thực trạng mối quan hệ giữa hai nguồn vốn đầu tư nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài - Pdf 10

Li m u
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, vốn đầu t cho phát triển là
một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của mỗi
quốc gia. Đối với Việt Nam, mục tiêu đặt ra là thực hiện thành công quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa .
đất nớc, phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nớc công
nghiệp, do đó nguồn vốn đầu t lại càng là yếu tố đặc biệt quan trọng.
Ngày nay bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và tự do hoá thơng
mại diễn ra hết sức mạnh mẽ, chính đặc điểm này của nền kinh tế thế giới đã
và đang làm cho các nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam, gặp không ít
khó khăn trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, nhất là về
vấn đề vốn đầu t.
Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, nguồn vốn đầu t bao gồm nguồn vốn đầu
t trong nớc và nguồn vốn đầu t nớc ngoài. Đối với Việt Nam, trên cơ sở xác
định rõ vốn trong nớc là quyết định , vốn nớc ngoài là quan trọng, để thúc đẩy
kinh tế phát triển nhanh và bền vững, nhằm mục tiêu công nghiệp hóa và hiện
đại hóa, Nhà nớc rất coi trọng việc huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn
vốn trong và ngoài nớc để đầu t phát triển sản xuất, tạo thêm công ăn việc
làm, cải thiện đời sống nhân dân. Chính vì lí do đó, cùng với thực trạng mối
quan hệ giữa hai nguồn vốn đầu t trên ở Việt Nam hiện nay, nhóm em xin
trình bày đề tài thảo luận : Thực trạng mối quan hệ giữa hai nguồn vốn
đầu t : nguồn vốn đầu t trong nớc và nguồn vốn đầu t nớc ngoài.
Thông qua kiến thức đã tiếp thu trên lớp cùng với việc tham khảo một số
tài liệu, nhóm em xin trình bày nội dung đề tài này nh sau:

1
Ch¬ng I: Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước
và nước ngoài - những vấn đề lý luận chung
Ch¬ng II: Mối quan hệ giữa hai nguôn vốn- Thực trạng ở Việt Nam
Ch¬ng III: Một số khuyến nghị để tăng cường mối quan hệ giữa nguồn
vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài

Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c+v+m)II < (v+m)I + (v+m)II
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị tạo ra
của khu vực II. Chỉ khi điều kiện này được thỏa mãn, nền kinh tế mới có thể
dành một phần thu nhậpđể tái sản xuất mở rộng. Từ đó quy mô vốn đầu tư sẽ
tăng.
Như vậy theo Mac- Lênin,thì nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ
có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích lũy cho nền kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà kinh
tế học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nổi tiếng “ Lý thuyết tổng quát
về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, John Maynard Keynes đã chứng
minh được rằng:đầu tư chính bằng phần thu nhập không chuyển vào tiêu
dung.Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng,tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu
nhập so với tiêu dùng.Tức là: thu nhập = tiêu dùng + đầu tư
Tiết kiệm = thu nhập – tiêu dùng
Từ đó suy ra: tiết kiệm = đầu tư
Tuy nhiên,điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế
đóng.Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết liệm của khu vực
tư nhân và chính phủ. Điều cần lưu ý là tiết kiệm và đầu tư xem xét tên góc
độ toàn nền kinh tế khhong nhất thiết được tiến hành bởi cùng một cá nhân
hoặc doanh nghiệp nào đó. Có thể có những cá nhân hoặc doanh nghiệp tại
một thời điểm nào đó có tích lũy nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư.
Trong khi đó, có một số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiện đầu tư khi chưa
4
tích lũy đủ. Khi đó thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề này bằng việc
điều tiết khoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang cho người
có nhu cầu sử dụng.
Trong nền kinh tế mở,đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế
không phải bao giờ cũng được thiết lập.Mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu
tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai:

b/ Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ
chuyển tư phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối
với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Với cơ chế tín dụng, các đơn
vị sử dụng vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là
người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn
tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ
phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các
dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng phát triển của nhà nước còn phục vụ công tác
quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô.Thông qua nguồn vốn tín dụng, nhà nước
khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực rheo hướng
chiến lược của mình.
c/ Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.
6
Được xác định là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế,các doanh nghiệp
nhà nước vẫn giữ một khối lượng vốn khá lớn.Mặc dù vẫn còn một số hạn
chế,nhưng khu vực kinh tế nhà nước với sự tham gia của doanh nghiệp nhà
nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần,hiệu quả
của khu vực này ngày càng được khẳng định, tích lũy của khu vực này ngày
càng tăng.
Nguồn vốn này chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập
giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước,thong thường chiếm 14-15% tổng vốn đầu
tư xã hội.
3.1.2.Nguồn vốn của dân cư và tư nhân
Nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân
cư,phần tích lũy của doanh nghiệp dân doanh,các hợp tác xã.
Đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình có vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn,mở mang
ngành nghề,phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp….

mang tính chất ràng buộc với nước tiếp nhận vốn và là nguồn vốn vay có khả
năng gây nợ. Vì vậy, chính phủ các nước phải quản lý nguồn vốn vay để sử
dụng có hiệu quả.
3.2.2. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI)
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển không chỉ đối với nước
nghèo mà cả đối với các nước công nghệ phát triển. Nguồn vốn đầu tư nước
ngoài có đặc điểm khác với các nguồn vốn khác là việc tiếp nhận nguồn vốn
8
này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận đầu tư. Thay vì nhận lãi trên vốn
đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án hoạt
động có hiệu quả. Đầu tư nước ngoài đem theo toàn bộ tì nguyên kinh doanh
vào nước nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là
những ngành nghề đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay nhiều vốn. Vì thế,
nguồn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng nhanh của nước tiếp nhận đầu tư.
3.2.3. Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
Điều kiện ưu đãi dành cho loại nguồn vốn này không dễ dàng như đối với
nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại có ưu điểm rõ rang là không gắn với các
rang buộc chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này là
tương đối khắt khe, thời gian trả nnghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở
ngại không nhỏ đối với những nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọng
trong kinh doanh ngân hang, nguồn vốn tín dụng của các ngân hang thương
mại thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và
thường là ngắn hạn.Một bộ phận nguồn vốn này có thể dung để đầu tư phát
triển.
3.2.4. Thị trường vốn quốc tế
Với xu hướng toàn cầu , mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn
quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn
vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn

Tốc độ tăng
GDP đầu
người
(2004-2005)
Tuổi thọ bình
quân
(Nam/nữ)
(2004)
Tỷ lệ tử
vong của
trẻ em dưới
5 tuổi trên
1000
ca(2004)
Tỷ lệ
người
lớn biết
chữ
1. theo nhóm
nước
-Thu nhập
cao
3446,19 2.1 76/82 7 -
-Thu nhập
bình quân
8535.12 5.4 68/73 39 90
-Thu Nhập
thấp
1391.36 5.6 58/60 122 62
2. Một số

Ngoài việc phải vật lộn với mức thu nhập thấp, nhiều người dân ở các
nước đang phát triển còn phải thường xuyên chiến đấu chống lại nạn suy dinh
dưỡng, bện tật và sức khoẻ kém. Trong số 40 nước có thu nhập thấp nhất thế
giới thì tuổi thọ trung bình vào khoảng 50, so với 58 ở các nước đang phát
triển khác và 75 tuổi ở các nước công nghiệp phát triển. Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ
sinh dưới 1 tuổi trong số 1000 trẻ em được sinh ra ở các nước kém phát triển
nhất vào khoảng 118 so với 73 ở các nước đang phát triển khác và 12 ở các
nước phát triển.
Cơ hội được học hành ở các nước đang phát triển cũng hạn chế. Việc cố
gắng tạo ra cơ hội giáo dục ở cấp tiểu học là nỗ lực lớn nhất ở các nước này.
12
Tuy vậy, mặc dù có bước tiến đáng kể về động viê học sinh đến trường,
nhưng tỷ lệ biết chữ vẫn rất thấp. Trong số những nước kém phát triển nhất
thì tỷ lệ này là 34% so với 65% ở các nước đang phát triển khác và 99% ở các
nước phát triển.
(2) Tỷ lệ tích luỹ thấp: Điều hiển nhiên là để có nguồn vốn tích luỹ cần
phải hy sinh tiêu dùng. Nhưng khó khăn là ở chỗ, đối với các nước đang phát
triển, nhất là những nước có thu nhập thấp, đã gần như chỉ có mức sống tối
thiểu, vì vậy việc giảm tiêu dùng là rất khó khăn. Ở những nước phát triển
thường để dành từ 20% đến hơn 30% thu nhập để tích luỹ. Trong khi đó, ở
các nước nông nghiệpc chỉ có khả năng tiết kiệm trên 10% thu nhập; nhưng
phần lớn số tiết kiệm này lại dùng để cung cấp nhà ở và trang thiết bị cần thiết
khác cho số dân đang tăng lên. Do vậy, càng hạn chế quy mô tiết kiệm cho
tích luỹ phát triển kinh tế.
(3) Trình độ kĩ thuật của sản xuất thấp: Ở các nước đang phát triển,
hoạt động kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm tỷ
trọng lớn, kỹ thuật sản xuất thủ công lạc hậu. Lịch sử phát triển kinh tế cho
thấy rằng, nền kinh tế không thể chuyển động đi lên nếu không có công
nghiệp phát triển. Sự ra đời của các phương thức sản xuất mới luôn đi đôi với
cách mạng công nghiệp. Các nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế

dẫn đến những xu hướng khác nhau. Có những nước vẫn tiếp tục rơi vào tình
trạng trì trệ, thậm chí phát triển thụt lùi, xã hội rối ren, như một số nước châu
Phi cận Sahara, hay một số nứơc Nam Á. Có những nước đã đạt được tốc độ
tăng trưởng khá, đưa đất nước ra khỏi vòng luẩn quẩn, nhưng rồi lại rơi vào
những cuộc khủng hoảng với những vòng luẩn quẩn mới như Philippin. Bên
cạnh đó có những nước đã tạo được tốc độ phát triển nhanh, rút ngắn khoảng
cách thậm chí đuổi kịp các nước phát triển, đó là các nước NICs Châu Á:
Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, và Hàn Quốc. Gần đây, các nước Thái Lan,
Malaixia và Trung Quốc cũng đã chứng minh sự đúng đắn trong việc lựa
chọn đường lối phát triển.
Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson đã nghiên cứu rất tỷ mỷ về cái vòng
luẩn quẩn của các nước đang phát triển và đưa ra một cách đã được rất nhiều
các nước này áp dụng đó là dựa vào nguồn lực bên ngoài. Ông đưa vào học
thuyết mình với tên :” cái vòng luẩn quẩn và cú huých từ bên ngoài”. “Cú
huých từ bên ngoài” ở đây được hiểu là nguồn vốn đầu tư của nước ngoài.
15
Thu nhập thấp
Năng suất thấp
Tỷ lệ tích luỹ thấp
Trình độ kĩ thuật thấp
Với khả năng tích luỹ nội bộ thấp như vậy, các nước đang phát triển không
thể tự tạo ra cho mình nguồn vốn đầu tư để phát triển được mà phải nhờ tới
nguồn vốn nước ngoài (mà chủ yếu là vốn của các nước phát triển). Nguồn
vốn nước ngoài sẽ khắc phục cho khả năng tích luỹ thấp bằng cách sử dụng
nguồn tích luỹ từ các nước khác chuyển sang. Chúng sẽ được sử dụng nhằm
hỗ trợ nguồn lực trong nước vào đầu tư phát triển, tạo ra công ăn việc làm, thu
nhập cho nước tiếp nhận, cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất lao động. Từ
đó, tạo điều kiện cất cánh cho nền kinh tế, giúp thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn.
1.2. Thời đại ngày nay không có một dân tộc nào, không một nên kinh tế
nào có thể phát triển trong sự tồn tại riêng lẻ. Sự hợp tác nhiều mặt, nhiều

chưa có.
Thực tế cho thấy, việc thu hút nguồn vốn nước ngoài có tính hai mặt(cả
những tác động tích cực và tiêu cực). Đối với nước tiếp nhận thì
-Những tác động tích cực của việc thu hút nguồn vốn nước ngoài :
+Góp phần giải quyết khó khăn do thiếu vốn
+Tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động trong nước
+Học tập kinh nghiệm quảnlí, tác phong làm việc tiên tiến, tiếp nhận
công nghệ hiện đại từ nước chủ đầu tư
+Tạo điều kiện để khai thác các nguồn tài nguyên một cách có hiệu quả
+Giúp cho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao
nhằm hỗ trợ cho quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
+Góp phần khắc phục những khó khăn do thiên tai, hoả hoạn và giải
quyết các vấn đề xã hội
17
- Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có những tác động tiêu cực nếu như các nước
tiếp nhận không cẩn thận thù sẽ mắc phải và để lại những hậu quả nghiêm
trọng
+Có thể dẫn tới tình trạng khai thác tài nguyên thái quá, gây ô nhiễm
môi trường
+Gây ra sự phân hoá, tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng và
giữa các tầng lớp dân cư
+Có thể làm tăng các vấn đề về tệ nạn xã hội, bệnh tật
+Có thể bị ảnh hưởng hoặc lệ thuộc vào những yêu cầu từ phía chủ đầu

18
2.Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài có tác động qua lại với
nhau
2.1. Nguồn vốn trong nước tác động đối với nguồn vốn nước ngoài
2.1.1. Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn đối ứng nhằm tạo cơ sở cho
nguồn vốn nước ngoài vào hoạt động có hiệu quả

việc tiếp nhận nguồn vốn nước ngoài
Hiện nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu, mỗi 1 quốc gia không chỉ phát triển
đơn lẻ mà còn có sự tác động qua lại đối với các quốc gia khác. Chính vì thế,
nền kinh tế của mỗi quốc gia sẽ ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế
giới. Trong bối cảnh đó, nếu chúng ta phát huy được nội lực nguồn vốn trong
nước thì sẽ có được thế chủ động trong việc điều hành nền kinh tế và ổn định
các chính sách kinh tế.
Ngoài ra, việc tận dụng nguồn vốn trong nước cũng giúp chúng ta có được sự
phát triển bền vững. Để phát triển kinh tế có nhiều con đuờng khác nhau.
Nhiều nước đã chọn con đường đi vay và xin viện trợ nước ngoài nhằm phát
triển kinh tế đất nước. Thực tế đã cho thấy các nước này có thể đạt được mức
tăng trưởng cao nhưng là tăng trưởng nóng, không bền vững và có sự lệ thuộc
vào nước cho vay, bởi họ không thấy được cũng như không phát huy được
tính quyết định của nguồn vốn trong nước.
Mặt khác, nguồn vốn trong nước chính là cơ sở để thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Trước tiên, xét về nguồn vốn FDI: Thực tế những năm qua, dòng vốn
FDI trên thế giới chủ yếu di chuyển trong nội bộ các nước phát triển, chỉ có
khoảng 25% - 30% di chuyển đến các nước đang và chậm phát triển. Điều đó
chứng tỏ tài nguyên thiên nhiên dồi dào, lao động rẻ không phải là nhân tố
quan trọng hàng đầu trong thu hút FDI. Khoảng 90% dòng vốn chảy vào một
20
số ít quốc gia có môi trường đầu tư hấp dẫn. Vì vậy cần quan tâm tới vấn đề
sử dụng nguồn vốn trong nước để tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn. Do đó,
tự bản thân chúng ta phải xây dựng cho mình một nền tảng kinh tế - chính trị -
xã hội vững chắc và ổn định, có cơ sở hạ tầng, giao thông liên lạc tốt, đội ngũ
nhân công có tay nghề, cán bộ quản lí có chuyên môn Đó mới là yếu tố
quyết định tới việc thu hút vồn nước ngoài để phát triển kinh tế. Và đảm
nhiệm vai trò này chính là nguồn vốn trong nước.
Đối với nguồn vốn ODA, tuy có rất nhiều ưu đãi nhưng về bản chất đây vẫn
là 1 khoản vay nên chúng ta vẫn phải trả nợ. Nếu khi đó nguồn vốn trong

tàu biển, cảng, viễn thông, trường học, bệnh viện… đều trong tình trạng yếu
kém. Vì vậy, để duy trì cho tăng trưởng và phát triển bền vững, Việt Nam
nhất thiết phải đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản và đồng bộ.
Trong khi đó ngân sách nhà nước lại vô cùng eo hẹp. Chính vì thế, nguồn vốn
nước ngoài đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thực tế cho thấy việc đầu tư vào
cơ sở hạ tầng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng việc thu hồi vốn lại chậm,
khả năng sinh lời thấp, nên không hấp dẫn được đầu tư của tư nhân. ODA trở
thành giải pháp hiệu quả cho việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Không chỉ
ở Việt Nam, ngay cả những nước phát triển cũng đã lựa chọn ODA để đầu tư
cho phát triển kết cấu hạ tầng Nguồn vốn ODA cho phép phát triển hệ thống
kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiệu quả. Với khối lượng vốn lớn, thời hạn vay
dài, lãi suất thấp và được cung cấp từ nhiều nhà tài trợ khác nhau, ODA là
nguồn vốn cho phép tiến hành đồng thời nhiều dự án trên địa bàn và ở nhiều
ngành khác nhau. Điều này sẽ tạo được sự phát triển mang tính chất đồng bộ
của hệ thống kết cấu hạ tầng, nhờ đó, tạo được năng suất tổng hợp phục vụ
22
hiểu quả đối với hoạt động sản xuất kinh doanhvà sự phát triển chung của
toàn xã hội.
Hơn nữa, ODA cũng làm tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện để
mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang phát triển.Như đã biết,
để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào
một lĩnh vực nào đó, các quốc gia phải đảm bảo cho họ có được môi trường
đầu tư tốt ( cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật ổn
định ), đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao.
Muốn vậy, đầu tư của Nhà nước phải được tập trung vào việc nâng cấp, cải
thiện và xây dựng mới cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng Nguồn
vốn để Nhà nước có thể giải quyết những đầu tư này là phải dựa vào nguồn
vốn ODA giúp bổ sung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ ngân sách Nhà nước. Một
khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ tăng sức hút dòng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài, thúc đẩy đầu tư trong nước tăng, dẫn đến sự phát triển bền vững

khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ tăng sức hút dòng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài, thúc đẩy đầu tư trong nước tăng, dẫn đến sự phát triển bền vững
của nền kinh tế.
Mặt khác, việc sử dụng nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ
tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các
công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận.
Như vậy, hỗ trợ phát triển chính thức, ngoài việc bản thân nó là nguồn
vốn bổ sung quan trọng cho các nước dang phát triển, còn có tác dụng tăng
khả năng thu hút vốn từ nguồn đầu tư trực tiếp và tạo điều kiện để mở rộng
đầu tư phát triển trong nước cho các nước này.
24
2.2.1.2. Là nguồn cung ứng ngoại tệ cho hoạt động mua sắm máy móc
thiết bị, chuyển giao công nghệ, phân công lao động xã hội, tạo điều kiện
cho tăng năng suất lao động, gia tăng sản lượng của nền kinh tế.
Để tạo ra sự “cất cánh cho nền kinh tế phải tìm cách tạo ra mức sản
lượng, mức thu nhập ngày càng ra tăng. Muốn vậy cần phải có vốn đầu tư và
kỹ thuật tiên tiến. Và trong lúc nền kinh tế còn đang trong trạng thái tự đảm
bảo một cách khó khăn cho sự sinh tồn của mình, không thể hoàn toàn trông
đợi vào con đường “thắt lưng buộc bụng” tích luỹ nội bộ. Mà không phát triển
nhanh thì nước đó luôn rơi vào tình trạng rượt đuổi do tụt hậu phát triển. Mặt
khác, kỹ thuật trong nước lại quá lạc hậu, thậm chí đi sau vài chục năm so với
các nước phát triển, việc nhập khẩu công nghệ bên ngoài là một tất yếu.
Trong mỗi công nghệ, bên nhận Nhưng chuyển giao công nghệ lại cần một
nguồn ngoại tệ lớn trong khi cán cân thương mại của chúng ta lại liên tục
thâm hụt do phải nhập khẩu hàng hoá cao cấp, máy móc thiết bị công nghệ
có giá trị gia tăng cao trong khi cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng nông
sản sơ chế, nguyên liệu thô có giá trị gia tăng thấp. Nguồn vốn đầu tư nước
ngoài lúc này chính là nguồn cung ứng ngoại tệ để có thể tiếp cận công nghệ
bên ngoài. Trong quá trình chuyển giao, bên nhận nhận được những kiến thức
kỹ thuật mà không phải chi phí tốn kém và mất thời gian cho hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status