vai trò của Hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai – Hà Nội –Hải Phòng – Quảng Ninh trong hợp tác thương mại giữa hai nước Việt –Trung - Pdf 64

LỜI MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Ngày nay trên thế giới xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra hết
sức mạnh mẽ, đòi hỏi các quốc gia tham gia vào hội nhập, mở rộng mối quan hệ
với các nước nhằm tăng cường hợp tác phát triển kinh tế vì vậy đã có nhiều hình
thức liên kết kinh tế được sử dụng nhằm đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại
song phương và đa phương. Các hình thức liên kết đó có thể là liên kết toàn cầu,
liên kết kinh tế khu vực hoặc liên kết tiểu vùng.
Vì vậy Việt Nam đã chủ động tham gia hội nhập vào các Tổ chức Thương
mại trên thế giới (WTO), tham gia vào tổ chức Liên Hiệp Quốc (UN), khu vực
(ASEAN) cũng như các nước láng giềng trong đó có mối quan hệ Việt Nam–Trung
Quốc . Đây là mối quan hệ lâu đời và đang phát mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực văn
hóa, kinh tế chính trị, an ninh quốc phòng.
Trong đó quan hệ kinh tế giữa hai nước luôn được coi trọng. Hai bên đã đưa
ra tuyên bố chung, công bố nhiều thỏa thuận hợp tác thương mại và nhiều vấn đề
khác. Hai bên khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường phối hợp và hợp tác trong khuôn
khổ đa phương: tăng cường hợp tác trong các thể chế khu vực, liên khu vực và
quốc tế, thúc đẩy hợp tác toàn diện ASEAN–Trung Quốc nhanh chóng triển khai
“Hiệp định về mở rộng và đi sâu hợp tác song phương” đẩy nhanh tiến trình xây
dựng “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”.
Hành lang kinh tế: Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội–Hải Phòng–Quảng Ninh và
Nam Ninh –Lạng Sơn –Hà Nội –Hải Phòng, đây là tuyến huyết mạch nối liền giữa
các tỉnh miền núi phía bắc của Việt Nam và các tỉnh miền Tây Trung Quốc nhằm
khai thác lợi thế của các tỉnh vùng biên giới, cải thiện đời sống nhân dân vùng
biên, đồng thời thống nhất hoạt động biên giới với chiến lược phát triển chung.
Hành lang kinh tế: Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội–Hải Phòng–Quảng Ninh đã và
đang thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước. Hành lang này có vai trò như thế nào đối với sự phát triển của đất
1
nước ta, nó đã phát triền ra sao ? và chúng ta phải làm gì để hành lang này phát
triển mạnh mẽ hơn nữa. Đây là lý do em chọn đề tài “vai trò của Hành lang kinh

vực rộng lớn trải dài hai bên trên một tuyến giao thông huyết mạch đó là (đường
cao tốc, đường sắt, đường thủy) đã có hoặc chuẩn bị được xây dựng. Ở tuyến
đường trục này cho phép giao thông một cách thuận tiện từ điểm đầu đến điểm
cuối và ngay cả bên trong hành lang phát triển đó, có vai trò đặc biệt quan trọng để
liên kết toàn khu vực và thúc đẩy phát triển kinh tế dọc theo hành lang này.
Hành lang phát triển có thể là trục đường giao thông, đường bộ, đường biển,
các mạch ống dẫn dầu, mạng viễn thông và trong nhiều trường hợp thì mục tiêu
xây dựng hành lang phát triển nhằm phát triển một ngành nào đó như hành lang
dược phẩm, hành lang du lịch. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp hai khái niệm
này được
3
sử dụng như nhau dùng để chỉ sự phát triển của một khu vực địa lý nhất định liên
kết bởi một trục tuyến giao thông[nguồn
1.1.2. Giải thích hành lang kinh tế Côn Minh–Lào Cai–Hà Nôi–Hải Phòng
Quảng Ninh
Hành lang kinh tế này nằm trong chiến lược giữa hai nước Việt–Trung về
hợp tác xây dựng “Hai hành lang, một vành đai” đã được Việt Nam đưa ra tháng
5/2004, trong chuyến thăm Trung Quốc của nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải. Đó
là hành lang kinh tế “Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội–Hải Phòng”; hành lang “Nam
Ninh–Lạng Sơn–Hà Nội–Hải Phòng” và một “vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ” nó
hình thành trên cơ sở lấy trục giao thông và các hoạt động kinh tế làm nòng cốt,
phát huy tác động lôi kéo và lan toả ra bên ngoài trong quá trình phát triển. Mục
đích trong tương lai là: Tăng tốc các tuyến đường cao tốc và hệ thống đường sắt
tiêu chuẩn quốc tế. Về không gian lãnh thổ, vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ giữa Việt
Nam và Trung Quốc bao gồm thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh của Việt Nam và
tỉnh Hải Nam, khu vực tự trị dân tộc choang (Quảng Tây) của Trung Quốc .Hành
lang kinh tê “Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh”(tên tếng
Anh: Kuming –Lao Cai –Ha Noi –Hai phong – Quang Ninh economic corridor) là
tuyến trục giao thông liên kết kinh tế giữa vùng Tây Nam Trung Quốc rộng lớn với
các tỉnh phía Bắc của Việt Nam là cầu nối khu vực này với khu vực khác của vùng

Hai là, tài nguyên thiên nhiên
Hành lang kinh tế này là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng
phong phú và đa dạng tạo điều kiện phát triển nhiều ngành nghề cũng như tạo nên
môi trường thuận lợi thu hút đầu tư từ các tỉnh của hai nước cũng như nước ngoài cụ
thể :
Tài nguyên khoáng sản: Vân Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú, được coi là “vương quốc kim loại” bao gồm 92 loại kim loại khác nhau, trong
đó có 54 loại có mặt trong danh sách về trữ lượng lớn nhất của Trung Quốc. Vân
Nam có các mỏ thiếc, đồng, nhôm, kẽm, chì có trữ lượng rất lớn. Ngoài ra có các loại
tài nguyên phục vụ cho công nghiệp hóa chất. Đây là kiện thuận lợi cho nền công
5
nghiệp chế biến kim loại và công nghiệp hoá chất của Vân Nam phát triển sớm [1
(Tr.44)].
Còn đoạn hành lang phía Việt Nam tập trung rất nhiều tài nguyên khoáng
sản, rải khắp từ Lào Cai cho đến Vĩnh Phúc với các nhóm khoáng sản kim loại bao
gồm: Quặng sắt, quặng Mangan, mỏ đồng có trữ lượng rất lớn. Ngoài ra còn có các
mỏ chì, kẽm, vàng, bạc, thuỷ ngân. Khoáng sản phi kimloại như Apatit (Lào Cai)
có trữ lượng lớn nhất tập trung ở Cam Đường (1,4 tỷ tấn) các mỏ đá vôi ở (Hải
Phòng, Ninh Bình, Hòa Bình), đá Granit, cao lanh ở (Thanh Hoá, Hòa Bình). Vùng
đồng bằng Bắc Bộ đã phát hiện hơn 500 mỏ và điểm quặng gần 40 loại khoáng sản
khác nhau. khoáng sản cháy cứng có than đá (Quảng Ninh) than nâu, than bùn.
Khoáng sản kim loại màu, khoáng sản kim loại quí như vàng, khoảng sản nguyên
liệu sứ như: Fenspat, Kaolin, sét. Khoáng sản kim loại lỏng có nước khoáng. Với
khu vực giàu tài nguyên khoáng sản cả về trữ lượng lẫn số lượng cho phép phát
triển mạnh ngành công nghiệp chế biến và khai thác khoáng sản [1 (Tr.46)].
Tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh vật: Hành lang này trải dọc lưu vực
sông Hồng và nằm trên các khu vực địa hình chia sẻ phức tạp nên sở hữu nhiều
vùng đất thổ nhưỡng và khí hậu khác nhau, do đó có thảm động thực vật rất đa
dạng và phong phú. Vì vậy nơi đây có khả năng phát triển nền nông nghiệp đa
ngành, đa sản phẩm hết sức độc đáo và đặc trưng.

1.1.5. Kết cấu hạ tầng:
Kết cấu hạ tầng là điều kiện quan trọng nhất đối với một hành lang kinh tế
hay hành lang phát triển. Các yếu tố như hệ thống giao thông, thông tin liên lạc,
năng lượng, cảng biển, khu mậu dịch biên giới, khu kinh tế cửa khẩu ..là những
yếu tố có ý nghĩa rất lớn đến sự thúc đẩy tốc độ trao đổi thương mại trên hành lang
kinh tế Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội–Hải Phòng–Quảng Ninh. Hành lang này nằm
trên những tuyến đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và có những cảng biển nước
sâu rất thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa hai nước phát triển hơn nữa cụ
thể:
Về tuyến đường sắt:
7
Đường sắt Vân Nam –Việt Nam là đường sắt duy nhất của tỉnh Vân Nam
thông với các nước xung quanh. Đường sắt khổ 1m Vân Nam, phía Bắc nối liền
với các tuyến đường sắt tiêu chuẩn (1,435m) Qúy Dương–Côn Minh–Thành Đô và
Nam Ninh–Côn Minh. Còn phía nam thông với đường sắt khổ 1m của Việt Nam là
đường đi chính cho việc đẩy mạnh phát triển kinh tế địa phương, mở rộng thương
mại với Việt Nam từ trước tới nay và thông qua Việt Nam để đưa hàng hóa sang
nước khác. Trung Quốc đã xây dựng tuyến đường mới tiêu chuẩn quốc tế khổ 1,4m
từ Côn Minh–Hà Khẩu hoàn thành vào năm 2007. Hạ tầng giao thông là một trong
những vần đề trọng tâm và cấp bách nhất, nhằm là nâng cao năng lực vận tải
đường sắt. Phía Việt Nam, Lào Cai đã xúc tiến xây dựng mới ga hàng hóa và một
cảng cạn với công suất 1.000 container/ngày. Từ cuối năm 2004, Tổng công ty
Đường sắt Việt Nam và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đã tổ chức đôi tàu
chuyên chở container tốc hành Hải Phòng–Lào Cai làm giảm thời gian lưu lượng
toa xe và container từ 7 ngày xuống còn 1 ngày. Năm 2006, ga quốc tế Lào Cai sẽ
được tách thành ga hàng hóa và ga hành khách. Đồng thời Việt Nam ưu tiên nâng
cấp, cải tạo tuyến đường sắt hiện có dài 260 Km từ Hà Nội đi Lào Cai, tuyến này
sẽ nâng năng lực vận tải lên 4 triệu tấn vào năm 2007tuyến [16]. Tiếp đến là nâng
cấp tuyến đường sắt từ Yên Viên –Hải Phòng. Năm 2010 Việt Nam cũng có kế
hoạch xây mới tuyến đường sắt từ Lào Cai đi Hải Phòng đạt tiêu chuẩn kết nối

Hạ Long, theo Quyết định 412/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tuyến cao tốc
Hà Nội – Hải Phòng sẽ được đầu tư bằng hình thức BOT (xây dựng, vận hành và
chuyển giao) được khởi công năm 2008. Đoạn còn lại, Nội Bài – Hạ Long và Hải
Phòng bắt đầu từ Thăng Long, Nội Bài sẽ được đầu tư tiếp sau trong giai đoạn
2010 –2020 cùng với việc phát triển quy mô hàng qua cảng Cái Lân và cụm cảng
Hải Phòng, đoạn Nội Bài –Uông Bí sẽ được xây dựng với quy mô 4 đến 6 làn xe
[3]. Theo dự kiến, sau năm 2010, sẽ tiếp tục đầu tư thêm đoạn Hạ Long – Mông
Dương – Móng Cái với tổng chiều dài là 175 km và sẽ cho nâng cấp tiếp đoạn Cửa
Ông – Móng Cái đạt tiêu chuẩn cấp III [3], để nhằm phục vụ việc vận chuyển hàng
hóa theo dọc tuyến hành lang, thúc đẩy trao đổi buôn bán với các nước khác.
9
Cùng với phát triển giao thông là phát triển chuỗi đô thị dọc hành lang này,
nhất là các điểm cửa khẩu đầu nối với Trung Quốc. Việt Nam cần phải hình thành
các đô thị -cửa khẩu đối đẳng với Trung Quốc, tạo thành các điểm kết nối mạnh,
làm khởi điểm lan tỏa phát triển cho toàn bộ tuyến hành lang và vùng kinh tế phía
sau.
Tuyến đường cao tốc Hà Nội –Lào Cai: giai đoạn I tổng mức đầu tư là 1.217
triệu USD tương đương với 20.000 tỷ đồng được đầu tư bằng các nguồn vốn vay
của ADB ( vay ưu đãi ADF và vay tín dụng thông thường OCR) và vốn đối ứng từ
ngân sách nhà nước (NSNN). Đoạn Nội Bài –Yên Bái (123Km) 4 làn xe, đoạn
Yên Bái –Lào Cai (121Km) 2 làn xe có vận tốc tổi thiếu 80 Km [14].
Giai đoạn II dự kiến đầu tư 19 Km còn lại đoạn Bến Đền- Cầu Kim Thành
(Cầu Kim Thành được khởi công bằng vốn ngân sách nhà nước, tổng mức khoảng
96.52 tỷ đồng ). Đồng thời đoạn đường Nội Bài –Lào Cai sẽ được mở rộng toàn
tuyến 4-6 làn xe.
Về đường hàng không: Sân bay quốc tế Nội Bài của Việt Nam được Phát
triển thành điểm trung chuyển hành khách, hàng hóa có sức cạnh tranh trong khu
vực đạt tiêu chuẩn quốc tế với năng lực 15 triệu hành khách/ năm. Việt Nam còn
dự kiến nâng cấp sân bay Cát Bi (Hải phòng ) xây dựng sân bay Vân Đồn (Quảng
Ninh ).

sẽ đóng vai trò là cảng trung tâm là cửa ngõ chính cho hành lang Côn Minh –Lào
Cai – Hà Nội –Hải Phòng–Quảng Ninh. Tuy nhiên cảng Cái Lân đi đôi với việc
bảo vệ cảnh quan môi trường khu du lịch và di sản thiên nhiên Hạ Long và vùng
Bái Tử Long.
Về cảng nội địa; Việt Nam đã tiến hành khởi công dự án đầu tư xây dựng
cảng nội địa ICD Lào Cai tại cụm công nghiệp Đông Phố Mới, thành phố Lào Cai,
tỉnh Lào Cai. Dự án được thực hiện thành các giai đoạn trong đó giai đoạn đầu có
tổng mức đầu tư là 78 tỷ đồng trên diện tích khoảng 4.7 ha

[18]. Cụm cảng nội địa
ICD Lào Cai sẽ đóng vai trò một trung tâm phân phối hàng hóa, cung cấp dịch vụ
Logistics tổng hợp, dịch vụ vận tải, giao nhận; là điểm thông quan nội địa để xuất,
nhập khẩu; nhận,gửi hàng hóa bằng container; và là một đầu mối giao thông vận
tải hàng hóa quan trọng.
11
Hình 2.2. Cửa khẩu quốc tế Lào Cai là cửa ngõ quan trọng với hành
trình ngắn nhất nối Việt Nam, ASEAN với Vân Nam và từ Vân Nam đi các
tỉnh miền Tây Nam – Trung Quốc.
Có thể nói với những điều kiện thuận lợi như đã phân tích ở trên thì hành
lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh có vai trò to
lớn trong quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước Việt –Trung cũng như trong
bối cảnh hội nhập.
1.2. VAI TRÒ CỦA HÀNH LANG KINH TÊ CÔN MINH-LÀO
CAI-HÀ NỘI-HẢI PHÒNG-QUẢNG NINH
1.2.1 Vai trò thúc đẩy hội nhập của hai nước Việt Nam –Trung Quốc
Hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới là một trong những định hướng
chiến lược quan trọng của Việt Nam và Trung Quốc nhằm tận dụng cơ hội toàn
cầu hóa để phát triển kinh tế, rút ngắn khoảng cách so với các nước trên thế giới.
Chính vì vậy việc xây dựng hành lang kinh tế này sẽ thúc đẩy quá trình hội nhập
của hai nước ngày càng sâu.

tạo mối liên kết của vùng lãnh thổ nhất định với khu vực khác. (1) liên kết song
phương giữa Việt Nam và Trung Quốc; (2) liên kết các nước Tiểu vùng sông Mê
Kông mở rộng (3) liên kết khu vực các nước ASEAN với Trung Quốc. Ngoài ra,
hành lang kinh tế này sẽ góp phần đẩy mạnh sự hợp tác kinh tế, tự do hóa thương
13
mại trong khuôn khổ hợp tác APEC, ASEAN +3 (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật
Bản)... Do vậy việc hình thành và phát triển hành lang kinh tế Côn Minh–Lào Cai–
Hà Nội–Quảng Ninh là hết sức cần thiết, mang lại lợi ích to lớn cho Việt Nam và
Trung Quốc cũng như các nước trong và toàn khu vực.
Hành lang kinh tế Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội–Hải Phòng là cầu lục địa nối
liền miền Tây Nam Trung Quốc với Đông Nam Á và Nam Á. Hành lang kinh tế
Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội–Hải Phòng–Quảng Ninh là tuyến hành lang mở, tiếp
giáp với các khu vực phát triển của vùng Đông Nam Á và có khả năng vươn ra
những khu vực thị trường khác xa hơn. Hành lang này một mặt là cửa ngõ thông
thương với thị trường Trung Quốc rộng lớn, các nước trong khu vực như Lào, Thái
Lan, Myanmar, mặt khác, qua cảng Hải Phòng, tiếp cận với các khu vực thị trường
khác của thế giới.
1.2.2. Thúc đẩy sự phát triển của hai nước Việt Nam –Trung Quốc
Việc xây dựng hành lang kinh tế sẽ khơi thông lĩnh vực hợp tác kinh tế Vân
Nam và Việt Nam, làm cho các nhân tố về tài nguyên, sản xuất công nghiệp được
luân chuyển dễ dàng, tăng thêm giá trị thông qua sự hợp tác quốc tế về các lĩnh
vực: thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, khai khoáng, du lịch, dịch vụ. Xoá bỏ
đi những khó khăn, hình thành cơ cấu kinh tế thương mại lớn, bổ sung ưu thế cho
nhau, để cùng nhau phát triển. Như vậy hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà
Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh nó có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng thúc đẩy hoạt
động xuất nhập khẩu hai nước đặc biệt thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
khu vực xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại, xóa bỏ thời kỳ đóng cửa vùng biên mà
thay bằng thời kỳ hội nhập với bên ngoài. Hợp tác xây dựng tuyến hành lang giữa
hai nước Việt Nam–Trung Quốc nhằm phát triển kinh tế hai nước, nâng cao đời
sống của nhân dân, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền góp phần vào tăng

kinh tế.
Một là, thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn
15
Hành lang kinh tế là sự hợp tác giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc trên
nhiều lĩnh vực vì vậy khi hành lang này phát triển kéo theo sự hợp tác trao đổi kinh
nghiệm khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại từ đó áp dụng khoa học kỹ thuật vào
trong nông nghiệp để cải tạo con giống, cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất lao
động thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn. Thông qua các hoạt đông của
hành lang sản phẩm nông nghiệp có được thị trường tiêu thụ, hạ giá thành và nâng
cao chất lượng.
Qua hợp tác Việt Nam có điều kiện nhập máy móc thiết bị hiện đại, vật tư,
giống cây trồng vật nuôi cần thiết học hỏi được kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi
của Trung Quốc để phát triển vùng nông nghiệp.
Sự phát triển hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –
Quảng Ninh còn tạo điều kiện thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn, tạo thêm
nhiều ngành nghề công nghiệp, dịch vụ thu hút lao động nông nghiệp giải quyết
việc làm. Chẳng hạn như ở Quảng Ninh đã thu hút lao động trong ngành nông
nghiệp, trong những năm gần đây giải quyết việc làm mới cho 2,4 vạn lao động
[10]. Góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá ở vùng núi phía Bắc nước ta.
Hai là, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp
Hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh
sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để các địa phương trong vùng thu hút đầu tư, chuyển
giao công nghệ, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên và nhân lực để phát triển các
ngành công nghiệp địa phương cũng như có khả năng hợp tác để phát triển các
ngành công nghiệp mới như bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, các ngành
chế tạo, các ngành chế biến.
Bên cạnh đó thì việc phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, các trung tâm
thương mại và chợ biên giới cũng là động lực chủ đạo phát triển đô thị, công
nghiệp, thương mại và dịch vụ nằm trên tuyến hành lang Côn Minh –Lào Cai –Hà
Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh. Khu kinh tế bao gồm khu cửa khẩu quốc tế Lào

dựng khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái thành trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch
của vùng và là đầu mối của các hành lang kinh tế nối với Trung Quốc; hình thành
17
hệ thống đô thị, điểm dân cư nông thôn; phát triển hệ thống giao thông nối với các
khu kinh tế cửa khẩu của Trung Quốc; hoàn thiện kết cấu hạ tầng cho khu kinh tế
cửa khẩu này... Sở dĩ thành phố Móng Cái được ưu ái như vậy bởi khu kinh tế cửa
khẩu này là đầu mối của hành lang kinh tế liên vùng và quốc tế, có ý nghĩa động
lực trong giao thương kinh tế và dịch vụ thương mại quốc gia, cửa ngõ của tuyến
kinh tế Hà Nội – Móng Cái – Phòng Thành (Trung Quốc) và vành đai kinh tế vịnh
Bắc Bộ.
Đây là những cơ chế, chính sách quan trọng tạo điều kiện để cho thành phố
Móng Cái phát triển về lâu về dài. Còn trong tương lai gần, theo đồng chí Nguyễn
Văn Trung, Bí thư Thành ủy Móng Cái thì “Tương lai của Móng Cái đang hiện
hữu” [10]. Nói như vậy bởi theo ông thì cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển
của Móng Cái đang được tập trung ưu tiên đầu tư rất lớn và rất nhanh... Cụm, khu
công nghiệp, khu đô thị của thành phố đang được hoàn thiện và lấp đầy và tới đây
khi cầu Bắc Luân II được xây dựng, khu hợp tác kinh tế biên giới phi thuế quan
Móng Cái – Đông Hưng được hình thành, chắc chắn Móng Cái sẽ phát triển với
tốc độ nhanh hơn nữa.
Ba là, thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng của các tỉnh trong hành lang kinh
tế.
Quá trình phát triển hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải
Phòng –Quảng Ninh sẽ tạo điều kiện cải thiện đáng kể hệ thống kết cấu hạ tầng
của các địa phương nhất là các tỉnh nằm trên tuyến hành lang của hai nước. Trong
chương trình dự án hành lang do ADB tài trợ và đầu tư của chính phủ hai nước, hệ
thống giao thông đường bộ đường sắt, đường hàng không, cảng biển, thông tin liên
lạc, cung cấp năng lượng sẽ từng bước được hiện đại hoá. Điều kiện kết cấu hạ
tầng được cải thiện sẽ thúc đẩy phát triển thương mại, đầu tư, nâng cao đời sống
vật chất tinh thần cho các tỉnh trên hành lang.
Bốn là, góp phần tăng trưởng kinh tế

phần phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
19
Hợp tác kinh tế trên hành lang Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội – Hải Phòng –
Quảng Ninh sẽ là cơ sở thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác về khoa học, đào tạo và
các lĩnh vực khác mà hai bên cùng quan tâm. Hai phía sẽ có điều kiện trao đổi
nghiên cứu khoa học, phối hợp đào tạo dưới sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế.
Trong một vài năm gần đây hợp tác khoa học giữa Vân Nam và Việt Nam đã được
đẩy mạnh một bước trong các lĩnh vực kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật chế biến sản
phẩm, công nghiệp khai thác tài nguyên và hương liệu thiên nhiên. Các đơn vị của
hai bên còn trao đổi học thuật và qui hoạch công trình về khôi phục và xử lý môi
trường sinh thái ở tiểu vùng sông Hồng.
Hợp tác kinh tế trên hành lang cũng tạo điều kiện để hai nước Việt Nam và
Trung Quốc tăng cường hợp tác văn hóa và bảo tồn các khu di tích, thắng cảnh,
phát triển kết cấu hạ tầng du lịch như đường sá, khách sạn, dịch vụ y tế, vui chơi
giải trí.
Bên cạnh đó hai nước còn tăng cường hợp tác trong việc bảo vệ môi trường
–xã hội như bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước, rừng, ngăn chặn tình
trạng gây ô nhiễm môi trường qua biên giới, tăng cường hợp tác chống ma túy, phá
bỏ các đường dây buôn bán ma túy qua biên giớ; hợp tác chống buôn lậu và gian
lận thương mại, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, ngăn ngừa các dịch bệnh lây lan qua
biên giới…
Như vậy việc hợp tác trên hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –
Hải Phòng –Quảng Ninh phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc
và Việt Nam thúc đẩy kinh tế thương mại giữa hai nước, tạo điều kiện phát triển
kinh tế vùng miền núi khó khăn. Đồng thời tạo ra mối liên kết kinh tế giữa các
vùng có hành lang đi qua, mở rộng thị trường, thúc đẩy giao lưu kinh tế thương
mại. Hành lang kinh tế này còn phát triển các ngành dịch vụ nhằm nâng cao hiệu
quả trao đổi thương mại. Tạo dựng môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư , rút
ngắn khoảng cách của vùng trên hành lang với các vùng khác, tạo điều kiện cho
quá trình tự do hóa thương mại trên phạm vi lớn hơn.

, dân số 12,5 triệu người, với
26 dân tộc. Nếu tính cả vùng lân cận có liên quan trực tiếp đến Hành lang thì tổng
diện tích Hành lang mở rộng là 452.876,5 km
2
, dân số 61,98 triệu người. Trong đó
phía Trung Quốc là toàn bộ tỉnh Vân Nam có diện tích 394.000 km
2
, dân số 44,152
triệu người. Phía Việt Nam bao gồm 15 tỉnh, thành phố (mở rộng thêm 6 tỉnh: Lai
Châu, Hòa Bình, Thái Bình, Tuyên Quang, Hà Giang và Bắc Ninh) có diện tích
58.846,5 km
2
, dân số 17,828 triệu người [23].
Tình hình phát triển kinh tế của các tỉnh, thành phố thuộc hành lang trong
những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến tích cực. Giai đoạn 2001- 2005. Tốc
độ tăng trưởng GDP cao và tương đối ổn định với mức từ 8,5 – 14,7%/năm. Năm
2004, toàn Hành lang đạt 167,5 tỷ USD ( trong đó phía Trung Quốc đạt 166,5 tỷ
USD, phía Việt Nam đạt 10 tỷ USD). Đặc biệt là hai đầu Hành lang có các trung
tâm kinh tế lớn Côn Minh, Ngọc Khê, Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh thực sự
là động lực thúc đẩy toàn Hành lang phát triển.
22
Các tinh thuộc khu vực hành lang kinh tế đều có tốc độ tăng trưởng (GDP)
tăng [24..].
*Hà Nội: Là thủ đô của Việt Nam, nằm trung tâm Đồng Bằng Bắc Bộ.
Thành phố Hà Nội tiếp giáp 5 tỉnh : phía Bắc giáp với Thái Nguyên, phía Đông
giáp với Bắc Ninh, Hưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc và phía Nam giáp Hà
Tây. GDP của Hà Nội năm 2007 là 12,1% [25] trong khi đó GDP của Việt Nam
năm 2007 là 8,44% tăng 3,662% so với GDP cả nước. Theo số liệu khảo sát mức
sống hộ gia đình Hà Nội mới nhất do Cục thống kê Hà Nội công bố ngày
31-12-2007 cho thấy, GDP bình quân đầu người của cư dân Hà Nội đạt 28,6 triệu

trong 6 tháng cuối năm, GDP của Hải Phòng phải đạt mức tăng trưởng ít nhất là
13,68%. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm có lợi thế về hệ thống cảng biển nên
trong cơ cấu GDP của Hải Phòng, ngành dịch vụ chiếm hơn 50%, công nghiệp-xây
dựng chiếm 39% và nông-lâm-thuỷ sản chiếm 11%. Hai nhóm ngành công nghiệp-
xây dựng và dịch vụ đang có mức tăng trưởng rất cao, đặc biệt là dịch vụ cảng
biển, đóng góp phần lớn vào GDP của thành phố. Từ đầu năm đến nay đã có
khoảng 13,6 triệu tấn hàng hoá qua cảng, tăng 26,9% và dự kiến hết năm sẽ có
khoảng gần 30 triệu tấn hàng hoá thông qua [13].
٭ Quảng Ninh: Tốc độ tăng trưởng GDP của Quảng Ninh trong giai đoạn
1996-2000 đạt bình quân 9,6%/năm; từ năm 2001 đến 2003, tăng trưởng kinh tế
luôn đạt mức khá, GDP tăng bình quân 12%. Hai năm 2006, 2007 GDP tăng bình
quân 13,45%, ước tính 6 tháng đầu năm 2008 tăng 12,5% [13].
Năm 2008, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ ước đạt trên 18.000 tỷ
đồng, tăng 33 % so với cùng kỳ; Do lợi thế về cửa khẩu, cảng biển nên hoạt động
dịch vụ thương mại phát triển mạnh. Tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu qua các
cửa khẩu của tỉnh đạt 2,87 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu
qua biên giới 1,35 tỷ USD; Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đạt 1.750 triệu
USD bằng 122,35% kế hoạch, tăng 35,86% so với cùng kỳ. Nhiều mặt hàng có giá
trị xuất khẩu tăng so với cùng kỳ như xuất khẩu than tăng 44% về giá trị, cao su
tăng 10%, đóng tàu tăng gần 2 lần, dầu thực vật tăng 8,7%, đá tấn mài tăng 27%,
ngọc trai tăng 35,14%, giấy vàng mã tăng 26%...[29].
24
*Lào Cai: Là tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, có diện tích tự nhiên 8.044 Km
2
[1(Tr.95)], phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam –Trung Quốc; phía Nam giáp tỉnh Yên
Bái; phía Đông giáp tỉnh Hà Giang; phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu. Thị xã
Lào Cai nằm sát biên giới Việt –Trung, cách thủ đô Hà Nội 354Km và cách thành
phố Côn Minh - thủ phủ tỉnh Vân Nam 420 Km. Từ khi khu kinh tế cửa khẩu quốc
tế Lào Cai đi vào hoạt động, đã góp phần tăng trưởng kinh tế của vùng: Tốc độ
tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 10,5%, trong đó: nông - lâm nghiệp tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status