công nghiệp là
ứng dụng ý tởng cơ khí hoá. Đến nay việc cơ giới hoá đã đi quá xa đến nỗi
chúng ta không còn xem nó là một đặc điểm sản xuất nữa. Việc sử dụng máy
móc đã trở thành một bộ phận của đời sống, dù ta đang cắt cỏ hay đang điều
hành một xởng máy. Tuy nhiên cũng cần nhắc một điều việc robot hoá và tự
động hoá có thể dẫn đến đỉnh cao nhng qúa tốn kém. Điều đáng quan tâm là
việc cải tiến thờng xuyên, có kế hoạch nhằm nâng cấp hiện đại hoá những
máy móc hiện đại để kết hợp tận dụng mọi thiết bị máy móc. Mặc dù bao
nhiêu năm nay con ngời đã chuyền đợc những kỹ năng thủ công cho máy
móc, nhng chỉ mới đây chúng ta mới có khả năng chuyền đợc một số nhất
định những khả năng của trí óc cho máy móc. Nói cách khác, ngày nay một
số máy móc có thể hoàn thành công việc của mình không cần phải hỗ trợ của
t duy con ngời trong suốt cả quá trình. Điều đó đã dẫn đến sử dụng rộng rãi
điều khiển bằng số, tự động hoá các kiểu và những hệ thống sản xuất mềm
dẻo, và dẫn đến ớc mơ về một xởng may hoàn toàn tự động.
Đặc điểm thứ tám : Ngày càng sử dụng nhiều máy điện tử hơn nó cho
phép lu trữ rất nhiều số liệu thiết lập các cơ sở dữ liệu, giải quyết các vấn đề
về kỹ thuật và kinh doanh phức tạp với một tốc độ nhanh không thể tởng t-
ợng nổi. Phạm vi ứng dụng rộng rãi và các thiết bị sử lý số liệu đợc mở rộng
nhanh chóng những kỹ thuật mới đợc mang ra ứng dụng. Việc tiếp tục phát
10
triển những bộ vi sử lý và khả năng của máy tính hứa hẹn một sự hỗ trợ đắc
lực hơn nữa trong công tác quản lý, săn xuất cho phep nhanh chóng đa ra
những câu trả lời cho những vấn đề liên quan đến mẫu mã, xoá bỏ nhiều
công việc văn phòng không cần thiết, điều khiển nhiều loại quá trình sản
11
Khi không thể thực hiện đợc sản xuất liên tục thì ngời ta áp dụng loại
hình sản xuất này.Tuỳ thuộc số lợng sản xuất lớn hay nhỏ, thì ngời ta sử
dụng kiểu sản xuất gián đoạn với kiểu sản xuất là sản phẩm gia công theo lô
chứ không phải trên cơ sở sản phẩm liên tục. Chức năng của ngời kỹ s thiết
kế quy trình kinh tế xác định mô hình của lô sản xuất sao cho kinh tế đối với
ngành, tiết kiệm cụm và khối, sản xuất gián đoạn đặc biệt thích hợp với
những doanh nghiệp chế tạo nhiều loại sản phẩm , chẳng hạn nh một vài thiết
kế một vài máy bơm nớc theo cùng một thiết kế. Trong những trờng hợp nh
vậy ngời ta thờng tiêu chuẩn hoá các chi tiết cấu thành để có thể sử dụng
nhiều loại sản phẩm khác nhau hay nhiều sản phẩm kích cỡ khác nhau. Càng
có nhiều yêu cầu sản phẩm thì càng đảm bảo đợc những quy mô lô sản xuất
tối u về kinh tế.
Sản xuất đơn chiếc loại nhỏ, sản xuất gián đoạn thờng còn có nghĩa là
sản xuất đơn chiếc loại nhỏ, tức là sản xuất theo đơn hàng của khách hàng
hay theo yêu cầu đặc biệt. Sản xuất đơn chiếc nhỏ là nét đặc trng của doanh
nghiệp chế tạo những máy móc thiết bị lớn đắt tiền. Khách hàng có thể đặt
một hai hay nhiều đơn vị sản phẩm: Lệnh sản xuất chỉ bao gồm một lô và
vật t cũng đợc mua sắm theo lô do những đơn vị sản phẩm làm xong,sẽ đợc
giao luôn. Sản phẩm này có thể đợc xem là thông thờng khi nhà chế tạo vẫn
đang sản xuất nó, nhng các đơn vị sản phẩm đợc xem là sản xuất xong khi
chúng đợc bán hết.
Mặc dù trong một số trờng hợp có thể có những đơn hàng lặp lại,khả
năng này không đợc tính đến trong khi thiết kế các quy trình sản xuất và
trong khi tính giá thành sản phẩm . Mặt khác các công cụ,khuôn mẫu chuyên
dùng vẫn đợc lu giữ lại đề phòng những trờng hợp đột xuất nh vậy. Điều này
đặt ra vấn đề khó khăn cho ngời sản xuất đơn chiếc loại nhỏ phải bảo quản
những thứ đó.
Các kiểu sản xuất hỗn hợp,trong sản xuất hàng hoá hầu hết các ngành
công nghiệp đều sử dụng hai loại sản xuất liên tục và gián đoạn. Trong khi
+ Sản phẩm phụ của nó là gì?
+ Vấn đề dự trữ ra sao
Việc trả lời câu hỏi đặt doanh nghiệp ở đâu? Không phải dễ dàng xác
định địa điểm cho một nhà máy mới, hay một chi nhánh ở một nơi thích hợp
lại có ý nghĩa to lớn, bởi vì các tổ chức này hoàn toàn không cơ động, một
khi đã xây dựng ở một nơi nào thì sẽ ở đó mãi mãi. Hơn nữa, địa điểm nhà
máy có thể ảnh hởng rất lớn chi phí khai thác lợi nhuận.Vì vậy, cần phải
phân tích kỹ lỡng địa điểm của nhà máy. Điều này đồng nghĩa với câu trả lời
sản xuất ở đâu.Vấn đề này phụ thuộc vào giao thông vận tải, nguồn nhân lực
13
gần thị trờng, gần nguồn nguyên liệu, gần nhà máy hiện có, chi phí đất đai,
tài nguyên thiên nhiên.
Sản xuất bao nhiêu? Trả lời câu hỏi này doanh nghiệp phải căn cứ vào
thị trờng.Trong việc này, thì dự báo thị trờng là việc làm cần thiết và cần phải
chính xác. Sử dụng đầu vào và các sản phẩm phụ đầu ra nh thế nào để tiết
kiệm đợc chi phí sao cho lợi nhuận đợc cao. Nhất là vấn đề dự trữ cần phải đ-
ợc đảm bảo sao cho hợp lý. Đây là vấn đề nhạy cảm bởi nó là một chuỗi các
mâu thuẫn đòi hỏi doanh nghiệp cần phải giải quyết.
III. Kế hoạch dự trữ trong doanh nghiệp .
1. Lý do dự trữ
Không phải ngẫu nhiên mà doanh nghiệp muốn dự trữ, có rất nhiều lý
do, dới đây là một trong những lý do mà em đề cập tới.
Việc dự trữ giúp doanh nghiệp ngăn ngừa những trục trặc về vật chất
kinh tế đối với các hoặt động cung ứng vật t hàng hoá, để đảm bảo đúng nơi
nó cần đến.
Thứ hai, chống lại sự gián đoạn của quá trình cung cấp do các nguyên
nhân không mong đợi nh thời tiết, tai nạn, đình công
Thứ ba nó đảm bảo quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ liên tục,
nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng, khắc phục đợc các sai sót trong
dự đoán cầu về hàng hoá của doanh nghiệp .
2.Chi phí của dự trữ:
2.1 Chi phí tăng lên khi tăng dự trữ:
- Chi phí vốn : Đầu vào dự trữ phải đợc xem xét nh tất cả các cơ hội
đầu t ngắn hạn khác. Trong điều kiện nguồn vốn giới hạn, đầu t vào dự trữ
phải chấp nhận phí tổn về cơ hội của vốn đầu t vào dự trữ và tỷ suất sinh lời
của dự án có lợi đã bị bỏ qua. Sự gia tăng dự trữ làm tăng vốn cho dự trữ và
chấp nhận phí tổn cơ hội vốn cao.
- Chi phí kho: Bao gồm chi phí lu giữ nh chi phí kho bãi, tiền lơng
nhân viên, quản lý kho bãi, các điều kiện bảo quản dự trữ (giữ nóng, chống
ẩm, làm lạnh)
- Thuế và bảo hiểm: Chống lại rủi ro gắn với quản lý dự trữ, công ty có
thể phải tổn chi phí bảo hiểm, chi phí này sẽ tăng khi tồn kho tăng. Dự trữ là
một tài sản, nó có thể bị đánh thuế do đó dự trữ tăng chi phí thuế tăng.
- Rủi ro kinh doanh: Trong thời gian dự trữ sản phẩm để lâu có thể bị
lạc hậu và giảm giá.
2.2 Các chi phí giảm khi tồn kho tăng:
- Chi phí đặt hàng: Là các chi phí phát sinh theo mỗi lần đặt hàng và
nhận hàng nh chi phí ớc lợng, thơng lợng do chuẩn bị đơn hàng, tiếp nhận
15
Quy mô lô hàng lớn sẽ có ít lần đặt hàng hơn thì chi phí đặt hàng trong năm
ít hơn vì số lần đặt hàng ít. Song đặt hàng quy mô lớn dự trữ bình quân tăng
lên và hiển nhiên chấp nhận chi phí dự trữ cao.
- Giảm giá do chiết khấu khối lợng lớn: Đặt hàng quy mô lớn có thể đ-
ợc hởng sự giảm giá chiết khấu.
- Chi phí chuẩn bị sản xuất: Các hệ thống sản xuất chế tạo cần chi phí
cho mỗi lần chuẩn bị sản xuất gồm, chi phí chuẩn bị tài liệu, máy móc nhàn
rỗi, chi phí nhân công chuẩn bị ,phế phẩm do sản xuất thử
Khi dự trữ tăng thì nó sẽ làm giảm một số chi phí và làm tăng các chi
phí khác. Mức dự trữ hợp lý là cực tiểu hoá tổng chi phí có liên quan, muốn
làm tốt việc này đòi hỏi phải có một kế hoạch dự trữ hợp lý.
chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, cây mía đợc hai huyện Trà Cú và
Tiểu Cần xem là cây chủ lực. Từ khi có nhà máy đờng công suất 15000tấn
mía cây /ngày của tổng công ty mía đờng I chuyển về địa phơng tại xã Lu
Nghiệp Anh, huyện Trà Cú, cây mía bắt đầu phát triển mạnh ở vùng lân cận
nhà máy.
Đó là ví dụ điển hình về vai trò to lớn của các doanh nghiệp sản xuất
đờng. Chúng ta không thể phủ nhận điều đó, nhng chúng ta không thể làm
ngơ trớc những khó khăn mà doanh nghiệp mắc phải do những đặc điểm đặc
thù của sản phẩm gây ra.
1.2. Các đặc điểm của sản phẩm đờng.
Sóc trăng là vùng trồng mía có năng xuất cao nhất ở ĐBSCL, mùa thu
hoạch mía năm 2002 các hộ bán đợc giá mía rất cao, bình thờng là 200-390
đồng/kg. Cuối vụ có hộ bán đợc với giá 500đ/kg.Còn năm 2003 cây mía
trồng ngoài đồng không ai mua. Nguyên nhân do năng xuất mía lên cao,
nguồn dự trữ đờng của các nhà máy từ năm trớc để lại nhiều, nếu thời kỳ
thuận lợi thì làm sản lợng tăng lên nữa. Vụ mía năm 2001 2002 càng về
cuối giá mía lên càng cao ( 350000 370000đ/tấn) đã kích thích nông dân
gia tăng trồng mía cho vụ 2002 2003, điều này ảnh hởng tới mức dự trữ
sản phẩm đờng, đặc biệt vấn đề dự báo rất khó khăn bởi không phải cái gì
cũng có thể dự đoán chính xác đặc biệt là vấn đề liên quan đến thời vụ.
Một đặc trng nữa của sản phẩm đờng là rất khó bảo quản bởi nó liên
quan đến thời tiết, nhiệt độ chi phí dự trữ và bảo quản tăng lên. Vì vậy đối
với dự trữ và bảo quản sản phẩm đờng sao cho hợp lý.
Ngoài ra nó còn rất nhạy cảm với thị trờng thế giới và nguồn nguyên
liệu đầu vào. Nếu sản lợng mía quá nhiều cộng với lợng d thừa của kỳ trớc,
nhu cầu tăng không tơng xứng gây ảnh hởng tiêu cực đến sản phẩm đờng. Dự
đoán sản phẩm đờng của liên linh châu Âu trong liên vụ 01-02 tăng từ 16
17,4 triệu tấn đẩy giá đờng giảm xuống đến mức kỷ lục. Lợng đờng tại liên
17
minh châu âu, thổ nhĩ kỳ, Nam phi, úc, Mỹ và Braxin tăng mạnh sẽ gây áp
trình cung ứng do nguyên nhân không mong đợi nh thời tiết, đảm bảo quá
trình sản xuất và cung ứng dịch vụ liên tục nhằm thoả mãn tối u đòi hỏi của
18
khách hàng khắc phục sự sai xót trong dự đoán cầu, giảm một số chi phí
trong đặt và mua hàng
2. Hiện trạng cung cấp nguyên liệu cho sản phẩm đ ờng.
Theo bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn vụ mía đơng 01 02
diện tích mía ớc tính đạt 310000 ha, tăng 2,3 % so với vụ trớc. Trong đó diện
tích trồng mía thuộc phần quy hoạch của các nhà máy đờng là 233100 ha
chiếm 75,2 % tổng diện tích trồng mía cả nớc. Năng xuất mía bình vụ 01- 02
ớc đạt 50 tấn/ha tăng 3 tấn/ha so với vụ trớc, sản lợng mía ớc đạt 15,5 triệu
tấn tăng gần 1 triệu tấn. Tuy nhiên so với tổng công xuất cán ép của các nhà
máy chế biến đờng công nghiệp vụ 01- 02 khoảng 82800 tấn mía cây/ngày
thì sản lợng mía vẫn còn thiếu hụt lớn. đây là nguyên nhân làm giá mía cây
vụ 01- 02 liên tục tăng. Trong vụ 02-03 một số nhà máy đờng đã vận hành
với công xuất gấp đôi, ba công xuất thiết kế. Thế nhng tại nhiều vùng mía
nguyên liệu, mía quá tuổi thu hoạch đã chết khô trên đồng mà không có ngời
đến mua. Ngời trồng mía quá bối rồi phải chạy ngợc chạy xuôi tìm đờng đa
cây mía tới trực tiếp nhà máy, một việc làm không dễ chút nào! Do ảnh hởng
của vụ trớc đã làm cho sản lợng trồng mía mở rộng thêm, theo số liệu 2002-
2003 diện tích mía là 317,4 ngìn ha sản lợng đạt 16823,5 nghìn tấn tăng
14,8% so với vụ trớc. Tuy vậy chất lợng giống mía cha tốt, để tìm giải pháp
ổn đinh cho các nhà máy sản xuất đờng, bộ NN & PTNT mới đây đa ra dự
thảo đề án phát tiển giống mía cho vùng nguyên liêu cho các nhà máy đơng
giai đoạn 03-08 nhiều nhà quản lý cho rằng năng xuất mía trên một số diện
tích dù có tăng cao nhng sự gia tăng ấy còn chậm và không đều. Nguyên
nhân vì vẫn còn tình trạng thiếu giống mía tốt giá hợp lý đáp ứng đúng yêu
cầu trông mới tại chỗ. Ngành mí đờng những năm qua đã nhập nội và chọn
lọc từ các nứơc đợc hơn 10 giống mía thâm canh có năng xuất cao. Các loại
giống này đợc khảo nghiệm, khu vực hoá ở 28 điểm đại diện cho các vùng
3. Nhu cầu sản xuất đ ợc.
Sản lợng đờng tăng, nhập lậu tăng đã làm tồn kho đờng tăng mạnh là
nguyên nhân làm gía đờng trong nớc những nănm qua có xu hớng giảm
mạnh nhng giá đờng trong nớc còn cao hơn so với các nớc trong khu vực
Năm 2000 2001 2002 2003
Giá đờng 5250 6640 5800
Sản lợng 1208,7 1059,5 1077,8 1100
20
Vậy nhu cầu sản xuất đờng ngày càng tăng, nhng để chiếm đợc thị tr-
ờng trong nớc là điều khó khăn. Nghĩ đến xuất khẩu liệu có phải là quá xa
vời. Hiệp hội mía đờng cho biết, sản lợng đờng công nghiệp 2003 theo đăng
ký 44 nhà máy cả năm sẽ đạt 962000 tấn đờng tồn kho từ vụ trớc. Tổng
nguồn cung sẽ tăng lên 1,2 triệu tấn. So với nhu cầu trong nớc ngành mía đ-
ờng nội địa sẽ d thừa từ 200 nghìn đến 300 nghìn tấn đơng.Để giải quyết nó
chúng ta đã tính đến xuất khẩu đởng. Nhng vấn đề này trở lên không tởng
khi mà giá đờng tiếp tục hạ thấp, sản lợng đờng lu thông hạn chế đây là nguy
cơ làm cho nganh mía đờng trong nớc trợt dài trên con đờng thua lỗ. Theo số
liêu báo cáo từ bộ NN&PTNT cho biết có đến 38/44 nhà máy chế biên đờng
trên cả nớc thua lỗ trong thời gian này gần 300 tỷ đồng, trong đó có 5 doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. nguyên nhân của sự thua lỗ là thiếu quy
hoạch đầu t vùng nguyên liệu, không ký hợp đồng mua mía của nông dân,
năng xuất mía trung bình đạt từ 50 tấn/ha chỉ gần bằng 75% năng xuất trung
bình trên thế giới.
Trữ lợng sản phẩm đờng rất bấp bênh, qua mỗi năm mỗi khác có thể liên
vụ năm nay tiêu thụ nhiều mía sản xuất ra nhiều sản phẩm đờng nhng liên vụ
năm tới mía trồng ra để làm củi. Vì vậy dự báo nhu cầu làm một việc làm
cần thiết, quy hoạch vùng nguyên liệu hiện tại rất khó khăn đòi hỏi các cấp
ngành phải thực hiện nhanh chóng.
4.Những vấn đề cốt yếu của sản xuất và dự trữ đ ờng.
Điều khó nhất trong công tác lập kế hoạch kinh doanh ở Việt Nam
năng lực hoạt động là việc làm cần thiết để doanh nghiệp thu mua sản lợng
mía của ngời dân nhiều hơn, tránh đợc thua lỗ cho dân. Nhng để doanh
nghiệp có lãi thì chất lợng mía phải tốt, năng xuất cao, chi phí thấp để thực
hiện đợc điều này thì phải đổi mới phơng thức sản xuất và quản lý. Vấn đề
dự trữ cần phải xem xét dựa vào đặc trng của sản phẩm.
22
Kết luận
Trong thời đại ngày nay hoạt động sản xuất phong phú và đa dạng.
Nền kinh tế thị trờng biến động không ngừng, nó giống nh một cô gái đẹp
hấp dẫn nhng đỏng đánh khó năm bắt. Nếu không có kế hoạch sản xuất thì
doanh nghiệp sẽ mò mẫm không biết sản xuất sẽ đi đến đâu. Nhng rất tiếc
các doanh nghiệp Việt Nam lại xem nhẹ vấn đề này, nhiều doanh nghiệp lập
kế hoạch xong rồi để đấy hoặc thực hiện không đúng kế hoạch. Trong các tr-
ờng đại học không có hẳn chuyên ngành về vấn đề này. Từ nhiều thiếu xót
trong hiện thực, với sự trì trệ của các doanh nghiệp sản xuất thì vấn đề kế
hoạch sản xuất phải nâng ở tầm cao mới.
Một ví dụ điển hình là doanh nghiệp sản xuất đờng, một doanh nghiệp
có truyền thống tồn tại lâu năm vậy mà giờ đây đang chênh vênh trên bờ vực
một bên là lỗ hàng tỷ đồng cộng với nợ ngời dân, một bên là khoản vốn đầu
t khổng lồ của nhà nớc và lợng mía ngời dân trồng. Vấn đề kế hoạch sản xuất
và dự trữ đợc các doanh nghiệp này nâng cao hơn khi nào hết.
23
Mục lục
Phần mở đầu
Phần nội dung
I. Tổng quan về kế hoạch trong doanh nghiệp
1. Tổng quan về doanh nghiệp
1.1. Khái niệm về doanh nghiệp
1.2. Mục itiêu hoạt động cảu doanh nghiệp
25