Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
XNK Xuất nhập khẩu
XK Xuất khẩu
NK Nhập khẩu
TMQT Thương mại quốc tế
ADB Ngân hàng phát triển châu Á (Asian Development Bank )
GMS Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (Greater Mekong Subregion)
EHP Chương trình thu hoạch sớm trong khuôn khổ ACFTA
ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of South Asian
Nations)
NDT Nhân dân tệ
VNĐ Việt Nam đồng
USD Đồng Đôla Mỹ
CSHT Cơ sở hạ tầng
KTXH Kinh tế xã hội
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng
về văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội. Quan hệ về chính trị - ngoại giao, kinh tế -
thương mại và giao lưu văn hoá giữa hai nước đã có từ lâu đời và đã trở thành mối
quan hệ truyền thống bền vững. Tuy nhiên, qua các thời kỳ lịch sử cũng có những
biến động về chính trị - xã hội làm ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế thương mại giữa
hai nước nhưng chưa bao giờ làm mất đi quan hệ kinh tế đó, trái lại hoạt động kinh
tế, thương mại giữa hai nước ngày càng có điều kiện thuận lợi để phát triển, phù
hợp với xu thế hoà bình, ổn định và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Từ khi
bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ kinh tế chính trị của hai nước
này trùng với hai nhánh của hành lang kinh tế Bắc - Nam (GMS). Mục đích chủ yếu
của hai hành lang kinh tế Việt – Trung này là thúc đẩy hợp tác giữa các tỉnh biên
giới miền Bắc Việt Nam với các tỉnh Tây Nam Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực:
kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, du lịch…
Nhận thức được vai trò to lớn và tính cần thiết của việc đẩy mạnh hợp tác
biên mậu giữa hai nước thông qua sự phát triển của các hành lang kinh tế trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội của hai nước nên em đã chọn đề tài nghiên cứu “Tác
động của hành lang kinh tế Bắc – Nam trong Hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông
Mekong mở rộng tới thương mại Việt Nam – Trung Quốc” nhằm đánh giá những
tác động của hai hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và
Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng, nằm trong khuôn khổ hợp tác GMS
và hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế” Việt – Trung, tới quan hệ thương
mại Việt Nam – Trung Quốc trên cả hai mặt thành tựu và hạn chế, để đưa ra một số
khuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế thương mại trên khu vực hai
hành lang kinh tế này.
Nội dung của đề tài nghiên cứu bao gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận để đánh giá tác động của hành lang kinh tế đến
thương mại quốc tế.
Chương II: Đánh giá tác động của hành lang kinh tế Bắc – Nam trong
GMS đến thương mại Việt Nam – Trung Quốc.
Chương III: Các khuyến nghị về chính sách nhằm thúc đẩy thương mại
quốc tế trong hành lang kinh tế Bắc Nam.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn
Ngọc Sơn và các cán bộ nghiên cứu trong Ban Các vấn đề quốc tế, Viện Chiến lược
phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những
thiếu sót và hạn chế. Em rất mong PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn và các anh chị trong
Ban đóng góp ý kiến để em tiếp tục hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
vùng sâu trong nội địa với cảng biển trong nước hoặc nước khác.
Hành lang kinh tế là một tuyến nối liền các vùng lãnh thổ của một hoặc
nhiều quốc gia nhằm mục đích liên kết, hỗ trợ lẫn nhau để khai thác có hiệu quả lợi
thế so sánh của các khu vực địa lý – kinh tế nằm trên cùng một dải theo trục giao
thông thuận lợi nhất đối với sự lưu thông hàng hóa và liên kết kinh tế giữa các vùng
bên trong, cũng như các vùng cận kề với hành lang.
Tuyến liên kết này được hình thành trên cơ sở kết cấu hạ tầng đa dạng có khả
năng tạo ra sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, làm thay đổi căn bản diện mạo
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của một vùng nhất định thuộc một hoặc nhiều quốc gia mà hành lang kinh tế đi qua,
và góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đó.
Trên thực tế, thuật ngữ “hành lang kinh tế” được dùng chủ yếu để chỉ một
khu vực rộng lớn trải dài hai bên một tuyến đường giao thông huyết mạnh đã có
hoặc chuẩn bị được xây dựng. Tuyến đường trục này cho phép giao thông thuận
tiện đến các điểm đầu, cuối và bên trong hành lang phát triển đó, có vai trò đặc biệt
quan trọng để liên kết toàn khu vực và thúc đẩy phát triển kinh tế dọc theo hành
lang này.
Để hiểu rõ hơn khái niệm hành lang kinh tế chúng ta cần hiểu thêm về các cơ
chế hợp tác khu vực. Có hai cơ chế hợp tác kinh tế khu vực chủ yếu: chính thức và
không chính thức.
Cơ chế chính thức bao gồm các hình thức như Khu vực mậu dịch tự do
(FTA), Liên minh thuế quan (kiểu liên minh Nga - Belarus ), Thị trường chung
(kiểu EU).
Cơ chế phi chính thức gồm các hình thức như Tam giác phát triển, Khu vực
tự do xuyên quốc gia, Hành lang kinh tế. Trong đó cơ chế không chính thức có một
số đặc thù như chỉ bao gồm các vùng (địa phương) thuộc các nước khác nhau chứ
không bao gồm thực thể quốc gia; các thành viên duy trì quan hệ thương mại và đầu
tư với thị trường bên ngoài khu vực; không có những chính sách chung đồng nhất,
án giao thông quan trọng trong hành lang kinh tế Đông Tây là tuyến đưởng thẳng và
liên tục, duy nhất giữa Ấn Độ Dương với Biển Đông…
Các dự án giao thông cũng bao gồm cả nâng cấp hệ thống giao thông đường
thủy nội địa, cảng biển và mạng lưới đường sắt. Nhờ có các hành lang giao thông
này đã cắt giảm chi phí vận tải và thời gian đi lại. Đồng thời hành lang giao thông
cũng tạo ra mối liên kết giữa các vùng kinh tế với nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho
sự hợp tác phát triển kinh tế.
- Hành lang giao thông đa phương thức: Vận tải đa phương thức
(Multimodal transport) quốc tế hay còn gọi là vận tải liên hợp (Conbined transport)
là phương thức vận tải hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trở
lên, trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức từ một điểm ở một nước, tới
một điểm chỉ định ở một nước khác để giao hàng. Hiện nay, vận tải đa phương thức
là phương thức vận tải đang được phát triển mạnh trên thế giới có tác dụng thúc đẩy
sự phát triển buôn bán quốc tế, đáp ứng được yêu cầu của phương thức giao hàng
"từ kho người bán đến kho của người mua".
Ở Việt nam hàng hoá được vận chuyển theo hình thức vận tải đa phương
thức là các loại hàng được đóng trong container, chủ yếu là những mặt hàng như
quần áo may sẵn, hàng nông sản, hàng đông lạnh và một số mặt hàng tiêu dùng
khác, còn hàng hoá NK là các nguyên liệu gia công như: vải, sợi, len, dạ hay các
máy móc thiết bị
Hành lang giao thông đa phương thức là dạng hành lang liên kết giữa các
vùng hoặc khu vực thông qua sự hội nhập các phương tiện vận tải khác nhau.
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Hành lang logistics: Hành lang logistics (hay hành lang hậu cần) không
chỉ liên kết giữa các vùng, khu vực, mà còn phối hợp hài hòa khung thể chế của
hành lang để thuận tiện hóa các dòng trao đổi hàng hóa và con người, thông tin
trong cả vùng.
- Hành lang kinh tế: Như đã nói ở trên, một trong những đặc điểm hay điều
hiểu
là
sự
trao
đổi
hàng
hoá
và
dịch
vụ qua
biên
giới
giữa
các
quốc
gia hoặc mua bán tại chỗ với người nước
tố
sản
xuất
qua
biên
giới giữa
các
quốc
gia.
Tổ
chức
thương
mại
thế
giới
sở
hữu
trí
tuệ. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này,
em chỉ xem xét TMQT dưới góc độ là thương mại hàng hóa hay cụ thể là hoạt động
XNK hàng hóa.
1.2. Hàng hóa trong thương mại quốc tế.
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hàng hóa trong thương mại quốc tế có thể chia thành 3 loại:
1.2.1. Sản phẩm hàng hóa hữu hình
Sản phẩm hàng hóa hữu hình trong TMQT bao gồm những loại hàng hóa như
nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lương thực thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng… Đây là
bộ phận chủ yếu và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Hoạt động mua bán các loại hàng hóa này được gọi là thương mại hàng hóa.
1.2.2. Sản phẩm hàng hóa vô hình
Sản phẩm hàng hóa vô hình bao gồm các loại sau: các bí quyết công nghệ,
bằng sáng chế phát minh, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch
vụ lắp ráp thiết bị máy móc, dịch vụ du lịch… Đây là bộ phận có tỷ trọng ngày càng
gia tăng, phù hợp với sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật và việc phát
triển các ngành dịch vụ trong nền kinh tế. Hoạt động mua bán các đối tượng này
được gọi là thương mại dịch vụ.
1.2.3. Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là hình thức cần thiết trong điều kiện phát triển của phân
công lao động quốc tế và do sự khác biệt về điều kiện tái sản xuất giữa các quốc
nghiệp chế biến. Sự phát triển của các ngành này lại thúc đẩy sự phát triển công
nghiệp hàng tiêu dùng và các ngành dịch vụ.
Hoạt động TMQT tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày càng
lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Việc sản xuất sản phẩm
làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào thị trường thế giới nhiều hơn so với thị
trường trong nước. Do đó, các doanh nghiệp muốn đứng vững trong cạnh tranh phải
dựa vào tiêu chuẩn quốc tế. Thị trường thế giới rộng lớn cũng tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp phát huy được hiệu quả của sản xuất quy mô lớn. Mặt khác, thông
qua hoạt động TMQT sẽ NK được thiết bị và kỹ thuật tiên tiến, tiếp cận được
phương thức sản xuất hiện đại, phương pháp quản lý khoa học. Những người lao
động, cán bộ kỹ thuật và quản lý có điều kiện để học tập bí quyết công nghệ, nâng
cao kỹ năng sản xuất và trình độ quản lý.
Bên cạnh đó, TMQT còn tạo điều kiện nâng cao khả năng tiêu dùng, tăng
mức sống của dân cư. TMQT cho phép người tiêu dùng có thể được tiêu dùng nhiều
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hàng hóa, dịch vụ hơn, chủng loại phong phú hơn, giá rẻ hơn. Đó là cơ sở để nâng
cao mức sống của dân cư các nước và của thế giới nói chung.
3. Các chính sách thương mại quốc tế thường được áp dụng
3.1. Khái niệm chính sách thương mại quốc tế.
Tự do hóa thương mại giúp cho người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm chất
lượng cao, giá rẻ, đồng thời kích thích sản xuất trong nước phát triển theo mô hình
chuyên môn hóa dựa vào sự phân công lao động giữa các quốc gia. Tuy nhiên,
không phải vì vậy mà các quốc gia mở cửa hoàn toàn thị trường. Ngày nay, vì nhiều
lý do khác nhau nên hầu như quốc gia nào cũng đều có những hàng rào bảo hộ mậu
dịch, hay những chính sách TMQT.
Trong các tài liệu tiếng Anh, khái niệm về chính sách TMQT được viết ngắn
gọn là chính sách thương mại (trade policy). Mạng lưới điện toán của nước Anh
định nghĩa chính sách TMQT là “chính sách của chính phủ nhằm kiểm soát hoạt
Thuế gián tiếp tác động tới thương mại như thuế doanh thu, thuế giá trị gia
tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt.
3.2.1.2. Xét theo góc độ thương mại quốc tế.
Nếu xét dưới góc độ TMQT, có thể phân thành thuế NK và thuế XK:
Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa NK. Theo đó, người mua trong
nước phải trả cho hàng NK một khoản tiền lớn hơn mức mà người XK ngoại quốc
nhận được.
Thuế xuất khẩu: áp dụng cho hàng hóa XK và làm cho giá cả quốc tế của
hàng hóa bị đánh thuế vượt quá giá cả trong nước, làm hạ thấp tương đối mức giá cả
trong nước của hàng hóa có thể XK xuống so với mức giá cả quốc tế.
Thuế quan với tính chất là hàng rào mậu dịch chính là thuế NK. Ngày nay nhiều
nước đã bỏ thuế XK để tăng tính cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế.
Thuế được tính theo nhiều phương pháp khác nhau: có thể là một số tiền cố
định trên mỗi đơn vị hàng hóa XNK; hoặc tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng
hóa XNK; hoặc cũng có thể kết hợp hai cách trên, tức là thuế qun vừa được tính
theo một tỷ lệ phần trăm so với giá trị hàng hóa, vừa cộng với mức thuế tính theo
một đơn vị hàng hóa.
3.2.2. Công cụ phi thuế quan.
Các quốc gia có thể dùng thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước. Tuy
nhiên, hiện nay, với xu hướng hội nhập KTQT và toàn cầu hóa, vai trò của thuế
quan ngày càng giảm đi. Thay vào đó, các nước sẽ chú trọng hơn việc sử dụng hàng
rào phi thuế quan.
Các hàng rào phi thuế quan bao gồm trợ cấp XK, hạn ngạch NK, hạn chế XK
tự nguyện, các yêu cầu về nội địa hoá, trợ cấp tín dụng xuất khẩu, quy định về mua
sắm của Chính phủ, các hàng rào hành chính, hàng rào về kỹ thuật, khuyến khích
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài XK, khu chế xuất, khu công
nghiệp, các quy định về chống bán phá giá và trợ cấp
Tuy nhiên, do tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế khu vực, các
quốc gia tham gia nhiều hơn vào các tổ chức mậu dịch tự do nên cũng đang giảm
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
bị ép giá qua cao do mua hàng từ bên thứ 3, đồng thời các chính sách dịch vụ đối
với hàng hóa cũng tốt hơn).
Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp XK phải có cán bộ nghiệp vụ kinh
doanh XNK có trình độ cao, am hiểu và có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, đặc
biệt là nghiệp vụ thanh toán quốc tế thông thạo. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi
phải có chi phí tiếp thị ở nước ngoài cao nên đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ,
ít vốn không nên áp dụng.
4.1.2. Xuất nhập khẩu gián tiếp
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
XNK gián tiếp là hình thức bán hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp ra thị
trường nước ngoài thông qua trung gian (người thứ 3) hay nói cách khác XNK gián
tiếp là hình thức mà nhà sản xuất tiến hành XK sản phẩm của mình ra nước ngoài
thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập đặt tại quốc gia tiếp nhận NK.
Đối với nước XK, hình thức này có ưu điểm là: Giảm chi phí bán hàng, chi
phí tiếp thị. Những người trung gian thường có cơ sở vật chất nhất định, đa phần là
những người bản địa, am hiểu thị trường, pháp luật, tập quán buôn bán địa phương
vì vậy có thể đẩy mạnh được việc kinh doanh, buôn bán và tránh rủi ro, đồng thời
giảm được chi phí đầu tư vào nước NK cho người ủy thác (doanh nghiệp XK hàng
hóa).
Còn đối với người dân nước NK, hàng hóa cũng sẽ được bảo đảm về chất
lượng hơn do người trung gian trước khi NK hàng hóa đã qua một giai đoạn sàng
lọc chất lượng sản phẩm.
Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là: chủ thể tham gia kinh doanh XK
sẽ mất đi liên hệ với thị trường, lợi nhuận bị chia sẻ. Ngoài ra, bên phía trung gian
thường đưa ra những yêu cầu đòi hỏi bên phía chủ thể XK phải đáp ứng, tạo thế bị
động cho bên XK.
Hình thức này thường được sử dụng khi xâm nhập vào thị trường mới hoặc
khi mặt hàng khó bảo quản như các mặt hàng tươi sống…
đặc điểm là hàng hóa không bắt buộc phải vượt qua biên giới quốc gia mới đến tay
của khách hàng. Ngoài ra, các thủ tục XNK thì đơn giản hơn, chi phí XNK cũng
như rủi ro thấp. Tuy nhiên, thị trường đối với lọai hình này là không lớn, chỉ gồm
những người nước ngoài đi du lịch hoặc làm việc tại nước XK tiêu thụ.
4.2. Theo phương thức xuất nhập khẩu
Nếu xét theo phương thức XNK thì TMQT bao gồm các hình thức sau:
Hình thức thứ nhất là “thương mại chính ngạch”. Thương mại chính ngạch
là hình thức mà các hàng hóa XNK qua biên giới theo giấy phép của Bộ Công
thương. Những hàng hóa XNK phải được thông qua cửa khẩu quốc tế, quốc gia và
phải tuân thủ các thủ tục XNK quốc tế.
Hình thức thứ hai là “thương mại tiểu ngạch”. Đây là hình thức XNK những
hàng hóa XNK theo giấy phép của UBND các tỉnh biên giới
Hình thức thứ ba là “buôn bán của cư dân biên giới”: Là hoạt động trao đổi
của cư dân biên giới, do nhân dân 2 vùng biên thực hiện. Các hàng hóa được trao đổi
thường do họ tự sản xuất ra, đem trao đổi trực tiếp. Hình thức thương mại này nhằm
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân vùng biên. Do điều kiện địa hình không
thuận lợi, chi phí vận chuyển hàng hóa từ dưới xuôi lên cao và khó khăn, họ tiến hành
trao đổi hàng hóa ở những chợ vùng biên với giá cả rẻ hơn và hàng hóa sẵn có hơn.
Đối với hình thức này, khối lượng trao đổi hàng hóa thường không nhiều. Tuy nhiên,
hiện nay hình thức buôn bán này không được kê khai đầy đủ với cơ quan Hải quan
nên đôi khi ảnh hưởng tới việc đánh giá kết quả của hoạt động biên mậu giữa các
quốc gia.
5. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động thương mại quốc tế
5.1. Kim ngạch xuất, nhập khẩu
Kim ngạch XNK hàng hóa của 1 quốc gia cho biết nước đó đã XNK bao
nhiêu hàng hóa với khối lượng và giá trị bao nhiêu.
5.2. Tốc độ tăng kim ngạch xuất, nhập khẩu
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quốc tế) thì sẽ giảm thiểu được những rủi ro trong thương mại, tránh thiệt hại cho
nước mình. Ngược lại, khi nước tham gia XNK chủ yếu thông qua hoạt động hoạt
động buôn bán tiểu ngạch (là hình thức XNK theo giấy phép của UBND các tỉnh
biên giới) thì rủi ro mang lại là lớn, và nó có thể làm giảm đi rất nhiều hiệu quả của
hoạt động XK.
5.6. Thời gian vận chuyển
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thời gian vận chuyển và chi phí của hoạt động XNK cho biết mức độ nhanh
gọn của các thủ tục hành chính trong hoạt động XNK. Hiện nay, các nước đều đang
cố gắng hoàn thiện, cải cách thủ tục hành chính nhằm giúp các doanh nghiệp XNK
giảm bớt thời gian chờ XNK, cũng như làm giảm chi phí đi kèm (như chi phí lưu
kho, bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản hàng hóa…)
III. Tác động của hành lang kinh tế đến thương mại quốc tế
1. Tác động tới việc gia tăng các chính sách khuyến khích thương mại và
hợp tác đầu tư trên khu vực hành lang.
Hành lang kinh tế hình thành đi kèm với nó sẽ là các chính sách nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho sự tự do hóa thương mại, đầu tư, giao thông, nhập cư, thúc
đẩy sự phát triển tại khu vực biên giới của các quốc gia. Vì vậy, khi xây dựng hành
lang kinh tế, Chính phủ các nước liên quan sẽ có những biện pháp, chính sách nhằm
khuyến khích đầu tư và thương mại trên tuyến hành lang như: xây dựng khu kinh tế
cửa khẩu, xây dựng hệ thống dịch vụ hỗ trợ XNK (như ngân hàng, bến bãi, kho
chứa, trạm trung chuyển hàng hóa…), cải cách thủ tục hành chính… Thông qua các
chính sách hỗ trợ này sẽ làm gia tăng hoạt động thương mại và góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế các địa phương dọc tuyến hành lang.
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Tác động đến kim ngạch xuất, nhập khẩu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HÀNH LANG KINH
TẾ BẮC NAM TRONG HỢP TÁC KINH TẾ TIỂU VÙNG SÔNG
MEKONG MỞ RỘNG TỚI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM –
TRUNG QUỐC
I. Sự hình thành và phát triển của hành lang kinh tế Bắc Nam trong tiểu vùng
sông Mekông mở rộng GMS
1. Tổng quan về tiểu vùng sông Mekông mở rộng và các hành lang kinh
tế trong tiểu vùng sông Mekông mở rộng
1.1. Tổng quan về tiểu vùng sông Mekong mở rộng
Sông Mekong là một trong những con sông lớn trên thế giới, chảy qua nhiều
nước châu Á trước khi đổ ra biển. Sông Mekong tạo ra một tiểu vùng (tiểu vùng
Mekong) gắn kết nhau bởi địa lý, điều kiện tự nhiên, sự đa dạng phong phú về văn
hóa và tiềm năng to lớn về phát triển kinh tế. Tiểu vùng sông Mekong mở rộng
(Greater Mekong Subregion - GMS) là khu vực gồm lãnh thổ của các quốc gia:
Campuchia, Lào, Việt Nam, Myanmar, Thái Lan và 2 tỉnh Vân Nam, Quảng Tây
của Trung Quốc. GMS là khu vực kinh tế tự nhiên gắn kết với nhau bởi Sông Mê
Kông, rộng 2,6 triệu km2 và có dân số hơn 300 triệu người. Sông Mekong đã mang
lại lợi ích và cơ hội to lớn cho hàng triệu người ở mỗi quốc gia trong tiểu vùng.
Vào năm 1992, với sự hỗ trợ từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), sáu
nước trong GMS đã khởi động chương trình hợp tác kinh tế tiểu vùng sông Mekong
mở rộng để đẩy mạnh quan hệ kinh tế, dựa trên nền văn hóa và lịch sử chung. Hợp
tác kinh tế GMS được xây dựng dựa trên điểm chung của các nước GMS. Đó là:
Một là, các nước có chung đường biên giới.
Hai là, các nước trong GMS hầu đều có xuất phát KTXH thấp.
Ba là, CSHT KTXH còn kém phát triển.
Bốn là, nền kinh tế các nước còn thiếu vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý
và nguồn nhân lực trình độ cao.
Năm là, thị trường các nước rộng lớn nhưng chưa được khai thác nhiều, còn
nhiều tiềm năng phát triển.
vùng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.
• C3: Xây dựng tính cộng đồng vững mạnh hơn thông qua các chương trình
giải quyết các vấn đề môi trường và xã hội chung. Từ đó nhằm mục đích phát triển
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một cộng đồng GMS phồn vinh, thịnh vượng, duy trì tính đa dạng và đặc thù của
đời sống văn hóa từng nước thành viên.
1.2. Các hành lang kinh tế trong tiểu vùng sông Mekong
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) là tổ chức tài chính quốc tế đi tiên
phong trong việc khởi xướng chương trình hợp tác GMS, đồng thời là nhà tài trợ
chính. Gần 20 năm qua với sự trợ giúp của ADB nhiều chương trình, dự án đầu tư
đã được hoàn thành đóng góp rất đáng kể vào hợp tác phát triển kinh tế, xóa đói
giảm nghèo của các nước trong khu vực.
Lĩnh vực giao thông vận tải là một trong 9 lĩnh vực được ưu tiên trong
chương trình hợp tác này. Với sự đầu tư của ADB, rất nhiều hành lang, tuyến giao
thông đã được xây dựng, đang triển khai hoặc chuẩn bị triển khai. Sau khi hoàn
thành toàn bộ, các tuyến, hành lang giao thông này sẽ tạo ra mạng lưới giao thông
đồng bộ, liên kết giữa các nước trong khu vực.
Chương trình hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mekong mở rộng đã xây dựng
được 3 hành lang giao thông. Trong đó, Việt Nam cùng với Thái Lan là hai nước đã
tham gia cả vào 3 hành lang này. Đó là, hành lang Đông - Tây, Hành lang Bắc –
Nam từ Côn Minh (Trung Quốc) qua Lào đến Bangkoc (Thái Lan) và Hành lang
phía Nam nối thành phố Hồ Chí Minh – PhnomPenh (Campuchia) – Bangkoc (Thái
Lan). Các tuyến hành lang giao thông này sẽ làm tiền đề cho việc phát triển các
hành lang giao thông đa phương thức, hành lang logistics và cuối cùng là hành lang
kinh tế.
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
theo từng lĩnh vực của GMS và sẽ đóng vai trò là một tổ chức duy nhất tập trung
vào phát triển hành lang kinh tế.
Trong hành lang kinh tế, trục tuyến giao thông là nhân tố quan trọng nhất.
Nghĩa là nói đến hành lang kinh tế trước hết phải nói đến việc đẩy mạnh phát triển
các tuyến giao thông, cả về đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường sông và đường
hàng không. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà khi bàn đến các hành lang kinh tế
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng GMS, người ta nhấn mạnh đến phát
triển các hạ tầng cơ sở giao thông.
Ví dụ:
Hành lang kinh tế Đông Tây (East – West economic corridor) kéo dài từ
Mawlamyine – Myawaddy (Myanmar) đi qua Thái Lan, Lào và đến Đà Nẵng (Việt
Nam) đã tập trung phát triển 6 dự án về hạ tầng giao thông. Trong đó ở Việt Nam đã
thực hiện các dự án: Dự án nâng cấp Quốc lộ 9 có tổng chiều dài 83,5km; Dự án
xây dựng hầm đường bộ Hải Vân; Dự án xây dựng cảng Tiên Sa – Đà Nẵng
Cũng tương tự như vậy, hành lang kinh tế phía Nam bắt đầu từ Bangkok
(Thái Lan) đến Vũng Tàu (Việt Nam) được tập trung phát triển các tuyến giao
thông thủy, bộ, hàng không trên trục giao thông xuyên qua 3 nước Thái Lan –
Campuchia – Việt Nam. Nổi bật là các chương trình: Cải tạo đường bộ Bangkoc –
Phnompenh – Hồ Chí Minh – Vũng Tàu (trong đó Dự án đường cao tốc
PhnomPenh – thành phố Hồ Chí Minh, đã hoàn thành vào năm 2005); tuyến đường
ven biển phía Nam; Cải tạo đường bộ Sihanuc Ville (Campuchia) đến Nam Lào;
Phát triển dự án hành lang Đông Tây tại Trung Campuchia.
Ngoài các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải, Chính phủ
các nước thành viên GMS, đặc biệt là các quốc gia có hành lang kinh tế đi qua còn
hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác như: tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác kinh tế
thương mại và đầu tư thông qua các Hiệp định thỏa thuận chung (như Khung chiến
lược Hành động về Thương mại và Đầu tư SFA – TFI, Hiệp định về tạo thuận lợi
nhắc tới trong ý tưởng “hai hành lang, một vành đai”. Theo ý tưởng này thì hai
nước Việt Nam và Trung Quốc sẽ thúc đẩy giao lưu kinh tế - thương mại theo
hướng hai hành lang và một vành đai kinh tế. “Hai hành lang” này là chỉ hai hành
lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai – Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh và Nam Ninh
– Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh. “Một vành đai” chỉ “vành đai kinh
tế Vịnh Bắc Bộ”. Như vậy, về mặt địa lý, “hai hành lang, một vành đai” bao gồm ba
tỉnh phía Nam của Trung Quốc và các tỉnh miền Bắc ven vịnh Bắc Bộ của Việt
Nam. Theo đó, chính phủ hai nước đã thể hiện một quyết tâm chính trị chung là
đồng ý thiết lập hai hành lang kinh tế trên, nhằm hình thành các quan hệ “cầu nối”
trong thúc đẩy hợp tác ASEAN – Trung Quốc. Điểm mới của ý tưởng này thể hiện
Mai Thị Minh Nguyệt – Kế hoạch 48A
25