tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của hồ chí minh - Pdf 10

MỤC LỤC
I/ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC: 2
1. Về quyền dân tộc: 2
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc thể hiện sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội,
và chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế 3
II/ TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI CỦA HỒ CHÍ MINH: 5
1.Theo luận điểm của Hồ Chí Minh: 5
2. Sự thể hiện trên thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội 8
III/ TINH THẦN ĐỘC LẬP TỰ CHỦ, TỰ LỰC TỰ CƯỜNG, ĐỔI MỚI
VÀ SÁNG TẠO: 10
IV/ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN VIỆT NAM: 12
1
I/ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC:
Vấn đề dân tộc mà Hồ Chí Minh đề cập đến trong tư tưởng của mình được
thể hiện tập trung chủ yếu ở các nội dung về quyền dân tộc, quan hệ giữa dân
tộc và giai cấp, và quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
1. Về quyền dân tộc:
Hồ Chí Minh cho rằng tất cả các dân tộc trên thế giới đều bình đẳng; tức
độc lập tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc.
Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, tận mắt chứng kiến sự chà đạp của ngoại
bang lên tự do độc lập của đất nước, được kết tinh, hun đúc từ tinh thần nồng
nàn yêu nước của người dân nước Việt, Hồ Chí Minh cho rằng: đối với một
người dân mất nước, cái quí nhất trên đời là độc lập của tổ quốc, tự do của nhân
dân. Trên đường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận những tư
tưởng bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền
và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp. Từ những tinh hoa của dân tộc và thế
giới, Người đã khái quát nên chân lý bất di bất dịch, lẽ phải không ai có thể chối
cãi được: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào

chứng giữa dân tộc với giai cấp, Hồ Chí Minh đã đưa ra những luận điểm mới
và sáng tạo, góp phần bổ sung và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác Lenin.
Theo Người, ở các nước thuộc địa “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của
đất nước”. Người phân tích, do kinh tế còn lạc hậu, chưa phát triển nên sự phân
hoá giai cấp ở nước ta và nhiều nước thuộc địa khác chưa triệt để, mâu thuẫn
chưa đến mức đối kháng quyết liệt. Ở những nước thuộc địa như nước ta, mâu
thuẫn giữa dân tộc với chủ nghĩa đế quốc quyết liệt hơn mâu thuẫn giữa giai cấp
nông dân với địa chủ, giữa công nhân với tư sản. Do đó, trong bối cảnh này
không thể giải quyết vấn đề giai cấp rồi mới giải quyết vấn đề dân tộc như ở các
nước tư bản phương Tây được, mà chỉ có thể giải phóng Dân tộc mới giải phóng
3
được giai cấp, quyền lợi dân tộc, đất nước phải đặt lên trên quyền lợi giai cấp.
Xuất phát từ luận điểm trên, Hồ Chí Minh từng kiến nghị Cương lĩnh hành động
của Quốc tế Cộng sản theo hướng phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân
danh Quốc tế Cộng sản, khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng, nhất định nó sẽ
biến thành chủ nghĩa quốc tế. Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá cao sức mạnh của
chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, coi
đó là một động lực lớn mà những người cộng sản phải nắm lấy và phát huy,
không để ngọn cờ dân tộc rơi vào tay giai cấp nào khác, phải nhận thức và giải
quyết vấn đề dân tộc trên lập trường của giai cấp vô sản, kết hợp chủ nghĩa dân
tộc với chủ nghĩa quốc tế.
Độc lập dân tộc, theo Hồ Chí Minh, là phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Ngay từ khi tiếp cận Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Hồ
Chí Minh đã hình thành đường lối cứu nước: giải phóng dân tộc theo con đường
cách mạng vô sản, gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc
tế, độc lập dân tộc và CNXH. Người nói: “ Cả hai cuộc giải phóng này (dân tộc
và giai cấp) chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế
giới.” Tiếp đó, ngay trong Chánh cương, Sách lược vắn tắt được thông qua tại
Hội nghị thành lập Đảng cộng sảnViệt Nam tháng 2/1930, Hồ Chí Minh đã xác
định Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: Làm tư sản dân quyền cách

chủ nghĩa quốc tế trong sáng, độc lập dân tộc cho mình đồng thời độc lập cho tất
cả các dân tộc.
II/ TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI CỦA HỒ CHÍ MINH:
1.Theo luận điểm của Hồ Chí Minh:
+ Độc lập dân tộc là mục tiêu trước hết, là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ
nghĩa xã hội.
5
Hồ Chí Minh cho rằng, cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn:
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai
đoạn ấy không có bức tường ngăn cách, mà gắn bó chặt chẽ với nhau.
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân có hai nhiệm vụ chiến lược: chống
thực dân xâm lược và chống địa chủ phong kiến. Nhiệm vụ dân tộc và dân chủ
quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên trên
hết, trước hết, nhiệm vụ dân chủ cần thực hiện từng bước và phải phục tùng sự
nghiệp giải phóng dân tộc. Tư tưởng trên đây được Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét
trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 và Người nhấn mạnh tại Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khóa I) 5-1941.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao gồm cả nội dung dân tộc
dânchủ. Không phải bất kỳ độc lập dân tộc nào cũng tạo cơ sở, tiền đề để tiến
lên chủ nghĩa xã hội. Theo Hồ Chí Minh, để tạo cơ sở, tiền đề cho việc tiến lên
chủ nghĩa xã hội, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải được thực hiện
một cách triệt để, "đến nơi". Đó là một nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn
không lệ thuộc vào bất cứ lực lượng nào cả về đối nội, lẫn đối ngoại. Hồ Chí
Minh nhiều lần phê phán sự lệ thuộc về mọi mặt của những chính quyền do thực
dân cũ và mới lập nên ở Việt Nam. Người gọi đó là độc lập giả hiệu, độc lập
kiểu Mỹ.
Để tạo cơ sở, tiền đề cho việc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đối với Việt Nam,
một đòi hỏi có ý nghĩa sống còn là độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Nước Việt Nam là một, dân tộc

nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới bảo đảm cho một nền độc lập dân tộc chân
chính, mới giải phóng các dân tộc một cách thực sự, hoàn toàn.
Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng, cả cách mạng giải phóng dân tộc và
cách mạng xã hội chủ nghĩa là việc khó, là cuộc đấu tranh gay go, ác liệt, lâu
dài. Giành độc lập dân tộc đã khó, xây dựng chủ nghĩa xã hội còn khó khăn hơn.
7
Hồ Chí Minh so sánh: thắng đế quốc phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng
lạc hậu khó khăn hơn. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Đánh đổ giai cấp địch đã khó,
đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội còn gian khổ, khó khăn hơn nhiều". Từ
những khó khăn gian khổ ấy, Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi Đảng, Nhà nước và mỗi
người dân phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
2. Sự thể hiện trên thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
xuất hiện từ năm 1920, khi Người bắt gặp chủ nghĩa Mác-Lênin, và nó được thể
hiện rõ nét từ năm 1930. Sự thể hiện tư tưởng của Người về độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội có thể phân thành 3 thời kỳ chủ yếu.
+ Thời kỳ 1930 - 1945
Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh
thời kỳ này thể hiện rõ trong những Văn kiện do Hồ Chí Minh soạn thảo được
Hội nghị hợp nhất thông qua. Chánh cương vắn tắt của Đảng chỉ rõ Đảng chủ
trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
xã hội cộng sản". Hồ Chí Minh khẳng định sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt
Nam được thực hiện bằng con đường cách mạng vô sản: "Muốn cứu nước và
giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh điều đó có ý nghĩa là:
Đối tượng của cuộc đấu tranh là thực dân đế quốc và bọn tay sai chống lại
độc lập dân tộc.
Ở trong nước lực lượng cách mạng bao gồm công nông là gốc và tất cả
những ai có lòng yêu nước, thương nòi.

giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đặt nền tảng cho bước chuyển biến từ
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Đây là tư tưởng lớn thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử xã hội Việt
Nam. Chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện tiến lên
CNXH và chỉ có làm cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ vững những thành
quả do sự nghiệp giải phóng dân tộc mang lại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là tổng hợp
những quan điểm chiến lược có ý nghĩa chỉ đạo lớn về chính trị và lý luận, về
nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân trong toàn bộ tiến trình cách
mạng Việt Nam.
III/ TINH THẦN ĐỘC LẬP TỰ CHỦ, TỰ LỰC TỰ CƯỜNG, ĐỔI MỚI
VÀ SÁNG TẠO:
Từ khi ra đi tìm đường cứu nước, ngay đầu những năm 20 của thế kỷ XX,
trên đất Pháp, Người đã nói "Tổ tiên đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng
cảm, chí khí và tự tôn"
(2)
; về sau Người lại khẳng định Việt Nam là "một dân tộc
đã tự cường, tự lập"
(3)
.
Hơn sáu mươi năm hoạt động cách mạng sôi nổi và sáng tạo, Người đã tiếp
thụ chủ nghĩa Mác - Lê-nin kết hợp với truyền thống yêu nước Việt Nam, tinh
thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường dân tộc, tìm thấy con đường cứu nước và
giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội. Con đường đó đã được vạch ra từ mùa xuân năm 1930, trong những văn
kiện do Người soạn thảo được Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thông qua,
trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Với Cương lĩnh đó, những nét lớn
trong Tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành và con đường cứu nước của Việt
Nam đã được khẳng định. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự
thể hiện rõ nét nhất tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Tư tưởng Hồ Chí

yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ". Chính những luận
điểm sáng tạo, mới mẻ đó đã dẫn Hồ Chí Minh đến những quyết định lịch sử.
Tháng 8-1945, khi thời cơ xuất hiện, Người ra lời kêu gọi "Giờ quyết định cho
vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà
tự giải phóng cho ta"
(7)
. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của
11
tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường và sáng tạo của Tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Trong những năm kháng chiến chống xâm lược, Hồ Chí Minh luôn nêu cao
tinh thần "dựa vào sức mình là chính". Nếu như trong đấu tranh giành chính
quyền, Người đòi hỏi phải "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta thì những năm
kháng chiến chống xâm lược, tư tưởng ấy của Người là "Dân ta phải giữ nước
ta". Khi miền bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người chỉ rõ:
"Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng
chiến, thì ngày nay chúng ta càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần
kiệm xây dựng nước nhà"
(8)
.
Nhân dân Việt Nam và tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên thế
giới đều biết đến câu nói mang tính thời đại của Hồ Chí Minh: "Không có gì quý
hơn độc lập, tự do". Người nhấn mạnh: "Mỗi một người dân phải hiểu: có tự lập
mới độc lập, có tự cường mới tự do"
(9)
.
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn, độc
lập tự chủ không có nghĩa là biệt lập, đứng một mình. Ngay từ năm 1947, Người
đã chủ trương: "Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với
một ai"

nước ta phải không ngừng khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh
thần dân tộc, nguồn động lực mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ đất nước. Phát
huy tối đa các nguồn nội lực, bao gồm con người, trí tuệ, truyền thống, đất đai,
tài nguyên,v.v để xây dựng và phát triển kinh tế, đưa đất nước từng bước bắt kịp
các nước phát triển. Đất nước phát triển, nền kinh tế hùng mạnh sẽ góp phần
trực tiếp tạo sức mạnh cho nhân dân ta giữ vững độc lập dân tộc. Độc lập dân
tộc phải được xem là cái bất biến trong sự thiên biến vạn hoá của nền kinh tế thế
giới đang phát triển với xu thế toàn cầu hoá; bản sắc văn hoá Việt Nam cũng
phải được xem là cái bất biến trong sự đa dạng các nền văn hoá thế giới, tiếp thu
nhứng hay, cái đẹp, cái tiên tiến mà vẫn không mất đi cái gốc, cái chất Việt Nam
13
trong mỗi con người. Đó cũng là cách để giữ vững độc lập dân tộc theo đúng
nghĩa của nó.
Độc lập là tài sản thiêng liêng vô giá của cả dân tộc, là cái phải giữ cho dù
mất tất cả, “hy sinh tất cả”. Muốn thực hiện tốt tinh thần bất hủ ấy của Hồ Chí
Minh, ngày nay đường lối của Đảng và Nhà nước ta phải thể hiện rõ sự quan
tâm, không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tiếp thu
và phát huy tinh hoa của dân tộc với truyền thống “lấy dân làm gốc” (Dân vi bản
quốc gia trường thọ), sinh thời Hồ Chí Minh đã không ngừng giáo dục cán bộ,
đảng viên phải luôn luôn có tinh thần “vì dân phục vụ”. Người nói: “ Gốc có
vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Chăm lo và không
ngừng nâng cao đời sống cho nhân dân là cách thiết thực nhất để bảo vệ độc lập
dân tộc, vì theo Người, dân như nước, chở thuyền cũng là nước mà lật thuyền
cũng là nước. Dân giàu thì nước mạnh, mà nước mạnh thì độc lập dân tộc còn.
Chủ trương diệt giặc đói và giặc dốt của Người năm 1945 về cơ bản chính là nền
tảng của việc chăm lo và nâng cao đời sống cho người dân về vật chất cũng như
tinh thần. Và suy cho cùng, mục tiêu của độc lập dân tộc, theo quan điểm của
Hồ Chí Minh, là tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân; và dĩ nhiên là dân được
ấm no tự do hạnh phúc sẽ ra sức bảo vệ nền độc lập vốn mang lại những điều tốt
đẹp đó. Như vậy, chăm lo, không ngững nâng cao đời sống nhân dân vừa là mục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status