Bài tập Triết học
BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN MÔN TRIẾT HỌC
Hệ: Cao Học
Giảng Viên: PGS.TS Phạm Văn Sinh
Học Viên: Đỗ Tuấn Long
Lớp CH 18M- Khoá 18
Thời gian học: Cuối tuần tại Trường Đại học
KTQD
Đề Tài: Bình luận giá trị tư tưởng triết học nho
giáo (nho gia) của khổng tử.
Đỗ Tuấn Long - CH18M
1
Bài tập Triết học
Bài Làm
Nói đến nền văn minh cổ đại Trung Hoa thì quả là rộng
lớn. Biết bao nhiêu hệ tư tưởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến
ngày nay. Từ thuyết âm dương ngũ hành, học thuyết của Khổng
Tử, Lão tử Thế nhưng trong các học thuyết ấy, không ai có
thể chối cãi được rằng học thuyết Nho Giáo của Khổng tử là có
vị trí quan trọng hơn hết trong lịch sử phát triển của Trung
Quốc nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng.
Để phân tích được hết giá trị của học thuyết Nho Giáo thì
chắc em chưa đủ khả năng, em mạnh dạn xin được bình luận về
giá trị của học thuyết Nho Giáo của Khổng Tử.
Tư tưởng triết học của Khổng tử không thiên về tư biện
siêu hình mà thiết thực và mang đậm tính nhân văn, hướng về
luân lý và nghệ thuật cai trị. Ông đã mang một tinh thần mới
cho một truyền thống đang suy đồi và truyền tinh thần ấy cho
một bộ phận quan trọng của tầng lớp tri thức.
Học thuyết Khổng tử được trình bày tập trung trong Luận
ngữ:
Mạnh tử truyền bá học thuyết của Khổng tử, đưa thêm
vào tư tưởng dân bản (dân là gốc), thuyết tính thiện (bản tính
Đỗ Tuấn Long - CH18M
3
Bài tập Triết học
con người là thiện), thuyết lương tri (con người bẩm sinh có
mầm mống của các đức tính: lòng trắc ẩn là nguồn gốc của
Nhân, biết xấu hổ và né tránh cái ác là nguồn gốc của Nghĩa, sự
khiêm tốn và nhường nhịn là đầu mối của Lễ, biết phân biệt
đúng sai là cơ sở của Trí) chỉ cần trau dồi các thiên hướng tốt
này sẽ phát triển thành các đức tính cốt tử của Nho giáo.
Tuân tử lại đề xướng ý kiến đối lập của Nho giáo coi bản
tính con người là ác, cái thiện chỉ là giả tạo. Tuân tử nhấn mạnh
chữ Lễ, xem như trật tự vũ trụ, trật tự xã hội phải tuân thủ nhằm
tránh các xung đột.
Từ đời Hán, vị trí của Nho giáo được đề cao. Đổng Trọng
Thư phát triển lý thuyết mệnh trời và hệ thống hóa các quan hệ
luân thường đạo lý thành tam cương, ngũ thường. Lý học đời
Tống do Chu Đôn khởi xướng, hai anh em Trình Di – Trình
Hạo phát triển, Chu Hy tổng kết mượn vũ trụ quan của Đạo
giáo và Phật giáo bổ sung cho Nho giáo, lấy thuyết thái cực
biện hộ cho lý thành hệ thống lý thuyết duy tâm xơ cứng nhằm
bảo vệ trật tự chế độ phong kiến.
Chúng ta tìm hiểu vì Nho giáo khi nó đã tồn tại hơn 2000
năm, luôn được cải biến được bổ sung và mang các bộ mặt
khác nhau qua các thời kỳ. Nhiều học giả đã tốn rất nhiều giấy
mực để sưu tâm, trích dẫn và bàn cãi chung quanh những câu
chữ trong sách vở của Nho giáo từ trước tới nay. Việc làm ấy
thường dẫn đến những nhận định chủ quan, giản đơn và phiến
Đỗ Tuấn Long - CH18M
- Sự thừa kế và thịnh vượng của văn hóa xã hội, nhất nhất
đều cậy vào nguồn năng TÌNH THƯƠNG. Nay ta hồi cố lại
lịch sử cổ xưa cái chết của SOCRATES, triết gia Tây phương
(469 - 399 TR.KN.TL.), Chúa JÉSUS bước lên thập tự giá, lòng
từ bi của Phật tổ THÍCH CA MÂU NI cùng thuyết "Nhân ái"
của Khổng Tử, đều đã ấn chứng cho sức mạnh vô biên của
"năng lượng tình thương", vốn dĩ tồn tại trong bất cứ một con
người nhỏ bé, phàm phu tục tử nào, thậm chí cả trong các loài
động vật vô tri. Vậy chính phạm vi phóng xạ của năng lượng
tình thương đó, rộng hay hẹp và nhiều hay ít, là mức độ vĩ đại
của một con người, cuơng là khuôn thước để đo lường giữa
nhân vật vĩ đại và con người tầm thường. Khổng Tử chẳng
những chỉ tuyên dương NHÂN ái, mà còn khẳng định sức mạnh
của tình thương qua câu "Nhân giả tất hữu dũng" (Kẻ có lòng
nhân ắt là người can đảm).
Điểm thứ hai là, đời nay người ta công nhận, muốn xây
dựng một xã hội dân chủ tự do, trước hết phải bồi dưỡng cho
tâm hồn cởi mở. Triết lý của Khổng Tử có từ trước đây hai
ngàn năm, đã chứa đựng tư tưởng đó rồi, chỉ tiếc là, trong xã
hội Trung Hoa truyền thống, lại thiếu hẳn môi trường tương
ứng để phát triển tư tưởng cởi mở đó. Riêng một điểm nữa là,
cả cuốn Luận Ngữ, Khổng Tử ít khi bàn đến việc trau dồi học
vấn qua công phu dùi mài sách vở. Điều mà Ngài coi trọng
Đỗ Tuấn Long - CH18M
6
Bài tập Triết học
nhất, là nhân phẩm con người trong đời sống thực tế, chẳng hạn
như Tử viết: "Sự phụ mẫu năng kiệt kỳ lực, sự quân năng ta kỳ
thân, dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín, tuy viết vị học, ngô tất
vị chi học di". (Người nào mà phụng sự cha mẹ hết sức, thờ