LUẬN VĂN:
Tính tất yếu của qúa trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự
nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam A)Đặt vấn đề
Công nghiệp hoá hiện đại hoá là một chủ trương lớn của Đảng, chính phủ
nước ta hiện nay, đang thực sự trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà
lãnh đạo, các nhà nghiên cứu, của mọi doanh nghiệp và của toàn xã hội.
ở nước ta vấn đề công nghiệp hoá nền kinh tế được đặt ra từ năm 1960 trong
văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III. Nhưng sau đó chúng ta phải tập trung
nhân, tài, vật lực cho việc hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân
giải phóng miền nam thống nhất đất nước, chống chiến tranh phá hoại miền bắc của
đế quốc mỹ, nên việc thực hiện chủ trương công nghiệp hoá chưa được bao nhiêu,
B)Nội dung
I.Đưa đất nước ta đi lên CNXH là sự lựa chọn duy nhất, đúng đắn của
Đảng và nhân dân ta
1.Cơ sở lý luận
1.1.Khái niệm về chế độ XHCN
Nội dung cơ bản của thời đại ngày nay là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
CNXH, là thời đại đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội trên phạm vi toàn thế giới. Lịch sử loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã
hộ là: Công sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩ, XHCN.
Nhưng cho đến nay, xã hội XHCN là mang tính ưu việt nhất, là giai đoạn thấp của
hình thái kinh tế xã hội công sản chủ nghĩa, là xu hướng tất yếu của lịch sử. Vì vậy
ta cần tìm hiểu về chế độ CNXH với những đặc trưng quan trọng của nó.
CNXH là một chế độ xã hội được xây dựng trên cơ sở từng bước thiết lập
chế độ sở hữu XHCN về tư liệu. Chế độ này thường xuyên được củng cố, hoàn
thiện, bảo đảm luôn thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Chủ nghĩa Mác– Lênin đã phác hoạ CNXH với những nét đặc trưng cơ bản
sau:
Xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về những tư liệu sản xuất chủ yếu và thiết
lập chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất với hai hình thức cơ bản: sở hữu toàn
dân và sở hữu tập thể
Phát triển nền sản xuất xã hội với tốc độ ngày càng lớn trên cơ sở khoa học
kỹ thuật công nghệ ngày càng hiện đại, năng xuất lao động ngày càng cao để tạo ra
ngày càng nhiều của cải cho xã hội đảm bảo thoả mãn ngày càng đầy đủ nhu cầu vật
chất văn hoá cho nhân dân lao động, không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội.
Đảm boả cho mọi người có quyền bình đẳng trong lao động sáng tạo và được
hưởng thụ lao động theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”.
Sau khi dự báo chủ yếu vào sự bùng nổ hàng loại của cách mạng ở các nước
tư bản phát triển, Các Mác và Ph.Ăng – ghen cũng đã bổ sung dự báo cách mạng
XHCN từ hiện thực ở các nước mà chủ nghĩa tư bản mới ra đời, còn tồn tại những
tàn tích nặng nề của chế độ phong kiến thời trung cổ. Hai ông cho rằng cách mạng
có thể nổ ra ở những nước này trước khi nó nổ ra ở những nước tư bản phát triển.
Theo hai ông, điều đó cũng giống như căn bệnh có thể bộc lộ ở tứ chi của cơ thể
trước khi lan tới tim.
Lênin căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử mới đã khẳng định: ở các nước tương đối
kém phát triển, ở đó các quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa còn chiếm ưu thế cũng có
khả năng quá độ lên CNXH khi có những điều kiện thích hợp.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, sự thay thế hình thức kinh tế xã hội
này bằng một hình thức kinh tế xã hội mới tiến bộ hơn là một quy luật tất yếu. Tuy
nhiên, muốn đạt được CNXH thì giai cấp công nhân phải thực hiện cuộc cách mạng
XHCN. Cách mạng XHCN phát sinh từ nhu cầu giải quyết mâu thuẩn cơ bản trong
xã hội tư bản, đó là giải phóng lực lượng sản xuất đã mang tính xã hội hoá cao ra
khỏi sự kìm hãm của quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về
tư liệu sản xuất.cách mạng XHCN là cuộc cách mạng toàn diện, triệt để và sâu sắc
nhất trong lịch sử, đồng thời nó là cuộc cách mạng diễn ra gay go, phức tạp, lâu dài.
Việc giành được chính quyền mới chỉ là thắng lợi bước đầu. Nhiệm vụ cơ bản, lâu
dài là phải hoàn thiện các yếu tố của lực lương sản xuất và quan hệ sản xuất, tiến
hành cải tạo xã hội cũ và xây dựng thành công CNXH. Hay nói cách khác, đó là quá
trình quá độ lên CNXH. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng tất cả các dân tộc
đèu đi lên XHCN là một tất yếu lịch sử và thực hiện cách mạng XHCN là con
đường duy nhất để tiến tới xã hội XHCN. Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 do
Lênin lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nước đứng lền lật đổ
chế độ Nga hoàng, khai sinh một hình thấi kinh tế xã hội mới – hình thái kinh tế xã
hội XHCN đã biến lý luân thành hiện thực sinh động. Thắng lợi cả cuộc cách mạng
đó đã mở ra thời đại mới, thời đại thắng lợi của một trật tự XHCN, thời đại thể hiện
trong thực tiền những ước mơ, khát vọng chân chính của con ngưỡi là xoá bỏ mọi
Quá độ lên CNXH ở mỗi nước có những nét đặc thù do điều kiện lịch sử cụ
thể của đất nước đó. Nhiệm vụ của các Đảng cộng sản và nhân dân mỗi nước là vận
dụng những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên
CNXH vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể phù hợp với đặc điểm và truyền thống quý báu
của nước mình, đồng thời tận dụng các ưu thế của thời đại để định ra mục tiêu tổng
quát, phương hướng và bước đi thích hợp nhằm thực hiện thành công bước quá độđi
lên CNXH. Lênin viết: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên CNXH, đó là điều không
tránh khỏi, nhưng các dân tộc tiến tới CNXH không phải một cách hoàn toàn giống
nhau, mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này, hay hình thức khác
của chế độ dân chủ vào loại này, hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp
độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo XHCN đối với các mặt khác nhau của đời
sống xã hội .”
Nước ta quá độ lên CNXH không qua chế độ từ bản chủ nghĩa là sự lựa chọn
phù hợp với đặc điểm tình hình của đất nước và xu thế phát triển của thời đại.
Việc lựa chọn con đường cách mạng vô sản, từ cách mạng giải phóng dân
tộc, tiến tới mục tiêu CNXH được quyết định Ngay từ Cương lĩnh đầu tiên, ngày
Đảng ta mới thành lập, năm 1930. Điều đó dựa trên hai căn cứ chủ yếu là chỉ có
CNXH mới giải phóng được nhân dân lao động thoát khỏi áp bức bóc lột, bất công,
đem lại cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc cho nhân dân và cách mạng XHCN
tháng 10 Nga năm 1917 thành công đã mở ra khả năng thực hiện cho những dân tộc
lạc hậu tiến lên CNXH
Lịch sử cũng đã chứng minh điều đó. Từ khi thực dân pháp xâm lược nước ta
đến năm 1930, các phong troà cứu nước của dân ta theo ý thức phong kiến, tiểu tư
sản, tư sản đều bị thất bại. Năm 1930 dcsvn ra đời đã lãnh đạo nhân dân ta từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác và đi đến thắng lợi hoàn toàn. Sự khảo nghiệm đó của
lịch sử dân tộc đã khẳng định: muốn cứu nước và gpdân tộc thì chỉ có con đường
cách mạngvs. Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, Đảng đã đòn kết được cả
hình thành XHCN ở Liên Xô đã tạo điều kiện giúp cho quá trình đi lên CNXH ở
nước ta rất nhiều, đặc biệt là những kinh nghiệm quý giá trong quá trình hình thành
và phát triển CNXH ở Liên Xô. Tuy CNXH hiện nay đã sụp đổ ở Liên Xô, nhưng
những bài học kinh nghiệm đó sẽ giúp chúng ta xác định được phương hướng đúng
đắn trong thời kỳ quá độ.
Điều kiện bên trong của sự quá độ tiến thẳng lên CNXH là phải hình thành
được các tổ chức Đảng cách mạng và cộng sản, phải giành được chính quyền về tay
mình, xây dựng được tổ chức nhà nước mà bản chất là xô viết nông dân và xô viết
những người lao động. điều này thì chúng ta đã thực hiện được và ngày càng hoàn
thiện tổ chức Đảng và nhà nước.
Như vậy, điều kiện lịch sử và những tiền đề nói trên khẳng định đi lên
CNXH ở nước ta là một tất yếu lịch sử, là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn. Tuy
nhiên, muốn cho CNXH trở thành hiện thực, chúng ta còn phải trải qua nhiều gian
lao thử thách
2.2.Sự lựa chọn con đường CNXH trong giai đoạn hiện nay.
Hiểu rõ tính tất yếu của sự quá độ lên CNXH ở nước ta, Đảng và nhân dân ta
kiên trì với mục tiêu CNXH. Đây là vấn đề rất quan trọng trong tình hình lịch sử
hiện nay và cả trong tương lai. Sự kiên trì đó có cở sở là sự giác ngộ trước đây của
nhân dân ta về những CNXH. Gần đây đường lối đổi mới của Đảng đã đi vào cuộc
sống, đem lại những thắng lợi bước đầu rát quan trọng. Điều đó giúp cho chúng ta
vững tin vào con đường CNXH đã lựa chọn.
Tuy nhiên, hiện nay xuất hiện một số nguy cơ đối với con đường đi lên
CNXH ở nước ta.
Trước hết, là cuộc khủng hoảng rất nghiêm trọng của các nước XHCN, đặc
biệt là sự sụp đổ của chế độ CNXH ở một số nước đã tác động lớn đến tâm tư, tình
cảm, nhận thức của con người về CNXH, Sự tan rã nhanh chóng của nhiều nước
XHCN làm cho một số người dao động, mất đi lòng tin vào CNXH đã được xây
niệm về xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng được trên những nét chủ yếu quan
niệm về xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng và con đường xây dựng XHCN.
Với quá trình đổi mới, Đảng ta đã từng bước tìm được bước khắc phục khủng hoảng
kinh tế xã hội. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, Đảng viên, cốt cán của ta vẫn trung
thành với sự nghiệp cách mạng, vẫn là một tập thể đoàn kết, vững vàng về chính trị,
có khả năng lãnh đạo đất nước, đối phó với những khó khăn, thử thách.
Nói tóm lại, để đi lên xã hộ chủ nghĩa là lựa chọn duy nhất đúng đắn của
Đảng và nhân dân ta.
3.Đặc điểm nước ta đi lên XHCN
3.1 Nhận xét chung tình hình:
Xuất phát từ thực trạng nền kinh tế nước ta từ trước chúng ta thấy rằng khó
khăn lớn nhất là nước ta nghèo và kém phát triển, thu nhập bình quân đầu ngươi còn
thuộc vào diện thấp nhất trên thế giới. hơn nữa trong sản xuất còn chưa cần kiệm
cũng như chưa tiết kiệm trong tiêu dùng và dồn vốn lớn cho đầu tư phát triển trong
khi ngân sách còn eo hẹp. Tình trạng tiêu xài lãng phí của công còn chưa được ngăn
chặn và xử lý thích đáng. Bên cạnh đó, trong bộ máy Nhà nước, tổ chức Đảng và
đoàn thể còn tồn tại nhiều tiêu cực. Hệ thống lập pháp và hành pháp còn chưa
nghiêm, pháp luật còn chưa chặt chẽ để nhiều chỗ hở khiến cho kẻ xấu lợi dụng làm
thiệt hại không ít tiền của. Một khó khăn khó có thể tránh khỏi trong cơ chế thị
trường, đó là nạn thất nghiệp gia tăng, phân cách giàu nghèo ngày càng lớn. Việc
lãnh đạo, xây dựng quan hệ sản xuất còn nhiều lúng túng và vướng mắc. Quản lý
nhà nước về kinh tế – xã hội còn yếu. Cơ cấu cán bộ còn nhiều nhược điểm như đội
ngũ cán bộ có năng lực và trình độ lãnh đạo còn kém, không phù hợp với cơ chế
mới: Bộ máy chính quyền còn chậm chạp trong tổ chức quản lý điều hành, thủ tục
hành chính còn quan liêu rờm rà, gây phiền nhiễu cho nhân dân. Về mặt xã hội, chất
lượng giáo dục đào tạo, y tế nhiều nơi còn yếu kém nhất là ở các vùng nông thôn,
vùng rừng núi xa xôi hay ở ngoài hải đảo. Các tệ nạn xã hội gia tăng mạnh mẽ, trật
Từ sản xuất nhỏ tiến thẳng lên CNXH, đi đôi với cách mạng quan hệ sản
xuất, chúng ta phải tiến hành cách mạng kỹ thuật nhằm nhằm biến lao động thủ côg
thành lao động cơ giới, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật mới của XHCN. Hiện
nay, trên thế giới, khoa học kỹ thuật đang rất phát triển ở nhiều nước. Vì vậy,lực
lượng phát triển sản xuất của nước ta vừa phải phát triển tuần tự theo quy luật
chuyển từ sản xuất sang sản xuất lớn, vừa có thể và cần phải phát triển nhảy vọt lên
cơ giới hoá và tự động hoá.
Xây dựng CNXH còn phải xây dựng những con người mới CNXH, đem lại
giá trị chân chính cho con người. Do đó, song song với cuộc cách mạng vê kinh tế,
tất yêu phải tiến hành cách mạng về tư tưởng, tinh thần và văn hoá của toàn xã hội
Xây dựng nền sản xuất lớn XHCN ở nước ta thực chất là quá trình cải biến
quan hệ sản xuất đi đôi với tiến hành cách mạng kỹ thuật, biến lao động thủ công
thành lao động cơ giới, là quá trình phân công lại lao động xã hội, xây dựng nền
kinh tế dân tộc tự chủ, đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài. Để làm
điều đó, chúng ta phải biết xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý và tiến hành một sự
phân công lại lao động mới.
Trước năm 1986, đường lối phát triển kinh tế ở nước ta tập trung vào hoàn
thiện quan hệ sản xuất XHCN nhưng không phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất. Trong đường lối công nghiệp hoá thì chú trọng phát triển công
nghiệp nặng không chú ý đến thực tế của Việt Nam. Cơ chế quản lý tập trung quan
liêu bao cấp. Do đó đã làm nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng.
Đến đại hội VI năm 1986. chúng ta đã tiến hành đổi mới và thu được những
kết quả khả quan. Đại hội VI, VII, VIII, IX đều khẳng định phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần là chủ trương chiến lược lâu dài và là đặc trưng của thời kỳ quá độ
lên CNXH tức là khẳng định tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nhiều thành
phần kinh tế trong thời kỳ quá độ. Năm 1986 cũng đánh dấu bước đổi mới về đường
lối công nghiệp hoá, điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế theo đường lối tập trung thực hiện
các nước, ở các thời kỳ thêm đa dạng.
Kết hợp quan niệm truyền thống với quan niệm hiện đại và vận dụng vào
điều kiện cụ thể của Việt Nam, hội nghị lần thứ VII ban chấp hành TW Đảng khoá
VII đã đưa ra quan niệm mới về công nghiệp hoá hiện đại hoá và đây cungx chính
là quan niệm được sử dụng một cách phổ biến ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Theo tư tưởng này, công nghiệp hoá hiện đại hoá là qúa trình chuyển đổi căn bản
toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ
sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự
phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ tạo ra năng suất lao
động xã hội cao
1.2Vai trò và những mục tiêu nhiệm vụ của công nghiệp hoá hiện đại hoá
Vai trò của công nghiệp hoá
Một là phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế, khắc phục nghuy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh
tế giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần ổn định và
nâng cao đời sống của nhân dân.
Hai là, củng cố và tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước, nâng cao năng
lực tích luỹ, tạo công ăn việc làm khuyến khích sự phát triển tự do và toàn diện của
mỗi cá nhân.
Ba là, tạo điều kiện vật chất cho việc tăng cường củng cố an ninh quốc
phòng.
Bốn là, tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,
đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân công và hợp tác quốc tế.
Mục tiêu nhiệm vụ của công nghiệp hoá hiện đại hoá:
Do vị trí và tầm quan trọng của các tác dụng nói trên của công nghiệp hoá và
hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, nên qua tất cả các kỳ đại hội Đảng ta luôn luôn
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại.
Chính sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí với sản xuất ngày càng
xã hội hoá đã tự phát tạo ra tiền đề vật chất khách quan cho sự ra đời của phương
thức sản xuất mới: phương thức sản xuất cộng sản chủ nghiã mà giai đoạn đầu của
nó là CNXH. tính tất yếu đó đã được chứng minh trong sự phát triển của lịch sử xã
hội: Nước Nga XHCN xuất hiện từ cách mạng tháng 10 năm 1917 mở đầu một thời
đại mới; thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH. Như vậy, do mối liên hệ tất
yếu của lịch sử, cơ sở vật chất – kỹ thuật của XHCN – giai đoạn đầu của phương
thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa phải là nền đại công nghiệp cơ khí hiên đại.
Các Mác và Ph.Ăng – ghen, Lênin đã nói nhiều về vấn đề nền đại công
nghiệp cơ khí hiện đại là cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH.
Tại đại hội III quốc tế cộng sản năm 1921 Lênin đã chỉ rõ: “cơ sở vật chất
duy nhất của CNXH chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả
nông nghiệp nhưng không tghể đóng khung ở nguyên lý chung đó. cần phải cụ thể
hoá nguyên lý đó. Một nền đại công nghiệp ở vào trình độ kỹ thuật hiện đại và có
khả năng cải tạo cả nông nghiệp, đó là diện khí hoá cả nước”. Lênin còn nói “Một
lần nữa tôi phải nhấn mạnh rằng cơ sở kinh tế duy nhất có thể có được của CNXH
là nền đại công nghiệp cơ khí. ai quên điều đó người đó không phải là người cộng
sản. Chúng tôi phải đặt vấn đề một cách thực tiễn đại công nghiệp hiện đại là thế
nào?Đại công nghiệp hiện đại có nghĩa là điện khí hoá toàn nước Nga”.
Tóm lại, cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH là nền đại công nghiệp cơ khí
hiện đại có khả năng cải tạo nông nghiệp. luận điểm trên của chủ nghĩa mác Lênin
cần phải được vận dụng môt cách thích hợp với đặc điểm của thời đại cách mạng
khoa học kỹ thuật và đặc điểm cụ thể của mỗi nước.
Ngày nay trong điều kiện của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại với 5
nội dung: tự động hoá đồng bộ, năng lượng nguyên tử, vật liệu mới, công nghệ sinh
học, điện tử – tin học. Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa mác – Lênin
ra những tiền đề vật chất, kỹ thuật về con người, công nghệ, phương tiện, phương
pháp – những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất cho CNXH. Nội dung cốt lõi
của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cải biến lao động thủ công, lạc hậu
thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã
hội cao. Xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí hiện đại – cơ sở vật chất – kỹ thuật
của CNXH bằng con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là một tất yếu khách
quan đối với nước ta quá độ lên CNXH xúat phát từ một nên kinh tế kém phát triển.
Tính tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự nghiệp xây dựng
CNXH ở nước ta được thể hiện ở góc độ kinh tế và chính trị xã hội
Về kinh tế: Chỉ có công nghiệp hoá, hiện đại hoá XHCN mới có cơ sở vật
chất – kỹ thuật của CNXH. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta sẽ tạo
ra một sức sản xuất mới bao gồm nhiều loại công cụ mới và các loại tư liệu sản xuất
khác, cùng với những người lao động có tổ chức, tiến hành hiệp tác sản xuất với kỹ
năng lao động ngày càng cao từ đó làm cho năng suất lao động tăng lên cái “Đảm
bảo cho sự thắng lợi của trật tự xã hội này so với xã hội khác”
Do mối quan hệ biện chứng hữu cơ giữa quan hệ sản xuất và cơ sở vật chất –
kỹ thuật nên việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH có tác dụng củng
cố hoàn thiệp quan hệ sản xuất XHCN – dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng
cao của CNXH và quan hệ sản xuất XHCN ngày càng được hoàn thiện, nên sản
xuất xã hội sẽ không ngừng phát triển và đời sống vật chất văn hoá của nhân dân sẽ
không ngừng được nâng cao trên cơ sở phát triển nền sản xuất đó
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá XHCN còn là một tất yếu về chính trị– xã hội
Với cơ sở vật chất – kỹ thuật vừa đạt được trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá giai cấp công nhân tầng lớp trí thức XHCN có thêm nhiều điều kiện để
giúp đỡ nông dân ùng đi lên CNXH. Sự liên minh giữa công nhân, nông dân, tầng
lớp trí thức XHCN ngày càng được củng cố, Nhà nước XHCN được tăng cường.
những thành tựu đạt được trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá tạo ra nhiều
khả năng thực hiện sự bình đẳng về kinh tế giữa các dân tộc, giữa các vùng, các
miền của đất nước. Tình hình đó đưa đến sự thống nhất ngày càng cao về chính trị
và tinh thần trong xã hội – XHCN.
CNXH một cách đầy đủ
Nhiệm vụ cải tạo quan hệ sản xuất và để có được quan hệ sản xuất XHCN
đồng thời để mở rộng cho lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao
động cải thiện đời sống nhân dân. nhưng, những việc đó chỉ đạt mức cao nhất khi
nào cơ sở vật chất – kỹ thuật của XHCN được xây dựng xong và cũng chỉ lúc đó
quan hệ sản xuất mới được hoàn thiện và củng cố vững chắc. CNXH ở nước ta sẽ
được xác lập với các đặc trưng: có một nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. có nền
văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Con người được giải phóng khỏi áp bức
bóc lột và bất công làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự
do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. các dân tộc trong nhận thức
rõ tính tất yếu khách quan của quá trìng công nghiệp hoá hiện đại hoá đối với sự
nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta”.
3.Nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những biện pháp thực hiện
3.1.Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý bao giờ cũng phải dựa trên tiền đề là
phân công lại lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá lao động, do đó chuyên
môn hoá sản xuất giữa các nghành, trong nội bộ từng nghành và giữa các vùng
trong nên kinh tế quốc dân . phân công lao động có tác dụng rất to lớn. Nó là đòn
bẩy của sự phát triển công nghệ và năng suất lao động. Cùng với cách mạng khoa
học va công nghệ nó góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý. Sự
phân công lại lao động xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải
tuân thủ các quá trình có tính quy luật sau:
Một là, tỷ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng và
số tuyệt đối lao động công nghiệp tăng lên.
Hai là, tỷ trọng và số tuyệt đối lao động trí thức ngày một tăng và chiếm ưu
lược, cụ thể là:
Thứ nhất, khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng về nông lâm ngư nghiệp,
thức đẩy nhanh việc hình thành các vùng tập trung chuyên canh, đưa công nghệ sinh
học và các phương pháp canh tác tiên tiến vào nông nghiệp, thúc đẩy quá trình công
nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, Bảo đảm thoả mãn các yêu cầu lương thực,
thực phẩm trong nước, tao nguồn nguyên liệu vững chắc cho công nghiệp chê biến,
tăng nguồn hạt xuât khẩu, tạo công ăn việc làm, phân công lại lao động xã hội, mở
rông thị trường trong nước cho công nghiệp và dich vụ.
Thứ hai, kết hợp phát triển nông lâm ngư nghiệp với phát triển công nghiệp
chế biến nông lâm thuỷ sản, phát triển công nghiệp chế biến lúa gạo có chất lượng
ngày càng cao đáp ứng nhu cầu trong nước, nâng cao hiệu quả xuất khẩu, chế biến
thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao, bảo đảm vệ sinh, đa dạng hoá mặt hàng,
kiểu cách, bao bì và nhãn hiệu để phục vụ nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất
khẩu, tăng nhanh năng lực và nâng cao trình độ công nghệ chế biến các loại cây
công nghiệp dài ngày, lâm sản, thuỷ sản
Thứ ba, phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng tiêu dùng thông thường để thoả
mãn những nhu cầu tiêu dùng cơ bản, thiết yếu và phổ thông của dân cư, hạn chế tối
đa việc nhập khẩu hàng hoá này vừa nhằm tiết kiệm ngoại tệ, vừa tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển sản xuất trong nước mở rông sản xuất hàng lâu bền, cao cấp
để thoả man nhu cầu ngày càng tăng của dân cư, giảm dần tiến tới thay thế nhapạ
khẩu của loại hàng này bằng hàng hoá sản xuất trong nưỡc. Cần chú ý tới đổi mới
công nghệ nâng cao chất lượng, đa dạng hoá mặt hàng, cải tiến bao bì, giảm giá
thành .v.v. Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước. Phát
huy lợi thế về công nhân và truyền thống sản xuất đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu
dùng phục vụ xuất khẩu, tập trung chủ yếu vào các sản phẩm may mặc, dệt da, hàng
điện tử, đồ điện gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ
Thứ tư, xây dựng và cải tạo nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát
theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà
nước trên cơ sở chủ động đổi mới về tổ chức và hiệu quả quản lý tạo điều kiện
thuận lợi về kinh tế và pháp lý để các chủ doanh nghiệp tư nhân yên tâm đầu tư
chuyển dịch cơ cáu kinh tế. Mở rộng các hình thức liên doanh liên kết, áp dụng rộng
rãi các hình thức kinh tế tư bản nhà nước.
3.2.Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đi đôi với
tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới từ nước ngoài
Hiện nay cuộc cách mạng khoa học và công nghệ có nhiều nội dung phong
phú, trong đó có thể chỉ ra những nội dung nổi bật sau đây:
Một là, cách mạng về phương pháp sản xuất: Đó là tự động hoá. Ngoài phạm
vi tự động như trước đây, hiện nay tự động hoá còn bao gồm cả việc sử dụng rộng
rãi người máy thay thế con người điều khiển quá trình vận hành sản xuất.
Hai là cách mạng về năng lượng: bên cạnh những năng lượng truyền thống
mà con người đã sử dụng trước kia như nhiệt điện, thuỷ điện, thì ngày nay con
người ngày càng khám phá ra nhiều năng lượng mới và sử dụng chúng rộng rãi
trong sản xuất như năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời.
Ba là, cách mạng về vật liệu mới: Ngày nay ngoài việc sử dụng các vật liệu
tự nhiên, con người ngày càng tạo ra các vật liệu nhân tạo mới thay thế có hiệu quả
cho các vật liệu tự nhiên khi mà các vật liệu tự nhiên đang có xu hướng ngày càng
giảm dần
Bốn là, cách mạng vê công nghệ sinh học: các thành tựu của cuộc cách mạng
này đang được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, y tế, hoá
chất, bảo vệ môi trường sinh thái
Năm là, cách mạng về điện tử tin học: Đây là một lĩnh vực mà hiện nay loại
người đặc biệt quan tâm, trong đó phải kể đến lĩnh vực máy tính điện tử .
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới đã và đang đóng vai trò
rất to lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá trong tất cả các nước, nhất