em hiểu thế nào về tư tưởng “ nhà nước của dân do dân và vì dân “. để thực hiện điều này bối cảnh hiện nay chúng ta cần phải làm gì - Pdf 10

Đề tài : Em hiểu thế nào về tư tưởng “ nhà nước của dân do dân và vì
dân “. Để thực hiện điều này bối cảnh hiện nay chúng ta cần phải làm gì?

BÀI LÀM :
Nhà nước của dân do dân và vì dân:
- Thế nào là nhà nước của dân?
Điều 1 Hiến pháp nước VNDCCH (năm 1946) nói: "Nước VN là 1 nước dân
chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thế nhân dân VN,
không phân biệt giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo."
Điều 32, viết "Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân
dân phúc quyết "thực chất đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân
chủ đề ra khá sớm ở nước ta.
"Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân
dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân
dân".
Nhà nước của dân thì mọi người dân là chủ, người dân có quyền làm bất cứ
việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà
nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành thiết chế dân chủ để thực thi
quyền làm chủ của người dân. Những vị đại diện cho dân cử ra chỉ là thừa
ủy quyền của dân, chỉ là công bộc của dân.
- Thế nào là nhà nước do dân?
Nà nước đó do nhân dân lựa chọn bầu ra những đại biểu của mình, nhà nước
đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để chi tiêu, hoạt động; nhà nước đó lại
do dân phê bình xây dựng, giúp đỡ. Do đó Bác yêu cầu tất cả các cơ quan
1
nhà nước là phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý
kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. "Nếu chính phủ làm hại dân thì dân
có quyền đuổi chính phủ" nghĩa là khi cơ quan nhà nước không đáp ứng lợi
ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi miễn nó.
- Thế nào là nhà nước vì dân?
Đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân,

dựng CNXH."
Bên cạnh dân chủ, bác cũng nhắc đến chuyên chính, "chế độ nào cũng có
chuyên chính. Vấn đề là ai chuyên chính với ai?" "Dân chủ là của quý báu
của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá
hoại dân chủ cũng cần chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ."
Bản chất giai cấp của nhà nước ta thống nhất với tính nhân dân và tính dt.
Tính thống nhất thể hiện ở chỗ:
- Nhà nước dân chủ mới ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài và gian
khổ với sự hy sinh xương máu của bao thể hệ CM.
- Nhà nước ta vừa mang bản chất giai cấp vừa có tính nhân dân và tính dt vì
nó lấy lợi ích của dt làm nền tảng và bảo vệ lợi ích cho nhân dân. Trong thời
gian người lãnh đạo đất nước, nhờ sách lược mềm dẻo, cũng như Người
dung nạp nhiều nhân sĩ, trí thưc, quan lại cao cấp của chế độ cũ vào bộ máy
nhà nước đã thể hiện tư tưởng nhà nước tà là nhà của khối đại đoàn kết toàn
dt.
- Nhà nước ta vừa ra đời đã đảm nhiệm vai trò lịch sử là tổ chức toàn dân
kháng chiến để bảo vệ thành quả của cách mạng.
3
Tư tưởng HCM về 1 nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ.
Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ trước hết là 1 nhà nước hợp hiến. Vì
vậy sau khi giành chính quyền, HCM đã thay mặt chính phủ lâm thời đọc
Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và với thế giới khai
sinh nhà nước VNDCCH. Chính phủ lâm thời có địa vị hợp pháp.
Sau đó Người bắt tay xây dựng hiến pháp dân chủ, tổ chức TỔNG TUYỂN
CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu, thành lập ủy ban dự thảo Hiến pháp của
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý là nhà nước quản lý đất nước bằng
pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế. Trong nhà
nước dân chủ, dân chủ và pháp luật luôn đi đôi với nhau, đảm bảo cho chính
quyền trở nên mạnh mẽ. Mọi quyền dân chủ phải được thể chế hóa bằng

người cầm quyền. Bác nói: "tham ô, lãng phí,quan liêu, dù cố ý hay không,
cũng là bạn đồng minh của thực dân phong kiến, tôi lỗi ấy cũng nặng như
tội việt gian, mật thám." Mác và ăngghen đã từng cảnh tỉnh cán bộ và nhân
dân rằng chủ nghĩa quan liêu có thể dẫn các ĐCS cầm quyền đến chỗ "đánh
mất 1 lần nữa chính quyền vừa giành được". Lênin cũng viết " chúng ta bị
khốn khổ trước hết về tệ quan liêu. Những người cộng sản đã trở thành tên
quan liêu. Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó."
Vì vậy không thể nói đến 1 nhà nước trong sạch vững mạnh, hiệu quả nếu
không kiên quyết, thường xuyên đẩy mạnh cuộc đấu tranh về ngăn chặn tận
gốc những nguyên nhân đã gây ra nạn tham ô, lãng phí, quan liêu.
* Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về xây dựng nhà nước VN ngang tầm
nhiệm vụ của giai đoạn lịch sử mới.
1-Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế XHCN, đảm bảo sự tôn
5
trọng quyền làm chủ của nhân dân.
2- Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng một nền
hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh.
3- Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với nhà nước; gắn liền với xây
dựng, chỉnh đốn đảng với cải cách bộ máy hành chính.
Nội dung tư tưởng hồ chí minh về đoàn kết. Vận dụng tthcm để tăng cường
đoàn kết dt, đoàn kết quốc tế hiện nay.
* Nội dung tthcm về đoàn kết
Trong quá trình lãnh đạo CMVN. HCM đã để lại cho chúng ta tư tưởng về
đoàn kết, kết hợp sức mạnh dt với sức mạnh thời đai.
Để đoàn kết dt là nội dung xuyên suốt trong tthcm cũng như trong hoạt động
thực tiễn của người. Trong các bài viết, nói, vấn đề đại đoàn kết dt được Bác
Hồ đề cập đến chiếm tỷ lệ 40%.
1- Cơ sở hình thành tthcm về đoàn kết dt.
a) Tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cố kết cộng đồng dt, đại đoàn kết
dt đã hình thành và củng cố trong ls dựng nước và giữ nước của dt, tạo thành

c) Từ thực tiễn đấu tranh CM.
HCM tổng kết, đánh giá các di sản truyền thống về tư tưởng tập hợp lực
lượng của các nhà yêu nước VN tiền bối và các phong trào cách mạng ở
nhiều nước trên TG, nhất là các phong trào gpdt thuộc địa, từ đó Người rút
ra bài học kinh nghiệm để hình thành và hoàn chỉnh tư tưởng về đại đoàn kết
của mình. Các phong trào CMVN thực tế vừa hào hùng, vừa bị tráng đã
chứng tỏ nếu chỉ có yêu nước thôi thì không đủ để đánh thắng giặc. "Sử ta
đã dạy cho ta rằng, khi nào dân ta biết đoàn kết thì khi đó dân ta giành thắng
7
lợi".
Yêu cầu của thời đại mới là phải có lực lượng lãnh đạo đủ sức qui tụ cả dt
vào đấu tranh cách mạng, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, xây dựng
khối đại đoàn kết dt bền vững thì mới giành thắng lợi. HCM đã thấy hạn chế
trong phương pháp tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối, bác đã
tìm cách sáng Pháp để tìm hiểu và trở về giúp đồng bào mình.
Khi ở nước ngoài, HCM khảo sát tình hình các nước TBCN và các nước
thuộc địa, bác nhìn thấy tiềm ẩn to lớn của họ và cũng thấy hạn chế là các dt
thuộc địa chưa có tổ chức, chưa biết đoàn kết, chưa có sự lãnh đạo đúng đắn.
Trong các phong trào cách mạng thuộc địa và phục thuộc, HCM đặc biệt chú
ý đến cách mạng của TQ và Ấn độ, với tư tưởng là đoàn kết các giai tầng,
các đảng phái, các tôn giáo nhằm thực hiện mục tiêu của từng giai đoạn
cách mạng.
Thắng lợi của CMT10 Nga, người đã tìm hiểu thấu đáo con đường CMT10
Nga, bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là bài học huy động lực lượng
quần chúng công-nông giành và giữ chính quyền xô-viết non trẻ. Người cho
rằng đây là cuộc cách mạng đến nơi, đến chốn.
2-Quan điểm cơ bản của HCM đại đoàn kết dân tôck.
a) Đại đoàn kết dt là vấn đề cơ bản có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành
công của cách mạng. Tư tưởng HCM về đại đoàn kết dt nhất quán, xuyên
suốt toàn bộ tiến trình CMVN. Đó là chiến lược tập hợp lực lượng nhằm

toàn dân là đoàn kết với tất cả nhân dân không phân biệt: dt thiểu số hay đã
số, tín ngưỡng, già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo Đoàn kết với mỗi người dân
cụ thể, với toàn thể đông đảo quần chúng và cả 2 đối tượng trên đều là chủ
thể của khối đại đoàn kết dt.
9
Bác hồ nêu "Ta đoàn kết là vấn đề đấu tranh thống nhất và độc lập tổ quốc,
ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Vậy ai có tài, có đức, có sức, có
lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đều đoàn kết với họ".
Trong khi xây dựng khối đại đoàn kết dt phải tin vào dân, dựa vào dân và
phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân. Mỗi người "ai cũng ít hay nhiều có tấm
lòng yêu nước" tiềm ẩn. Cần thức tỉnh lương tri của mỗi con người thì lòng
yêu nước sẽ bộc lộ. Điểm chung để quy tụ khối đại đoàn kết dt là nên độc
lập dt, là cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Đại đoàn kết dt là nên tảng là gốc rễ là nguồn sức mạnh vô địch, quyết định
thắng lợi của CMVN. Trong khi tập hợp khối đại đoàn kết thì "lực lượng chủ
yếu của khối đại đoàn kết dt là liên minh công nông, cho nên liên minh
công-nông là nền tảng của mặt trận dt thống nhất". "Đại đoàn kết trước hết
là đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân
và các tầng lớp nhân dân lao động khác". Về sau HCM mở rộng, "liên minh
công-nông và lao động trí óc làm nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân".
"Trong bầu trời không có gì quý bằng dân, trong thế giới không có gì mạnh
bằng l/lượng đ/kết của nhân dân".
Điều kiện để thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân là: phải kế thừa truyền
thống yêu nước-nhân nghĩa, đoàn kết, phẩi có tầm lòng khoan dung, độ
lượng. Người mà có lầm lạc, mà biết lỗi thì đoàn kết với họ, tránh khoét sâu
cách biệt. "Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập dt
thì dù người đó trước đây chống lại chúng ta bây giờ chúng ta cũng thật thà
đoàn kết với họ". "Cần xóa bỏ hết mọi thành kiến, cần thật thà đoàn kết với
nhau, giúp nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân ".
d) Đại đoàn kết phải trở thành sức mạnh vất chất, thành lực lượng vật chất

nhiều nhất đến vấn đề phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ tiền phong.
Mệnh đề "Đảng là đạo đức" trong lời phát biểu nhân kỷ niệm 30 năm ngày
thành lập Đảng cần phải đặt vào trong đặc điểm đó mới hiểu sâu được ý
nghĩa cảnh báo của Hồ Chí Minh đối với Đảng.
Trong bối cảnh hiện nay, lời cảnh báo đó càng có ý nghĩa khi mà "khó có thể
kể hết những việc làm, mưu mô, thủ đoạn làm nghèo đất nước, vơ vét tài sản
của nhân dân, làm giàu cho bản thân. Hiện tượng quan chức trở nên giàu
có vượt bậc ngày càng phổ biến và lộ ra nhiều khi khá công nhiên với
những lời biện giải ngô nghê khó ai chấp nhận. Trong đó, có nhiều việc là
tham nhũng, được xác định tội danh rõ ràng, dù có thể còn chưa bị phát
hiện và trừng phạt. Nhưng không ít việc không thể quy kết tội danh tham
nhũng, cùng lắm chỉ bị xem là yếu kém, quan liêu, thiếu trách nhiệm nghĩa
là những thiếu sót cá nhân, gây ra do thiếu hiểu biết, năng lực hạn chế là
chính. Sự việc loại này ngày càng nhiều, lặp lại ở các cấp, ở nhiều địa
phương, đơn vị".
Đó là một thực tế gây bức xúc được đưa lên trên trang báo diện tử
Vietnamnet ngày 14.12. 2009 trong bài "Những người cản trở đổi mới". Đó
là một thực trạng mà trước đó, Phạm Văn Đồng trong bài viết cuối cùng
đăng trên báo Nhân Dân đã quyết liệt vạch ra: "trăm con mắt đều nhìn vào,
trăm ngón tay đều chỉ vào" để nhắc nhở rằng "đây là một nguy cơ không thể
coi thường"!
Càng suy nghĩ, càng hiểu được, vì sao thường trực trong nỗi lo của Hồ Chí
Minh mà vì vậy Người thường xuyên cảnh báo nguy cơ tha hóa, biến chất
của cán bộ đảng viên dẫn đến sự sa sút niềm tin của dân vào Đảng và Nhà
nước mà thông qua đó, Đảng thực thi vai trò lãnh đạo của mình.
12
"Gánh việc chung cho dân, không phải đè đầu dân"
Ở một quốc gia mà nhà nước xuất hiện từ rất sớm và mang nặng "truyền
thống" quan liêu, Hồ Chí Minh đã đòi hỏi xây dựng một "nhà nước đày tớ
của dân", điều mà nhiều nhà tư tưởng lớn của loài ngưòi đã từng ấp ủ và

là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính
phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ"
Cũng tại đây, Bác đã thẳng thắn vạch ra những tật bệnh của sự thoái hóa
biến chất của người có chức có quyền và đề nghị nhân dân giám sát, phê
bình: " có người làm quan cách mạng chợ đỏ, chợ đen, kinh dân, mưu vinh
thân phì gia. Từ một năm nay, nội hoạn, ngoại xâm không lúc nào không có,
nên còn nhiều việc Chính phủ Trung ương không làm được. Có nhiều cái
biết là hay, nhưng còn việc gấp phải làm gấp cái đã. Xin đồng bào phê bình,
giúp đỡ, giám sát công việc của Chính phủ. Còn những việc làm mà chưa
làm được thì xin đồng bào nguyên lượng". Đây chính là cách Hồ Chí Minh
thực hành tư tưởng về nhà nước của dân, do dân và vì dân một cách sống
động và giàu sức thuyết phục.
Dựa vào ý dân để sửa cán bộ, tổ chức
Người đòi hỏi, "phải đưa chính trị vào giữa dân gian", và bằng hành động
cụ thể, Người đã chứng minh nguyên lý ấy.
Hồi ký của Vũ Kỳ đã ghi lại chuyến đi đặc biệt ấy, khi mà tại Ninh Bình và
Nam Định, Pháp đóng quân dày đặc, Bác phải đi tắt qua đồn điền Chi nê về
Thanh Hóa để "chuẩn bị" cho cuộc trường kỳ kháng chiến mà Người nhìn
14
thấy trước sẽ vô cùng gian khổ mà nhân tố quyết định thắng lợi là con
người, lànhân dân với sự lãnh đạo của Đảng. Sự "chuẩn bị" đó là: "Trước
kia, việc gì cũng từ "trên dội xuống". Từ nay việc gì cũng phải từ "dưới nhoi
lên". Vì thế mà "Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề
nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ, tổ chức
của ta".
Càng ngẫm nghĩ, càng thấy tầm nhìn của lãnh tụ đã vượt xa về phía trước
như thế nào! Đối chiếu với những bài học lịch sử của ngót nửa thế kỷ qua,
và đặc biệt là trong thời điểm hiện nay, càng thấy thấm thía về tấm lòng của
Bác, về tư tưởng của Bác, về hành động cụ thể của Người.
Bằng lời nói và việc làm của mình, Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng

Và A.Lincoln với ý tưởng vĩ đại về "nhà nước của dân, do dân và vì dân"
đang là khuôn mẫu lý tưởng về nhà nước [ mặc dầu chưa tìm thấy trong thực
tế lịch sử cũng như đương đại].
Nếu với Hồ Chí Minh "văn minh là sự thống nhất phẩm chất và trí tuệ" như
đã nói ở trên, thì những điều vừa dẫn ra đã cho thấy, khi nói "Đảng là đạo
đức, là văn minh" Hồ Chí Minh đã kỳ vọng những gì trong việc thực thi vai
trò lãnh đạo đạo của Đảng, đòi hỏi những gì ở phẩm chất của cán bộ, đảng
viên.
Hồ Chí Minh nói về Đảng không quá trừu tượng và quá hàn lâm theo cách
định nghĩa của các nhà kinh điển khiến người lao động bình thường khó mà
hiểu được.
16
Nhưng đây không chỉ là cách diễn đạt. "Văn là người". Đây là nhận thức, là
quan điểm, là tình cảm của Hồ Chí Minh về Đảng và về dân, với Hồ Chí
Minh, đó là Đảng dân.
Đảng dân
Cũng như quan điểm Hồ Chí Minh về Nhà nước là công bộc của dân, cán bộ
là đầy tớ của dân . Ngẫm nghĩ kỹ, đây là những sáng tạo rất Hồ Chí Minh,
mang đậm nét Hồ Chí Minh, rất dân tộc, vì thế hết sức gần gũi với mọi tầng
lớp nhân dân.
Với Hồ Chí Minh, chính dân tộc sinh ra Đảng, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo
vệ Đảng, rồi tin yêu Đảng khi Đảng đã trưởng thành lên. Cho nên, có thể nói
quan điểm của Hồ Chí Minh về Đảng là quan điểm dân. Trong khái niệm
này, cần hiểu dân là dân tộc.
Không chỉ là quan điểm lý thuyết mà là thực hành trong xây dựng Đảng, xây
dựng Nhà nước ở một nước mà truyền thống quan liêu rất nặng, tư tưởng và
chỉ đạo của Hồ Chí Minh về một nhà nước không quan là cực kỳ độc đáo.
Một Đảng dân, một Nhà nước dân chính là sáng tạo của Hồ Chí Minh.Nhà
nước dân ấy thể hiện rõ tư tưởng mà phương Tây đã từng nêu về nhà nước
của dân, do dân, vì dân vừa dẫn ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status