Đánh giá thực trạng triển khai bảo hiểm y tế học sinh inh viên tại cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam - Pdf 10

lời nói đầu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời
sớm ở nớc ta. Đây là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, nó ít mang tính chất
kinh doanh thơng mại mà chủ yếu là tính nhân dạo và nhân văn cao cả.
Kể từ khi ra đời đến nay, nó đã góp phần làm ổn định đời sống cho cán
bộ công nhân viên chức Nhà nớc, quân nhân, những ngời lao động làm việc
trong các thành phần kinh tế của đất nớc; ổn định chính trị xã hội, thúc
đẩy quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc.
Hiện nay, đợc sự quan tâm của Nhà nớc mà chính sách BHXH ngày
càng đợc thực hiện tốt và hiệu quả hơn với các đối tợng tham gia nói trên. Để
việc thực hiện BHXH tồn tại và phát huy đợc tác dụng của nó cần phải có
một quỹ BHXH và quỹ đó phải hoạt động đúng mục đích tức là cơ quan
BHXH phải thực hiện tốt công tác thu chi quỹ BHXH.
Qua thời gian thực tập tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ em thấy
BHXH huyện Giao Thuỷ đã đạt đợc những kết quả thiết thực về hoạt động
thu chi quỹ BHXH nh: Chi đúng ngời, đúng đối tợng, kịp thời; thu quỹ
BHXH ngày càng tăng v.v Tuy nhiên bên cạnh dó vẫn còn một số tồn tại
nhất định nh: Thu BHXH cha dứt điểm, số nợ đọng vẫn còn, một vài cơ sở
còn trốn nộp BHXH làm cho hoạt động quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện
Giao Thuỷ cha đạt đợc kết quả cao, tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nớc.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của công tác quản lý thu chi quỹ BHXH
nh vậy, em đã chọn đề tài : Thực trạng thu - chi quỹ BHXH tại phòng
BHXH huyện Giao Thuỷ (Nam Định) với mong muốn đợc góp phần nhỏ
bé của mình nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu chi quỹ BHXH tại
phòng BHXH huyện Giao Thuỷ nói riêng và trong hệ thống BHXH Việt Nam
nói chung.
1
Chơng I
tổng quan về bhxh và quỹ BHXH
I. Sự cần thiết phải có BHXH
1 Sự ra đời của BHXH

bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp các rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc
tử vong
2 - Sự cần thiết phải có hệ thống BHXH
Trong cuộc sống cũng nh trong các hoạt động sản xuất hàng ngày, mặc
dù không muốn nhng ngời lao động không thể tránh khỏi hết những rủi ro
bất ngờ xảy ra nh: ốm đau; bệnh tật, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Tất cả những nguyên nhân đó xảy ra đều ít nhiều làm ảnh hởng đến đời sống
vật chất và tinh thần cho bản thân cũng nh gia đình; ngời thân của họ.
Muốn khắc phục đợc khó khăn do các rủi ro nêu trên gây ra, ngời lao
động cần phải đợc sự bảo trợ của tập thể số đông. Đặc biệt để ngời lao động
yên tâm tham gia sản xuất tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nớc thì nhà nớc
cần phải can thiệp vào nhằm làm giảm bớt những khó khăn cho ngời lao
động trong các trờng hợp: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề
nghiệp, chết, mất việc làm khi về già Từ đó BHXH đ ợc ra đời nh một tất
yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy cần phải
tham gia hệ thống BHXH này.
II . Vai trò và những nguyên tắc của BHXH
1 Vai trò của BHXH
3
1.1) Đối với ngời lao động
Trong giai đoạn hiện nay khi đất nớc đang ngày càng hoàn thiện quá
trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá thì những "rủi ro" nh ốm đau, tai nạn lao
động- bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm lại diễn ra một cách th ờng
xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra
sẽ gây khó khăn cho ngời lao động vế cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh hởng
không tốt cho cả cộng đồng.
Với t cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nớc,
BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những ngời lao động gặp phải rủi
ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều

cầu) thì giá trị của những sản phẩm dịch vụ này cũng đợc tính trực tiếp vào
tổng sản phẩm xã hội.
Thứ hai, với t cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của
Nhà nớc, BHXH sẽ bảo hiểm cho ngời lao động, hoạt động BHXH sẽ giải
quyết những trục trặc, rủi ro xảy ra đối với những ngời lao động, góp
phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng
tạo của sức lao động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao
năng suất lao động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực của mình vào việc
nâng cao năng suất lao động xã hội. Với sự trợ giúp của ngời lao động khi
gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác
động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội.
Thứ ba, với t cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh
mẽ tới hệ thống tài chính ngân sách Nhà nớc, tới hệ thống tín dụng tiền tệ
ngân hàng. Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỹ BHXH phải tự bảo tồn
và phát triển quỹ bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức đầu
t phát triển phần nhàn rỗi của quỹ. Phần này có tác động không nhỏ tới sự
phát triển đất nớc, góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc
5
làm mới góp phần quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho ngời lao đông.
Từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nớc, góp phần tăng
thu nhập cá nhân cho ngời lao động nói riêng và tăng tổng sản phẩm quốc
nội cũng nh tổng sản phẩm quốc dân nói chung.
Thứ t, BHXH góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là công cụ
phân phối lại thu nhập giữa những nguời tham gia BHXH. Sự phân phối lại
thu nhập này đợc tiến hành thông qua hai cách: Phân phối lại theo chiều
ngang giữa ngời khoẻ và ngời già, ngời đang làm việc với ngời đã nghỉ hu,
ngời trẻ tuổi với ngời lớn tuổi, giữa nam với nữ, ngời đang hởng trợ cấp với
ngời cha hởng trợ cấp; phân phối lại theo chiều ngang là mục tiêu quan trọng
của chính sách kinh tế xã hội, giữa những ngời có thu nhập cao và ngời có
thu nhập thấp. BHXH không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không

một dạng khác. Sự giúp đỡ đó chẳng những làm cho đời sống ngời lao động
ổn định mà còn làm cho sản xuất kinh tế xã hội của đất nớc ổn định. Vì vậy,
khi trong xã hội loài ngời xuất hiện BHXH một dạng đảm bảo đời sống
tiến bộ hơn đối với ngời lao động- so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì
Nhà nớc càng có điều kiện và càng có trách nhiệm tổ chức và tham gia dạng
hoạt động đó.
Đối với ngời sử dụng lao động, mọi khía cạnh đặt ra cũng tơng tự nh
trên nhng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp. ở đó giữa ngời lao động
và ngời sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Ngời sử dụng lao động
muốn ổn định và sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu t để có máy
móc thiết bị hịên đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời
sống của ngời lao động mà mình sử dụng. Khi ngời lao động làm việc bình
thờng thì phải trả lơng (trả công) thoả đáng cho ngời lao động. Khi họ gặp rủi
ro, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.. trong đó có rất nhiều trờng
7
hợp gắn với quá trình lao động, với những điều kiện lao động cụ thể của
doanh nghiệp thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có nh vậy ngời lao
động mới yên tâm tích cực lao động sản xuất góp phần tăng năng suất lao
động, tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
Đối với ngời lao động khi gặp những rủi ro không muốn và không phải
hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của ngời khác thì trớc hết đó là rủi ro của bản
thân. Vì thế, nếu muốn đợc BHXH tức là muốn nhiều ngời khác hỗ trợ cho
mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều ngời khác thì tự mình phải gánh
chịu trực tiếp và trớc hết đã...Điều đó có nghĩa là bản thân ngời lao động phải
có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
2.3) BHXH phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình
thành lên quỹ BHXH
ở nguyên tắc trên đã thấy rõ tính khách quan của trách nhiệm phải
tham gia BHXH đối với ngời lao động của cả ba bên (Nhà nớc, ngời sử dụng
lao động và ngời lao động) trong nền kinh tế thị trờng. Biểu hiện cụ thể của

BHXH. Nh đã biết, tiền lơng là khoản tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho
ngời lao động khi họ thực hiện công việc nhất định. Nghĩa là, chỉ ngời lao
động có sức khoẻ bình thờng, có việc làm bình thờng và thực hiện công việc
nhất định mới có tiền lơng. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không thực
hiện đợc công việc nhất định hoặc không việc làm mà trớc đó có tham gia
BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lơng tạo ra
đợc. Còn nếu cố tìm cách trả trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lơng thì
không một ngời lao động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc
để có lơng mà ngợc lại họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản để hởng trợ cấp. Hơn
nữa cách lập quỹ, phơng thức dàn trải rủi ro của BHXH cũng không cho phép
trả trợ cấp BHXH bằng tiền lơng lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền l-
9
ơng thì chẳng khác gì bị rủi ro đem rủi ro của mình dàn trải hết cho những
ngời khác.
Nh vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi
làm. Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ
cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hàng ngày. Chỉ khi
đó BHXH mới có tính nhân văn cao cả.
2.7) Kết hợp giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội áp dụng hình thức bắt buộc để đảm bảo quy luật số lớn
và số có hệ số an toàn cao nhằm đảm bảo cuộc sống của ngời lao động. Tuy
nhiên, có những trờng hợp, ngời lao động muốn hởng trợ cấp hu trí ở mức
cao hơn mức đợc hởng dới hình thức bắt buộc, hoặc khi cân nhắc thấy họ
đóng thêm vào BHXH cũng là một hình thức gửi tiền tiết kiệm, và có khi
còn lợi hơn gửi vào ngân hàng, thì họ sẽ có nhu cầu đóng phí BHXH nhiều
hơn mức quy định. Chính vì vậy, khi đáp ứng nhu cầu đó cũng thực hiện đợc
đảm bảo tốt hơn cuộc sống cho ngời lao động đồng thời quy luật số lớn vẫn
đợc tôn trọng.
2.8) Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cả nớc, đồng thời
phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành

phúc lợi, quỹ tiết kiệm...Tất cả các loại quỹ này đều có một điểm chung là
tập hợp các phơng tiện tài chính cho những hoạt động nào đó theo mục tiêu
định trớc. Quỹ lớn hay quỹ nhỏ biểu thị khả năng về mặt phơng tiện và vật
chất để thực hiện công việc cần làm.
Tất cả các quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lợng tĩnh tại một thời
điểm mà luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và giảm đi ở
đầu ra với các khoản chi nh một dòng chảy liên tục. Để đảm bảo cho đầu ra
ổn định, ngời ta thiết lập một lợng dự trữ. Bởi vậy, để nắm và điều hành đợc
11
một quỹ nào đó thì không phải chỉ nắm đợc khối lợng của nó tại một thời
điểm nhất định, mà quan trọng hơn là phải nắm đợc lu lợng của nó trong một
khoảng thời gian nhất định.
Theo những quan niệm về quỹ nói chung nh trên, thì quỹ BHXH là tập
hợp những đóng góp bằng tiền của những ngời tham gia BHXH hình thành
một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nớc để chi trả
cho những ngời đợc BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.
Nh vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự
phòng, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện
hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và
phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết
những rủi ro của tất cả những ngời tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho
việc dàn trải rủi ro đợc thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian,
đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho ngời sử dụng lao động, tiết
kiệm chi cho cả ngân sách Nhà nớc và ngân sách gia đình.
2 Nguồn quỹ BHXH
Quỹ BHXH tập trung những đóng góp bằng tiền của những ngời tham
gia BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những ngời đ-
ợc hởng BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm,

2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
13
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế
9. Trợ cấp cho ngời còn sống ( trợ cấp mất ngời nuôi dỡng)
9 chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH . Tuỳ điều kiện
kinh tế xã hội mà mỗi nớc tham gia công ớc Giơnevơ thực hiện khuyến nghị
đó ở mức độ khác nhau, nhng ít nhất phải thực hiện đợc ba chế độ. Trong đó,
ít nhất phải có một trong năm chế độ: (3), (4), (5), (8), (9). Mỗi chế độ trong
hệ thống trên khi xây dựng đều dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội tài chính,
thu nhập, tiền lơng .v.v Đồng thời tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải
tính đến các yếu tố sinh học; tuổi thọ bình quân của quốc gia, nhu cầu dinh
dỡng; xác suất tử vong
Tuy nhiên, cơ sở để xác định điều kiện hởng BHXH phải tính đến một
loạt các yếu tố liên quan đến toàn bộ hệ thống các chế độ cũng nh từng chế
độ BHXH cụ thể. Chẳng hạn khi xác định điều kiện hởng trợ cấp BHXH tuổi
già phải dựa vào cơ sở sinh học là tuổi đời và giới tính, của ngời lao động là
chủ yếu. Bởi vì tuổi già để hởng trợ cấp hu trí của mỗi giới, mỗi vùng, mỗi
quốc gia có những khác biệt nhất định. Do đó, co những nớc quy định: Nam
60 tuổi và Nữ 55 tuổi sẽ đợc nghỉ hu. Nhng cũng có những nớc quy định:
Nam 65 tuổi và Nữ 60 tuổi.v.v Hoặc khi xác định điều kiện h ởng trợ cấp
cho chê độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp phải tính đến các yếu tố nh:
Điều kiện và môi trờng lao động; bảo hộ lao động v.v Các yếu tố này th ờng
có quan hệ và tác động qua lại với nhau ít nhiều ảnh hởng đến điều kiện
BHXH của từng chế độ và toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH.
Thời gian hởng trợ cấp và mức hởng trợ cấp BHXH nói chung phụ

Tình hình thu chi quỹ BHXH
tại Phòng BHXH huyện giao thuỷ
I . vài nét giới thiệu về BHXH huyện Giao Thuỷ
Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ đợc thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 9 năm
1995 cùng với sự chia cắt hành chính của huyện Xuân Thuỷ thành huyện Xuân Trờng và
16
huyện Giao Thuỷ. Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ chủ yếu thực hiện việc thu chi
thuần tuý mà không kinh doanh loại hình bảo hiểm nào.
Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ có tất cả 7 cán bộ viên chức, trong đó ông Nguyễn
Công Hoan là Giám Đốc, bà Chu Thị Vân ánh là Kế toán kiêm bộ phận chi, bà Đặng
Thị Dung phụ trách bộ phận hành chính, bà Phạm Thị Vóc và ông Nguyễn Thành Lý
phụ trách bộ phận thu, ông Trần Hải Triều phụ trách bộ phận chính sách, ông Trần Mạnh
Hùng phụ trách bộ phận y tế tự nguyện.
BHXH huyện Giao Thuỷ chịu sự quản lý trực tiếp của BHXH tỉnh Nam Định, có
con dấu và tài khoản riêng.
Sơ đồ vị trí của BHXH huyện Giao Thuỷ:

BHXH huyện Giao Thuỷ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ BHXH tỉnh
Nam Định giao cho gồm:
- Xây dựng chơng trình, kế hoạch công tác năm trình Giám đốc BHXH tỉnh
Nam Định phê duyệt và tổ chức thực hiện;
- Theo dõi, đốc thu BHXH 20% so với tổng quỹ lơng (hiện nay là 23% do y
tế nhập vào 3%) trong đó thu 15% của chủ sử dụng lao động (hiện nay là
17%) và 5% của ngời lao động (hiện nay là 6%);
17
BHXH
Nam Định
BHXH
Việt Nam
BHXH

tham gia BHXH, là cơ sở để đo sự đóng góp của các bên tham gia
BHXH.
- Tạo ra đợc nguồn tài chính tập trung từ đó có thể tiến hành thống nhất
các hoạt động BHXH.
- Nguồn thu của BHXH đợc hình thành từ ba nguồn chủ yếu: đóng góp
của ngời lao động, ngời sử dụng lao động và phần hỗ trợ từ Ngân sách
Nhà nớc; nguồn thu này phản ánh rõ nét quan hệ ba bên trong BHXH,
là cơ sở để tạo ra các quan hệ khác trong BHXH.
- Thực chất, quan hệ ba bên trong BHXH là mối quan hệ về lợi ích do
sự đóng góp vào BHXH của các bên tham gia là mối quan hệ về lợi
ích, từ việc tham gia đóng góp BHXH các bên tham gia BHXH đều
tìm kiếm đợc lợi ích cho mình, ngời sử dụng lao động tìm kiếm lợi ích
từ việc họ sẽ bỏ ra ít chi phí hơn khi ngời lao động không may gặp
phải những rủi ro, ngời lao động đợc tìm kiếm lợi ích từ việc họ đợc h-
ởng các quyền lợi khi họ không may gặp phải những rủi ro, Nhà nớc
đạt đợc mục tiêu ổn định đợc xã hội, ổn định đợc mối quan hệ lợi ích
giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động trong xã hội để ngời lao
động yên tâm tham gia sản xuất thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển.
Từ đó có thể nói rằng, thu BHXH là một phần quan trọng không thể thiếu
đợc của hoạt động BHXH.
1.2) Công tác thu BHXH tại BHXH huyện Giao Thuỷ
Giao Thuỷ là một huyện có địa hình rất phức tạp: một mặt giáp với biển,
một mặt lại giáp với Sông Hồng nên ở đây tồn tại nhiều ngành nghề khác
nhau nh: làm nông nghiệp (phần lớn), khu vực giáp với biển thì nhân dân lại
đánh bắt và nuôi thuỷ sản xuất khẩu (nhng cha có đủ quy mô lớn để trở thành
công ty hay doanh nghiệp, mà hầu hết là t nhân tự đứng ra làm lấy với số lao
19
động là con em trong gia đình họ) hoặc kinh doanh du lịch; bãi tắm (Quất
Lâm), làm muối
Trên địa bàn huyện Giao Thuỷ hiện nay cha có khu công nghiệp nào mà

quan trọng nhất cho bất cứ quỹ BHXH của bất kỳ quốc gia nào, nó là cơ sở
chủ yếu để hình thành nên quỹ BHXH và tạo ra nguồn tài chính để thực hiện
những chế độ BHXH; nhng trong quá trình quản lý sự đóng góp của ngời
tham gia BHXH cũng phức tạp và khó khăn nhất. Nguồn thu này có tầm
quan trọng đặc biệt, nó là nền tảng để có thể thực hiện đợc chính sách
BHXH. Thông thờng, nguồn thu này đợc hình thành nh sau:
+ Ngời lao động tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH trên cơ sở tiền
lơng; tuỳ theo điều kiện của mỗi quốc gia mà phần đóng góp của ngời lao
động có khác nhau, nhng đều dựa trên cơ sở là tiền lơng của ngời lao động
làm căn cứ để tính toán số tiền ngời lao động phải đóng góp vào quỹ BHXH.
Theo Điều lệ BHXH hiện hành quy định ngời lao động phải đóng góp bằng
6% tiền lơng tháng( trớc đây là 5%).
+ Ngời sử dụng lao động tham gia đóng góp BHXH cho ngời lao động
trong đơn vị mình; thông thờng phần đóng góp của ngời sử dụng lao động
dựa trên tổng quỹ lơng. Theo Điều lệ BHXH hiện hành quy định ngời sử
dụng lao động phải đóng góp bằng 17% (trớc đây là 15%) tổng quỹ tiền lơng
của những ngời tham gia BHXH trong đơn vị.
- Thu từ việc hỗ trợ của Ngân sách Nhà nớc chủ yếu là để đảm bảo cho
các hoạt động BHXH diễn ra đợc đều đặn, bình thờng, tránh những xáo trộn
lớn trong việc thực hiện BHXH. Nguồn thu từ việc hỗ trợ của Ngân sách Nhà
nớc cho quỹ BHXH đôi khi là khá lớn, việc hỗ trợ cho hoạt động BHXH của
Nhà nớc là hoạt động thờng xuyên và liên tục để đảm bảo thực hiện tốt các
chế độ chính sách nói riêng và hoạt động BHXH nói chung.
21
- Thu từ lãi đầu t của hoạt động đầu t bảo toàn và tăng trởng quỹ đợc hình
thành từ công việc đầu t quỹ BHXH nhàn rỗi vào các chơng trình kinh tế
xã hội, những hoạt động đầu t khác đem lại hiệu quả. Từ nguồn quỹ nhàn rỗi
đợc đem đầu t, quỹ BHXH thu đợc phần lãi đầu t để bổ xung vào nguồn quỹ
BHXH.
- Ngoài những nguồn thu trên thì quỹ BHXH còn có một số nguồn thu

bảo toàn và tăng trởng nguồn quỹ, phần trích ra chi cho các mục đích khác
nh chi cho khen thởng, chi quản lý và những khoản chi khác phải tuân thủ
theo đúng những quy định của pháp luật. Các khoản tài trợ của các tổ chức,
các quỹ từ thiện, đặc biệt là các khoản nợ của ngời tham gia phải đợc hạch
toán riêng, các khoản nợ đòi đợc phải tính tới lãi suất.
4 - Tổ chức quản lý thu BHXH
4.1) Quản lý đối tợng tham gia BHXH
Quản lý đối tợng tham gia BHXH là một phần quan trọng trong công tác
thu của BHXH, đặc biệt là nguồn thu từ ngời lao động và ngời sử dụng lao
động (kể cả những ngời đang đợc cử đi học, đi thực tập, công tác và điều d-
ỡng ở trong và ngoài nớc mà vẫn hởng tiền lơng hoặc tiền công của cơ quan
đơn vị đó) làm việc trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế xã hội theo
quy định tại Điều lệ BHXH Việt Nam, bao gồm:
- Các doanh nghiệp nhà nớc;
- Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hoặc tổ chức quốc tế đặt văn
phòng đại diện ở Việt Nam (trừ những trờng hợp tuân theo những điều ớc
quốc tế mà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham
gia có những quy định khác);
23
- Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử
dụng từ 10 lao dộng trở lên (hiện nay BHXH đã áp dụng với các doanh
nghiệp có dới 10 lao động);
- Các cơ quan hành chính sự nghiệp, các cơ quan của Đảng, đoàn thể từ
trung ơng đến địa phơng (chỉ tới cấp huyện);
- Các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ
quan Đảng, đoàn thể;
- Các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ trong lực lợng vũ trang; Bộ Quốc
phòng, Bộ Công an đóng cho nhân dân, Công an nhân dân thuộc diện hởng
sinh hoạt phí theo điều lệ BHXH đối với sỹ quan, công an nhân dân ban hành
kèm theo Nghị định số 45/CP ban hành ngày 15/07/1995 của Thủ tớng Chính

quỹ tiền lơng tháng của ngời lao động trong đơn vị tham gia BHXH, ngời lao
động đóng bằng 5% (nay là 6%) tiền lơng tháng.
Theo quy định hiện hành, tiền lơng và quỹ lơng của những ngời tham
gia BHXH là căn cứ để đóng BHXH, tuỳ theo từng khu vực công tác, lĩnh
vực công tác mà có những mức đóng khác nhau, cụ thể:
- Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội, hội
quần chúng, tiền lơng tháng của ngời lao động và quỹ tiền lơng của các đơn
vị sử dụng lao động đợc xác định theo các quy định tại Nghị Định số 35/NQ/
UBTVQHK9 ban hành ngày 17/05/1993 của Uỷ Ban Thờng Vụ Quốc Hội
Khoá 9, Quyết Định số 69/QĐTW ngày 17/05/1993 của Ban Bí Th, Nghị
Định số 25/CP ngày 17/05/1993 của Chính Phủ, Quyết Định số 574/TTG ban
hành ngày 25/11/1993 của Thủ tớng Chính Phủ và Nghị Định số 06/CP ngày
21/01/1997 của Chính Phủ.
- Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, tiền lơng tháng của ngời lao
động và quỹ lơng của đơn vị sử dụng lao động đợc xác định theo các quy
định tại Nghị Định số 26/CP ngày 23/05/1995 của Chính Phủ.
25

Trích đoạn Những kết quả đạt đợc của BHXH huyện Giao Thuỷ Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về BHXH, xây dựng luật Có chơng trình đào tạo và sử dụng cán bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status