Về tư tưởng nhà nước pháp quyền và khái niệm nhà nước pháp quyền
Trong triết học, chính trị học và luật học, nhà nước pháp quyền không phải là vấn
đề mới. Tuy nhiên, xung quanh vấn đề nhà nước pháp quyền còn rất nhiều câu hỏi
được đặt ra như: Nhà nước pháp quyền là học thuyết, tư tưởng hay khái niệm? nội
hàm của nó gồm những yếu tố nào? nhà nước pháp quyền có phải là kiểu nhà
nước hiện đại, là mô hình khả dụng cho các nước đương đại hay chỉ là hình thức,
phương pháp, nguyên tắc hay biện pháp tổ chức quyền lực nhà nước? nhà nước
pháp quyền xC hội chủ nghĩa có những đặc trưng gì khác với nhà nước pháp
quyền nói chung? để xây dựng nhà nước pháp quyền xC hội chủ nghĩa ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay cần phải có những điều kiện gì?
Đó là những câu hỏi lớn, đòi hỏi phải được triển khai nghiên cứu một cách cơ bản,
toàn diện mới có thể tìm được câu trả lời. Nhằm góp một phần vào việc giải quyết
những vấn đề trên, bài viết này phân tích và đưa ra một số ý kiến về tư tưởng nhà
nước pháp quyền và khái niệm nhà nước pháp quyền.
1. Về tư tưởng nhà nước pháp quyền
Nhìn một cách khái quát có thể thấy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền được hình
thành cách đây hơn hai nghìn năm. Lúc đầu đó chỉ là những ý tưởng, những quan
niệm của các nhà tư tưởng về những yếu tố, những khía cạnh có tính đơn biệt của
việc tổ chức quyền lực nhà nước, phát huy vai trò của pháp luật và giải quyết mối
quan hệ giữa nhà nước và pháp luật , sau đó những ý tưởng, quan niệm này được
công nhận, bổ sung dần và phát triển thành tư tưởng có giá trị phổ biến của nhân
loại. Nội dung chủ yếu của tư tưởng nhà nước pháp quyền là đề cao vai trò của
pháp luật nhằm bảo vệ các giá trị xã hội lớn như tự do, công bằng, an toàn và phát
triển.
Nhìn một cách sâu hơn, sự hình thành và phát triển của tư tưởng nhà nước pháp
quyền gắn với quá trình đấu tranh nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong việc
bảo vệ những giá trị xC hội cơ bản và giải quyết đúng mối quan hệ khách quan
giữa nhà nước và pháp luật. Điều này có những nguyên do của nó. Xét về nguồn
gốc và bản chất, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xC hội đặc biệt, giữa
chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau: Nhà nước không thể tồn tại và thực hiện
được sứ mệnh của mình nếu không có pháp luật; ngược lại, pháp luật được hình
(2) nhà nước và pháp luật là hai công cụ để thực hiện dân chủ, tự do và công bằng,
vì vậy, "hãy kết hợp sức mạnh (quyền lực nhà nước) với pháp luật".(3)
Tiếp sau Xôlông, Hêraclít (520-460 TCN) đC có sự bổ sung quan trọng, coi pháp
quyền là phương tiện quan trọng để chống lại cực quyền, vì vậy ông kêu gọi:
“Nhân dân phải đấu tranh để bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của
mình”.(4) Xôcrát (469-399 TCN) quan niệm về công lí trong sự tuân thủ pháp luật.
Theo ông, xã hội không thể vững mạnh và phồn vinh nếu các pháp luật hiện hành
không được tuân thủ, giá trị của công lí (pháp luật) chỉ có được trong sự tôn trọng
pháp luật.
Platon (427-374 TCN) phát triển ý tưởng về sự tôn trọng pháp luật ở một góc độ
khác - từ phía nhà nước. Theo ông, tinh thần thượng tôn pháp luật phải là nguyên
tắc, bản thân nhà nước và các nhân viên nhà nước phải tôn trọng pháp luật; nhà
nước sẽ suy vong nếu pháp luật không còn hiệu lực hoặc chỉ phụ thuộc vào chính
quyền; ngược lại, nhà nước sẽ hồi sinh nếu có sự ngự trị của pháp luật và những
nhà chức trách coi trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật.(5)
Aristote (384-322 TCN) bổ sung khía cạnh mới về mối quan hệ giữa chính trị và
pháp luật (chính trị được hiểu theo nghĩa là nhà nước - L.M.T). Theo ông, cần thiết
phải có sự phù hợp giữa chính trị và pháp luật, vì vậy, việc đề cao pháp luật phải
gắn với cơ chế, hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước. Tuy Aristốt
chưa đưa ra được lí thuyết về phân quyền nhưng ông đC là người nêu ý tưởng về
sự cần thiết phải tổ chức nhà nước một cách quy củ để bảo đảm sự công bằng của
pháp luật: “Nhà nước nào cũng phải có cơ quan làm ra luật, cơ quan thực thi pháp
luật và toà án”.(6)
Xixêrôn (106-43 TCN) tiếp tục phát triển ý tưởng của Aristote đến trình độ cao
hơn, ông đC đưa ra quan niệm mới về nhà nước, coi nhà nước là "một cộng đồng
pháp lí", "một cộng đồng được liên kết với nhau bằng sự nhất trí về pháp luật và
quyền lợi chung"(7) và ông đC đề xuất nguyên tắc: "Sự phục tùng pháp luật là bắt
buộc đối với tất cả mọi người".(8)
Những ý tưởng, quan niệm của các nhà tư tưởng thời kì cổ đại tuy được nêu ở
những góc độ khác nhau nhưng tựu trung đều cổ vũ cho việc đề cao pháp luật và
chúng có tính độc lập và kiềm chế lẫn nhau, bởi vì: "Khi mà quyền lập pháp và
quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viện Nguyên l o, thì sẽ
không còn gì là tự do nữa; vì chính người đó hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để
thi hành một cách độc tài Nếu quyền tư pháp nhập với quyền lập pháp thì người
ta sẽ độc đoán quan toà sẽ là người đặt ra luật.
Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan toà sẽ có cả sức mạnh
của kẻ đàn áp. Nếu một người, một tổ chức, hoặc của quý tộc hoặc của dân chúng
nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết”.(11) Cùng với lí thuyết
về phân chia quyền lực, Montesquieu cũng bổ sung thêm những quan điểm lí luận
quan trọng về quyền tự do chính trị, về giải quyết vấn đề công bằng và bảo đảm
tính tối cao của pháp luật.
J. Rousseau (1712-1778) trong tác phẩm "Bàn về khế ước xC hội", bên cạnh việc
phân tích những vấn đề mang tính nguyên tắc chung của việc cai trị theo pháp luật,
đC bàn một cách khá cặn kẽ về các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo lí
thuyết của Montesquieu. Nhưng J. Rousseau lại có tư tưởng và cách tiếp cận mới
hết sức độc đáo đó là khẳng định tính tất yếu khách quan của khế ước xC hội và
coi khế ước xC hội là cơ sở để giải quyết các vấn đề về nhà nước, pháp luật và
công dân.
Với tư tưởng đó, J. Rousseau viết: "Trật tự x hội là một thứ quyền thiêng liêng làm
nền tảng cho mọi thứ quyền khác. Nhưng trật tự x hội không tự nhiên mà có, nó
được xác lập trên cơ sở những công ước (khế ước x hội)";(12) Khế ước xC hội là
hình thức mà ở đó mỗi thành viên tự đặt mình và quyền lực của mình dưới sự điều
khiển của ý chí chung và tiếp nhận mọi thành viên như một bộ phận không thể tách
rời của toàn thể;(13) quyền lực tối cao được thiết lập từ những cá thể thành viên
hợp lại, nên tự nó luôn luôn là tất cả những gì tạo ra nó; ý chí chung chỉ có thể điều
khiển các lực lượng nhà nước theo mục đích của cơ chế nhằm mục đích phục vụ ý
chí chung; ý chí chung là của toàn thể dân chúng, vì vậy, khi được công bố nó trở
thành luật và do đó chủ quyền tối cao là không thể phân chia.(14)
Xét trên phương diện thực tế, quyền lực nhà nước phải trao cho các cơ quan, con
người cụ thể, do đó phải có sự phân lập tương đối, chứ không thể thoát li khỏi sự
Có thể nói, đến nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, về mặt lí thuyết, tư tưởng
nhà nước pháp quyền được phát triển tương đối toàn diện, trở thành một trong
những tư tưởng chính trị - pháp lí có tính phổ biến và trong sách báo chính trị,
pháp lí cũng bắt đầu xuất hiện các ý kiến coi tư tưởng này như học thuyết về nhà
nước pháp quyền. Từ đây, có trào lưu mới đã xuất hiện - trào lưu nghiên cứu ứng
dụng học thuyết nhà nước pháp quyền vào việc xác lập các nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước, xây dựng, thực thi pháp luật và xã hội công dân.
Tuy nhiên, nếu hiểu học thuyết với nghĩa là toàn thể nói chung những quan niệm
có hệ thống dùng để lí giải các hiện tượng và hướng hoạt động của con người trong
lĩnh vực nhất định (mà ở đây là lĩnh vực nhà nước, pháp luật và xC hội công dân)
thì học thuyết nhà nước pháp quyền vẫn còn chưa có được một cách đầy đủ tính hệ
thống của các quan niệm về nhà nước pháp quyền và khó có thể nói ai (những ai)
là tác giả của học thuyết này. Đó là cái khó đối với việc nghiên cứu về nhà nước
pháp quyền nhưng đồng thời, đó cũng là cái thuận, là hướng mở cho những tư duy
sáng tạo để tiếp cận những vấn đề về nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện
nay.
2. Về khái niệm nhà nước pháp quyền
Khái niệm nói chung được hiểu là hình thức phản ánh thế giới vào tư duy, nhờ nó
mà người ta nhận thức được bản chất của các hiện tượng, các quá trình khái quát
được những dấu hiệu cơ bản của nó.
Khái niệm là sản phẩm của nhận thức đang phát triển trong lịch sử; nhận thức này
được hình thành từ giai đoạn thấp đến giai đoạn cao hơn, tóm tắt những kết quả đC
thu được từ thực tiễn để hình thành nên nội dung của khái niệm ngày càng sâu hơn.
Kết quả của tư duy thể hiện trong khái niệm luôn có tính kế thừa và phát triển; khái
niệm mới thường được hình thành trên cơ sở làm rõ khái niệm cũ, bổ sung và hoàn
thiện những nội dung mới. Vì vậy, các khái niệm không có tính chất tĩnh và tính
tuyệt đối; mọi khái niệm đều có nguồn gốc phát sinh và đang trong trạng thái phát
triển, luôn là sự tiệm tiến để phản ánh ngày càng đầy đủ hơn thực tế vận động và
phát triển của sự vật (hiện tượng, quá trình, vấn đề). Theo V.I.Lênin, mọi khái niệm
đều cần "được mài sắc, gọt rũa, mềm dẻo, năng động, tương đối, liên hệ với nhau,
cụ thể để tìm ra mức độ hợp lí của các yếu tố để xây dựng được mô hình nhà nước
pháp quyền phù hợp. Nhà nước pháp quyền xC hội chủ nghĩa sẽ được xây dựng
theo quy luật từ thấp đến cao, từ hoàn thiện ít đến hoàn thiện nhiều.
Vậy, nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền gồm những yếu tố gì? Có rất
nhiều ý kiến khác nhau về nội hàm của khái niệm này, theo chúng tôi, khái niệm
nhà nước pháp quyền cần được hiểu trên cả hai bình diện:
Thứ nhất, khái niệm nhà nước pháp quyền phản ánh những đặc điểm chung của
nhà nước, với tư cách là tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, thành tố đặc biệt
của hệ thống chính trị.
Thứ hai, khái niệm nhà nước pháp quyền phản ánh những đặc điểm riêng của
nhà nước đặt trong mối quan hệ khách quan giữa nhà nước - pháp luật - xC hội
công dân.
Quan niệm đó cho chúng ta một cách nhìn toàn diện về nhà nước pháp quyền, phân
biệt nhà nước pháp quyền với các tổ chức chính trị, xC hội khác đồng thời phân
biệt nhà nước pháp quyền với nhà nước nói chung. Theo đó, ngoài những đặc điểm
của nhà nước nói chung, nhà nước pháp quyền còn có những đặc trưng khác đó là:
Sự phân công quyền lực một cách hợp lí; sự hiện diện của hiến pháp và nền pháp
chế thống nhất, công bằng và sự hiện diện của chế độ dân chủ.
Để bảo đảm cho nhà nước có được những đặc điểm đó thì cần có những điều kiện
như: Có bộ máy nhà nước gọn nhẹ, có hiệu lực và hiệu quả, có sự phân công rõ
ràng để thực hiện tốt các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ; có hệ thống pháp
luật thống nhất, đồng bộ và hoàn thiện, phản ánh đúng ý chí, lợi ích nhân dân và
cộng đồng xC hội; bảo đảm các quyền và tự do của công dân; sự rõ ràng về nghĩa
vụ của công dân với nhà nước và nhà nước với công dân; ý thức chính trị, ý thức
pháp luật và trình độ văn hoá cao
Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải là kiểu nhà nước mà là một mô hình
nhà nước mà ở đó bên cạnh những đặc điểm chung nó còn có những đặc điểm
riêng. Để xây dựng được nhà nước pháp quyền thì đòi hỏi phải xuất phát từ những
đặc điểm chung và riêng của nhà nước pháp quyền và căn cứ vào điều kiện cụ thể
về chính trị, kinh tế, văn hoá, xC hội để có những phương hướng và giải pháp cụ