Những giải pháp phát triển hoạt động giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển tại công ty TNHH thương mại và vận tải quốc tế Hưng Thịnh – Prospertrans - Pdf 64

LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu hướng hội nhập toàn cầu hiện nay, vận tải quốc tế đang ngày
càng thể hiện rõ vai trò là tiền đề, là điều kiện tiên quyết trong sự ra đời và
phát triển của thương mại quốc tế.
Với ưu thế là một trong số ít các quốc gia có tới 3260km bờ biển thuận
tiện cho hoạt động vận tải quốc tế bằng đường biển, Việt Nam đã đang và
ngày càng chú trọng phát triển các hoạt động này.
Là một ngành quan trọng trong vận tải quốc tế ra đời cách đây gần 500
năm tại Thụy Sỹ, có thể nói ngành giao nhận đặc biệt là giao nhận bằng
đường biển đã có bề dày lịch sử và khẳng định sự tồn tại cũng như vai trò của
mình trong sự phát triển của kinh tế thế giới. Tuy chỉ mới được thành lập cách
đây 3 năm nhưng công ty TNHH thương mại và vận tải quốc tế Hưng Thịnh
(PROSPERTRANS) đã có chỗ đứng trong thị trường giao nhận vốn đã đông
đảo và cạnh tranh khốc liệt. Là một công ty nhỏ lại kinh doanh trong ngành
được coi là cạnh tranh khốc liệt vào bậc nhất hiện nay, công ty cần có những
giải pháp để phát triển hoạt động giao nhận hàng hóa quốc tế của mình. Đặc
biệt là phát triển hoạt động giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển là
hoạt động chiểm tỷ trọng chủ yếu ở công ty.
Trong thời gian thực tập và tìm hiểu tại công ty PROSPERTRANS với
mong muốn nâng cao kiến thức của bản thân và góp phần vào sự phát triển
của công ty, em đã chọn đề tài: “Những giải pháp phát triển hoạt động giao
nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển tại công ty TNHH thương mại
và vận tải quốc tế Hưng Thịnh – Prospertrans”. Với phương pháp nghiên
cứu là kết hợp các cơ sở lý luận và thực tế về giao nhận hàng hóa quốc tế
bằng đường biển cùng với các phương pháp so sánh, thống kê, phân tích...
Nhằm mục tiêu phân tích thực trạng hoạt động giao nhận tại công ty
Prospertrans từ đó đưa ra một số giải pháp để phát triển hoạt động giao nhận
này.
Bản báo cáo được chia làm 3 phần:
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAO NHẬN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN.

(FIATA): (Giáo trình vận tải giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu - PGS. TS
Hoàng Văn Châu) Dịch vụ giao nhận (Freight forwarding service) là bất cứ
loại dich vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng
gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ hoặc có liên quan đến các
dịch vụ trên kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán,
thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa.
Theo điều 163 Luật Thương mại Việt Nam: Dịch vụ giao nhận hàng
hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa
nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục
giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo ủy
thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người làm dịch vụ giao nhân khác
(gọi chung là khách hàng).
Như vậy, về cơ bản: giao nhận hàng hóa là tập hợp những công việc có
liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi
gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).
1.2. Đặc điểm.
Không tạo ra sản phẩm vật chất: chỉ tác động làm cho đối tượng thay
đổi vị trí về mặt không gian chứ không thay đổi đối tượng đó.
Mang tính thụ động: Do phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng, các
quy định của người vận chuyển, các ràng buộc về pháp luật, tập quán của
nước người xuất khẩu, nhập khẩu, nước thứ ba...
Mang tính thời vụ: hoạt động giao nhận phụ thuộc vào hoạt động xuất
nhập khẩu. Mà hoạt động xuất nhập khẩu mang tính thời vụ nên hoạt động
giao nhận mang tính thời vụ.
Phụ thuộc vào cơ sở vật chất và trình độ của người giao nhận.
1.3. Vai trò
Vai trò quan trọng của giao nhận ngày càng được thể hiện rõ trong xu
thế toàn cầu hóa như hiện nay. Thông qua:
Giao nhận tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn
và tiết kiệm mà không cần có sự tham gia của người gửi cũng như người nhận

hàng.
Lo việc vận tải nhưng chưa hẳn là người vận tải. Anh ta có thể là người
có hoặc không có phương tiện vận tải, có thể sử dụng, thuê mướn người vận
tải hoặc trực tiếp tham gia vận tải. Nhưng anh ta ký hợp đồng ủy thác giao
nhận với chủ hàng là người giao nhận chứ không phải là người vận tải.
Làm một số việc khác trong phạm vi uỷ thác của chủ hàng.
ở các nước khác nhau tên gọi của người giao nhận có khác nhau
(Forwarder, Freight forwarder, Forwarding Agent) nhưng đều có chung một
tên giao dịch quốc tế là: người giao nhận hàng hóa quốc tế (International
freight forwarder) và cùng làm dịch vụ giao nhận
Do chưa có luật lệ quốc tế quy định về địa vi pháp lý của người giao
nhận nên ở các nước khác nhau thì địa vị pháp lý của người giao nhận có khác
nhau.
Theo các nước sử dụng luật Common law: Người giao nhận có thể lấy
danh nghĩa của người ủy thác ( người gửi hàng hay người nhận hàng) thì địa
vị người giao nhận dựa trên khái niệm về đại lý. Hay có thể đảm nhận vai trò
của người ủy thác (nhân danh và hành động bằng lợi ích của chính mình). Tự
mình chịu trách nhiệm trong quyền hạn của chính mình.
Theo các nước sử dụng luật Civil law: Có quy định khác nhau nhưng
thông thường người giao nhận lấy danh nghĩa của mình giao dịch cho công
việc của người ủy thác họ vừa là người ủy thác và vừa là đại lý
2.2. Phạm vi dịch vụ của người giao nhận
Chuẩn bị hàng hóa để chuyên chở, gom hàng, lựa chọn tuyến đường
vận tải, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp.
Tổ chức xếp dỡ, chuyên chở hàng hóa trong phạm vi ga, cảng
Tư vấn, nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến hàng hóa
Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước
Làm thủ tục nhận, gửi hàng, thủ tục hải quan, kiểm nghiệm, kiểm dịch
Mua bảo hiểm cho hàng hóa, thanh toán thu đổi ngoại tệ
Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng, thanh

trò là người chuyên chở (người thầu chuyên chở hoặc người chuyên chở thực
tế). Hoặc trong TH người giao nhận cung cấp vận tải đa phương thức
II. NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1. Các nguyên tắc của nghiệp vụ giao nhận hàng hóa quốc tế
Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc chung trong giao
nhận hàng hóa quốc tế.
Đối với hàng lưu kho tại cảng: việc bốc dỡ, giao nhận, bảo quản hàng
hóa xuất nhập khẩu tại cảng là do cảng làm tiến hành trên cơ sở hợp đồng
giữa chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác với cảng. Người được chủ
hàng ủy thác thường là người giao nhận.
Đối với hàng không lưu kho tại cảng: chủ hàng hoặc người được ủy
thác có thể giao nhận trực tiếp với tàu, chỉ thỏa thuận với cảng về địa diểm
bốc dỡ, thanh toán chi phí bốc dỡ và các chi phí phát sinh khác.
Trong phạm vi cảng thì việc bốc dỡ do cảng tổ chức thực hiện. Nếu chủ
hàng đưa phương tiện và nhân công vào cảng để bốc dỡ thì chủ hàng phải
thỏa thuận với cảng và phải trả lệ phí liên quan (nếu có).
Khi được ủy thác nhận hàng từ tàu, cảng nhận hàng bằng phương thức
nào thì phải giao hàng bằng phương thức đó.
Người nhận hàng phải xuất trình chứng từ hợp lệ xác nhận quyền được
nhận hàng và phải nhận liên tục trong một thời gian nhất định khối lượng
hàng hóa ghi trong chứng từ. Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa khi
đã ra khỏi cảng.
Việc giao nhận được tiến hành trên cơ sở ủy thác của chủ hàng tức là
chủ hàng ủy thác việc gì thì chỉ làm việc đó.
Ngoài ra, còn có những quy tắc cơ bản như: việc giao nhận phải đảm
bảo định mức xếp dỡ của cảng, hàng thông qua cảng phải có đầy đủ ký mã
hiệu...
2. Trình tự giao nhận hàng hóa bằng đường biển.
2.1. Giao hàng xuất khẩu.
2.1.1. Đối với hàng hóa phải lưu kho bãi tại cảng.

trong Tally Sheet, cảng sẽ lập Bản tổng kết xếp hàng lên tàu (General
Loading Report) và cùng ký xác nhận với tàu. Đây cũng là cơ sở để lập B/L.
- Lập bộ chứng từ thanh toán.
Căn cứ vào hợp đồng mua bán và L/C, cán bộ giao nhận phải lập
hoặc lấy các chứng từ cần thiết để tập hợp thành bộ chứng từ thanh toán, xuất
trình cho ngân hàng để thanh toán tiền hàng.
Bộ chứng từ thanh toán theo L/C thường gồm: B/L. hối phiếu,
hoá đơn thương mại, giấy chứng nhận phẩm chất, giấy chứng nhận xuất xứ,
phiếu đóng gói, giấy chứng nhận trọng lượng, số lượng...
- Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng hoá
(nếu cần).
- Thanh toán các chi phí cần thiết cho cảng như chi phí bốc hàng, vận chuyển,
bảo quản, lưu kho.
- Tính toán thường phạt xếp dỡ, nếu có.
2.1.2. Giao hàng không lưu kho bãi tại cảng.
Đây là các hàng hoá XK do chủ hàng (hoặc người được chủ hàng ủy
thác) vận chuyển từ các kho riêng của mình hoặc từ phương tiện vận tải của
mình để giao trực tiếp cho tàu. Các bước giao nhận cũng diễn ra như đối với
hàng qua cảng. Sau khi đã đăng ký với cảng (về máng, địa điểm, cầu tàu xếp
dỡ...) và ký kết hợp đồng xếp dỡ, hàng cũng sẽ được giao nhận trên cơ sở tay
ba (cảng, tàu và chủ hàng). Số lượng hàng của ba bên
2.1.3. Đối với hàng XK đóng trong container
* Nếu gửi hàng nguyên( FCL/FCL)
- Chủ hàng (hoặc người được chủ hàng uỷ thác) điền vào Booking Note và
đưa cho đại diện hãng tàu hoặc đại lý tàu biển để xin ký cùng với Danh mục
hàng XK.
- Sau khi ký Booking Note, hãng tàu sẽ cấp lệnh giao vỏ container để chủ
hàng mượn và giao Packing List và Seal;
- Lấy container rỗng về địa điểm đóng hàng của mình và mời đại diện
hải quan, kiểm nghiệm, kiểm dịch, giám định (nếu có) đến kiểm tra và giám

thấy hầm tàu ẩm ướt, hàng hoá ở trong tình trạng lộn xộn hay bị hư hỏng, mất
mát thì phải lập biên bản để hai bên cùng ký. Nếu tàu không chịu ký vào biên
bản thì mời cơ quan giám định lập biên bản mới tiến hành dỡ hàng
- Dỡ hàng bằng cần cẩu của tàu hoặc của cảng và xếp lên phương tiện
vận tải để đưa về kho, bãi. Trong quá trình dỡ hàng, đại diện tàu cùng cán bộ
giao nhận cảng kiểm đếm và phân loại hàng hoá cũng như kiểm tra về tình
trạng hàng hoá và ghi vào Tally Sheet;
- Hàng sẽ được xếp lên ô tô để vận chuyển về kho theo phiếu
vận chuyển có ghi rõ số lượng, loại hàng, số B/L;
- Cuối mỗi ca và sau khi xếp xong hàng, cảng và đại diện tàu phải đối
chiếu số lượng hàng hoá giao nhận và cùng ký vào Tally Sheet;
- Lập Bản kết toán nhận hàng với tàu (ROROC) trên cơ sở Tally Sheet.
Cảng và tàu đều ký vào Bản kết toán này, xác nhận số lượng thực giao so với
Bản lược khai hàng (Cargo Manifest) và B/L;
- Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận như Giấy chứng
nhận hàng hư hỏng (COR) nếu hàng bị hư hỏng hay yêu cầu tàu cấp Phiếu
thiếu hàng (CSC), nếu tàu giao thiếu.
B2. Cảng giao hàng cho chủ hàng:
- Khi nhận được thông báo hàng đến, chủ hàng phải mang vận đơn
gốc, giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để nhận lệnh giao hàng(D/O-
Delivery order). Hãng tàu hoặc đại lý giữ lại vận đơn gốc và trao 3 bản D/O
cho người nhận hàng;
- Chủ hàng đóng phí lưu kho, phí xếp dỡ và lấy biên bản;
- Chủ hàng mang biên lai nộp phí, 3 bản D/O cùng Invoice và Packing
List đến văn phòng quản lý tàu tại cảng để ký xác nhận D/O và tìm vị trí
hàng, tại đây lưu 1 bản D/O;
- Chủ hàng mang 2 bản D/O còn lại đến bộ phận kho vận để làm phiếu
xuất kho. Bộ phận này giữ một D/O và làm hai phiếu xuất kho cho chủ hàng;
- Chủ hàng làm thủ tục hải quan
Sau khi hải quan xác nhận hoàn thành thủ tục hải quan chủ hàng có thể

HÀNG HÓA QUỐC TẾ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY TNHH
THƯƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI QUỐC TẾ HƯNG THỊNH –
PROSPERTRANS
I. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY PROSPERTRANS
1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
Công ty TNHH thương mại và vận tải quốc tế Hưng Thịnh –
PROSPERTRANS là công ty tư nhân được thành lập vào tháng 11/2003
Tờn doanh
nghiệp:
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI
QUỐC TẾ HƯNG THỊNH
Tờn giao dịch:
PROSPEROUS INTERNATIONAL
TRANSPORTATION AND TRADING COMPANY
LIMITED
Tờn viết tắt: PROSPERTRANS CO.,LTD
Địa chỉ trụ sở:
SỐ 9, NGế 117/69, PHỐ THÁI HÀ , PHƯỜNG
TRUNG LIỆT, QUẬN ĐỐNG ĐA
Điện thoại: 04.8288561
Email:
Số Đăng ký kinh
doanh:
0102023893
Người đại diện theo
pháp luật:
GIÁM ĐỐC: NGUYỄN HOÀNG HIỆP
Vốn điều lệ: ĐỒNG VIỆT NAM : 600.000.000,00
Khi mới thành lập công ty chỉ bao gồm 7 người với số vốn là 600 triệu
VNĐ đến nay chỉ sau 4 năm công ty đã có hơn 40 người với số vốn lên tới 6

Công ty thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Xây dựng kế hoạch và thực hiện các dịch vụ kinh doanh của công ty
theo quy chế hiện hành nhằm thực hiện mục đích và chức năng đã nêu.
- Đảm bảo việc bảo toàn và bổ sung vốn trên cơ sở tự tạo nguồn vốn,
bảo đảm trang trải về tài chính, sử dụng hợp lý, theo đúng chế độ, sử dụng có
hiệu quả các nguồn vốn, làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước.
- Mua sắm, xây dựng, bổ sung và thường xuyên cải tiến, hoàn thiện,
nâng cấp các phương tiện vật chất kỹ thuật của công ty.
- Thông qua các liên doanh, liên kết trong và ngoài nước để thực hiện
việc giao nhận, chuyên chở hàng hóa bằng các phương thức tiên tiến, hợp lý
an toàn trên các luồng, tuyến vận tải, cải tiến việc chuyên chở, chuyển tải, lưu
kho, lưu bãi, giao nhận hàng hóa và bảo đảm bảo quản hàng hóa an toàn trong
phạm vi trách nhiệm của công ty.
Nghiên cứu tình hình thị trường dịch vụ giao nhận, kho vận, kiến nghị
cải tiến biểu cước, giá cước của các tổ chức vận tải có liên quan theo quy chế
hiện hành, đề ra các biện pháp thích hợp để bảo đảm quyền lợi giữa các bên
khi ký kết hợp đồng nhằm thu hút khách hàng để củng cố và nâng cao uy tín
của công ty trên thị trường trong nước và quốc tế.
3. Bộ máy tổ chức.
Bộ máy của công ty rất đơn giản, gọn nhẹ nhằm đảm bảo tính linh hoạt
và nhanh chóng loại hình mà công ty kinh doanh.
Quản lý chung và đứng đầu công ty là giám đốc, giúp việc cho giám
đốc là phó giám đốc và các trưởng chi nhánh thực hiện chức năng tham mưu,
tư vấn trong việc ra quyết định của giám đốc hoặc ra quyết định trong quyền
hạn và chức năng mình được phân công.
Ngoài ra còn có các phòng ban: phòng kế toán, phòng sales, phòng
Documents... thực hiện các chức năng riêng.
C C PH ềNG, BAN NGHIỆP VỤ
(Trực thuộc chi nhỏnh)
II. HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG

thì phải xin giá ở nhiều hãng tàu khác nhau, sau đó chọn một giá tốt để chào
cho khách hàng. Người giao nhận thường được ủy thác thuê tàu vì người giao
nhận có lợi thế là luôn có lượng hàng lớn và ổn định nên thường được hãng
tàu cho hưởng những ưu đãi về giá cả, dịch vụ mà khách hàng nhỏ lẻ không
có được.
B 3. Tổ chức giao hàng lên tàu
Trước khi tàu đến cảng bốc hàng
Hành trình của một con tàu thường là chở hàng đến cảng, dỡ hàng ra,
lưu lại cảng từ 1 - 3 ngày, xếp hàng mới lên rồi khởi hành. Đối với một số
cảng của Việt Nam như cảng Hải Phòng, thời gian một con tàu lưu lại chỉ là 1
ngày. Do đó, trước khi tàu cập cảng, hãng tàu sẽ gửi Thông báo thời gian dự
kiến tàu vào cảng (ETA - Estimated Time of Arrival) cho người giao nhận.
Thời gian này phụ thuộc vào tuyến đường, thoả thuận giữa hãng tàu và người
giao nhận. Đối với PROSPERTRANS, nếu tuyến đường xa, ETA được gửi
trước từ 24h - 48h, còn đường gần, ETA phải được gửi trước 48h - 72h.
Khi biết được thời gian dự kiến tàu đến cảng, nhân viên giao nhận của
PROSPERTRANS sẽ phải làm một số công việc sau:
- Xin kiểm nghiệm, kiểm dịch cho hàng hóa để lấy giấy chứng nhận
kiểm nghiệm, kiểm dịch, nhất là đối với hàng nông sản thực phẩm.
- Lập tờ khai hải quan, tiến hành thông quan hàng xuất khẩu.
- Nộp thuế xuất khẩu (nếu có) cho hàng hóa.
- Cung cấp chỉ dẫn xếp hàng cho hãng tàu đồng thời nhận thông báo
xếp hàng do hãng tàu cấp.
- Lập bảng kê khai hàng hóa (Cargo list) gồm 5 bản để gửi cho cảng và
gửi cho tàu. Nội dung chính của Cargo list gồm: Tên công ty xuất nhập khẩu,
Tên người nhập khẩu, Tên hàng, Ký mã hiệu, Số lượng, Trọng lượng.
Nếu là hàng xuất đóng trong container thì cùng với bản danh mục hàng
hóa, người giao nhận phải xin hãng tàu lệnh giao vỏ container rỗng để đưa
cho khách hàng về đóng hàng. Sau đó làm thủ tục hải quan, niêm phong cặp
chì. Còn nếu là hàng lẻ thì người giao nhận sẽ cấp cho người gửi hàng vận

Cuối cùng, người giao nhận sẽ tiến hành kết toán các chi phí giao nhận
với người gửi hàng.
1.2. Giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển
Khi nhận được yêu cầu giao nhận một lô hàng nhập khẩu, người giao
nhận phải tiến hành các bước sau:
B 1. Trước khi tàu cập cảng
Người giao nhận phải được người nhận hàng hoặc đại lý của mình cung
cấp các thông tin cần thiết về lô hàng. Cụ thể
- Thông tin về tàu: tên tàu, quốc tịch, thời gian dự kiến tàu đến cảng dỡ
hàng.
- Bản lược khai hàng (Cargo Manifest) để biết tình hình hàng hóa.
Chủ hàng phải giao cho người giao nhận vận đơn gốc và các chứng từ
khác của hàng hóa như: giấy phép nhập khẩu, giấy chứng nhận phẩm chất,
bao bì, ký mã hiệu...
Người giao nhận phải lên kế hoạch nhận hàng đồng thời nếu được ủy
thác sẽ phối hợp với chủ hàng giao hàng cho các chủ hàng nội địa.
B 2. Khi tàu cập cảng
Khi nhận được Giấy báo hàng đến do hãng tàu fax đến, người giao
nhận sẽ lập Giấy báo hàng gửi cho chủ hàng để chủ hàng chủ động chuẩn bị
các phương tiện lấy hàng.
Đồng thời, nhân viên giao nhận phải thực hiện các công việc như:
- Xin kiểm dịch cho hàng hóa nếu cần.
- Nếu là hàng nguy hiểm hay hàng đặc biệt, người giao nhận phải phối
hợp với các bên có liên quan như cảng, hải quan, phòng cháy chữa cháy... để
lên kế hoạch phòng ngừa.
- Khai hải quan hàng nhập khẩu
Được sự ủy thác của chủ hàng người giao nhận sẽ mang vận đơn gốc
hoặc bản sao vận đơn (nếu là vận đơn Surrendered hoặc vận đơn Express
Cargo Bill) đến hãng tàu hoặc đại lý của hãng tàu để đổi lấy lệnh giao hàng.
B 3. Tổ chức nhận hàng từ tàu và giao cho chủ hàng

Thêm vào đó là các chính sách của các nước cũng như của thế giới đối
với loại hình dịch vụ vận tải biển và giao nhận này. Quan trọng nhất phải kể
đến tình hình tự do hóa dịch vụ vận tải biển trong Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) đặc biệt là khi Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức
này. Trong hợp tác đa phương dịch vụ vận tải biển là một trong những ngành
dịch vụ nhạy cảm và được cách quốc gia rất quan tâm (vì vận tải biển được
thống kê và cho là vận tải phổ biến, thuận tiện và rẻ nhất trong thương mại
quốc tế khi mà biển chiếm phần lớn diện tích trái đất – chiếm tới hơn 80%
lượng hàng buôn bán quốc tế), nhưng tiến trình tự do hóa ngành dịch vụ này
lại gặp nhiều khó khăn do một số nước đưa ra ý kiến phản đối để đưa ra luật
riêng nhằm bảo hộ ngành vận tải biển của nước mình. Các nỗ lực để tự do hóa
ngành dịch vụ này đã bị đổ vỡ vào phiên đàm phán vào năm 1996 và bị ngừng
lại vào năm 1997. Tuy nhiên các nước đã đạt được cam kết là không áp dụng
thêm các hạn chế mới đối với ngành dịch vụ này.
Trên thực tế, môi trường kinh doanh của ngành dịch vụ này vẫn tiếp tục
được cải thiện và tự do hóa đáng kể. Lý do chính là những ủng hộ tự do hóa
vẫn tiếp tục kiên trì tiến hành tự do hóa đơn phương hoặc tham gia đàm phán
trong khuôn khổ các diễn đàn hợp tác kinh tế khác như Tổ chức hợp tác và
phát triển kinh tế (OECD), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dương
(APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN). Nhờ vậy mà những
người làm giao nhận mới có điều kiện tin tưởng vào sự phát triển trong thời
gian tới.
2.1.2. Cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước
Đây là nhân tố có ảnh hưởng rất quan trọng đến hoạt động giao nhận
vận tải vì Nhà nước có những chính sách thông thoáng, rộng mở sẽ thúc đẩy
sự phát triển của giao nhận vận tải, ngược lại sẽ kìm hãm nó.
Khi nói đến cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước, chúng ta không thể chỉ
nói đến những chính sách riêng về vận tải biển hay giao nhận, cơ chế ở đây
bao gồm tất cả các chính sách có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu nói
chung. Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách tạo thuận lợi cho hoạt

PROSPERTRANS cũng sôi động hẳn lên.
Có thể nói, qui mô của hoạt động xuất nhập khẩu phản ánh qui mô của
hoạt động giao nhận vận tải.
2.1.4. Biến động thời tiết
Hoạt động giao nhận hàng hóa là hoạt động vận chuyển và làm các dịch
vụ liên quan để hàng hóa di chuyển từ người gửi đến người nhận nên nó chịu
ảnh hưởng rất rõ rệt của các biến động điều kiện thời tiết. Trong quá trình
hàng lênh đênh trên biển, nếu sóng yên bể lặng tức là thời tiết đẹp thì hàng sẽ
an toàn hơn nhiều. Ngược lại, nếu gặp bão biển, động đất, núi lửa, sóng thần,
thậm chí chỉ là mưa to gió lớn thôi thì nguy cơ hàng hóa hư hỏng, tổn thất đã
là rất lớn.
Không chỉ là thiên tai, có khi chỉ là sự thay đổi nhiệt độ giữa hai khu
vực địa lý khác nhau thôi cũng có thể ảnh hưởng, chẳng hạn như làm cho
hàng bị hấp hơi, để bảo quản đòi hỏi phải có những biện pháp thích hợp như

Trích đoạn Giải phỏp về xỳc tiến thương mại Đào tạo và nõng cao nguồn nhõn lực Hạn chế sự ảnh hưởng của tớnh thời vụ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status