GVHD: TS. HÀ THỊ NGỌC OANH
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I : 4
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO
PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG 4
1. VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1. Khái niệm về thanh toán quốc tế (TTQT) 4
1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế 4
2.1. Thư tín dụng ( Letter of Credit – L/C) 6
2.2. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 7
2.3. Vai trò của các ngân hàng khi thực hiện phương thức tín dụng
chứng từ 14
3. CÁC RỦI RO CHỦ YẾU KHI THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC TÍN
DỤNG CHỨNG TỪ 17
3.1. Rủi ro trong thanh toán quốc tế 17
3.2. Rủi ro liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ 18
CHƯƠNG II: 22
1. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU (ACB) – CHI
NHÁNH TÂN BÌNH 22
1.1. Giới thiệu tổng quan về ACB 22
1.2. Đònh hướng phát triển của hệ thống ACB đến năm 2015 23
1.3. Giới thiệu về chi nhánh Tân Bình 24
1.4. Đònh hướng phát triển dòch vụ TTQT của ACB đến năm 2015 25
1.5. Đánh giá chung về ACB 27
2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA ACB ĐỐI VỚI VIỆC THANH TOÁN L/C
NHẬP KHẨU NÓI CHUNG VÀ CHI NHÁNH TÂN BÌNH NÓI
RIÊNG 28
2.1. Những quy đònh chung 28
3.3. Một số kiến nghò Chính phủ 73
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC
GVHD: TS. HÀ THỊ NGỌC OANH
GVHD: TS. HÀ THỊ NGỌC OANH
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh
mẽ, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mở ra những cơ hội lớn. Các
doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội thâm nhập vào thò trường rộng lớn, đồng
thời các doanh nghiệp nước ngoài thật sự biết đến Việt Nam với những cơ hội
kinh doanh hấp dẫn. Chính vì vậy hoạt động xuất nhập khẩu trở nên nhộn
nhòp hơn bao giờ hết. Trong những phương thức thanh toán quốc tế được các
doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam sử dụng hiện nay như tín dụng chứng từ,
chuyển tiền, nhờ thu thì tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử
dụng phổ biến nhất do những ưu việt của nó.
Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) được thành lập năm 1993, từ một ngân
hàng TMCP nhỏ sau 15 năm hoạt động đã vươn lên trở thành ngân hàng hàng
đầu Việt Nam. Hoạt động thanh toán quốc tế là một trong những mảng kinh
doanh truyền thống của ACB, đồng thời còn là mắt xích quan trọng trong việc
chắp nối và thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng
như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất khẩu, bảo lãnh ngoại thương… Chất lượng
cung cấp dòch vụ này cũng đã được nhiều tổ chức tài chính công nhận như Tập
đoàn ngân hàng JP Morgan Chase, CitiGroup, Ngân hàng HSBC, Ngân hàng
Standard Chartered, v.v…Tuy vậy ACB cũng nên có những biện pháp nâng
cao chất lượng cung cấp dòch vụ thanh toán quốc tế để tiếp tục duy trì sự tín
nhiệm đó và đem lại thu nhập nhiều hơn nữa cho ngân hàng.
Do đó em chọn mảng tín dụng chứng từ nhập khẩu của ACB – chi nhánh
Tân Bình để nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Một số giải pháp nâng cao
sánh, đánh giá; từ đó đề xuất một số giải pháp cho chi nhánh.
2
GVHD: TS. HÀ THỊ NGỌC OANH
5. Bố cục đề tài
Nội dung đề tài gồm 3 chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ đối với ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ nhập khẩu tại ACB - chi nhánh Tân Bình.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh
toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ nhập khẩu tại ACB – chi
nhánh Tân Bình.
3
Luận văn tốt nghiệp TRẦN NGUYỄN THANH PHƯƠNG
CHƯƠNG I :
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ ĐỐI VỚI
NGÂN HÀNG
1. VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm về thanh toán quốc tế (TTQT)
Thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện thanh toán
quốc tế trong quan hệ thanh toán giữa các nước. Trong quan hệ đó, các vấn đề
có liên quan đến quyền lợi và nghóa vụ mà các bên phải đề ra để giải quyết
và thực hiện được quy đònh lại thành những điều kiện gọi là các điều kiện
thanh toán quốc tế sau:
- Điều kiện về tiền tệ
- Điều kiện về đòa điểm
- Điều kiện về thời gian
- Điều kiện về phương thức thanh toán
hoạt động kinh doanh đối ngoại giúp cho ngân hàng nâng cao uy tín và ngày
một tạo niềm tin vững chắc cho ngân hàng.
5
Luận văn tốt nghiệp TRẦN NGUYỄN THANH PHƯƠNG
2. GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG
TỪ
2.1. Thư tín dụng ( Letter of Credit – L/C)
Thư tín dụng là một bức thư do ngân hàng viết ra theo yêu cầu của người
nhập khẩu (người mua hàng, người nhận dòch vụ), trong đó ngân hàng cam kết
sẽ trả cho người hưởng lợi (nhà xuất khẩu, người cung cấp dòch vụ hoặc người
nào đó do nhà xuất khẩu chỉ đònh) một số tiền nhất đònh, trong một khoảng
thời gian nhất đònh với điều kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những
điều khoản qui đònh trong lá thư đó.
Theo khái niệm này bên cấp vốn (người cho vay) là ngân hàng mở thư
tín dụng; bên được cấp vốn (người đi vay) là người nhập khẩu/ người yêu cầu
ngân hàng viết thư tín dụng. Người nhận được thanh toán là người xuất khẩu.
Trong nghiệp vụ chứng từ, tất cả các bên liên quan chỉ giao dòch bằng
chứng từ mà không giao dòch bằng hàng hóa, các dòch vụ và/ hoặc các công
việc khác mà chứng từ đó có thể liên quan.
Nét đặc trưng khác của thư tín dụng chính là tính độc lập của nó với hợp
đồng, thư tín dụng hoàn toàn độc lập với hợp đồng giữa người mở và người
thụ hưởng mặc dù thư tín dụng cụ thể hóa nghóa vụ và quyền lợi của cả hai
bên: người mua yêu cầu ngân hàng bảo đảm thanh toán, người bán phải giao
hàng theo quy đònh trong hợp đồng, đúng thời hạn, thiết lập chứng từ hoàn
chỉnh và hợp lệ,… và các điều kiện khác đã thỏa thuận. Theo Điều 4, mục a,
UCP 600 “ Về bản chất , thư tín dụng là một giao dòch riêng biệt với các hợp
đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà các hợp đồng này có thể làm cơ sở
của thư tín dụng. Các ngân hàng không liên quan đến hoặc bò ràng buộc bởi
các hợp đồng như thế, thậm chí ngay cả trong thư tín dụng có bất cứ sự dẫn
chiếu nào đến các hợp đồng như thế. Vì vậy sự cam kết của một ngân hàng
(ADVISING BANK)
Người xuất khẩu
(BENEFICIARY)
(8)(9)
Luận văn tốt nghiệp TRẦN NGUYỄN THANH PHƯƠNG
Ngân hàng kiểm tra tư cách nhà nhập khẩu và nhũng chứng từ kèm theo,
xem xét thấy đủ điều kiện sẽ tiến hành mở L/C cho người hưởng lợi.
(2) Ngân hàng mở L/C căn cứ vào đơn xin mở L/C sẽ lập một L/C và
chuyển cho ngân hàng thông báo (ngân hàng nước ngoài, làm đại lý hoặc có
mối liên hệ với ngân hàng), thông báo về kết quả mở L/C và nội dung L/C.
(3) Ngân hàng thông báo ở nước ngoài kiểm tra L/C, hình thức của L/C
sau đó chuyển nguyên văn nội dung L/C cho nhà xuất khẩu mà không được
phép ghi chú hay dòch thuật bất kỳ chi tiết nào trên L/C.
(4) Người xuất khẩu sau khi xem xét nội dung L/C, kiểm tra L/C, nếu thấy
hoàn toàn phù hợp với những điều khoản của hợp đồng và nội dung đã thỏa
thuận với nhà nhập khẩu, thì giao hàng cho người nhập khẩu hoặc người đại
diện cho nhà nhập khẩu, do nhà nhập khẩu chỉ đònh. Nếu thấy có điểm nào
trong L/C chưa phù hợp với thỏa thuận trước nay thì yêu cầu người nhập khẩu
và ngân hàng mở L/C tu chỉnh nội dung cho đến khi nào phù hợp thì mới tiến
hành giao hàng.
(5) Người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình
tới ngân hàng thông báo chứng minh đã hoàn tất nghóa vụ giao hàng, đồng
thời ký phát hối phiếu đòi tiền ngân hàng phát hành L/C, nộp toàn bộ chứng
từ đó cho ngân hàng thông báo.
(6) Nếu ngân hàng thông báo không được ngân hàng mở L/C ủy quyền
thanh toán cho nhà xuất khẩu thì chuyển toàn bộ bộ chứng từ cho ngân hàng
mở L/C để đòi tiền hộ nhà xuất khẩu.
(6’) Nếu ngân hàng thông báo được ngân hàng mở L/C ủy quyền thanh
toán cho nhà xuất khẩu thì ghi Có vào tài khoản người bán và báo Có cho nhà
xuất khẩu, sau khi kiểm tra chi tiết bộ chứng từ giao hàng.
L/C)
9
Luận văn tốt nghiệp TRẦN NGUYỄN THANH PHƯƠNG
Loại L/C mà sau khi người hưởng lợi đã được trả tiền thì ngân hàng mở
L/C (ngân hàng thanh toán ) không có quyền đòi lại tiền trong bất cứ trường
hợp nào. Khi sử dụng loại L/C này nhà xuất khẩu khi ký phát hối phiếu phải
ghi câu “không được truy đòi tiền người ký phát” (Without recourse to
drawers).
L/C miễn truy đòi cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế vì
đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu.
Thư tín dụng có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng điện (Telegraphic
Transfer Reimbursement – TTR)
Là loại L/C không hủy ngang trong đó cho phép ngân hàng phục vụ
người hưởng lợi đánh điện đòi ngân hàng phát hành hoặc một ngân hàng nào
đó được chỉ đònh trong L/C sau khi đã kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ.
Thanh toán bằng TTR được áp dụng trong các trường hợp: Người bán và
người mua có quan hệ làm ăn uy tín, lâu dài với nhau. Điều kiện vận tải, giao
nhận thuận lợi.
Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)
Là loại L/C không hủy ngang trong đó quy đònh ngân hàng trả tiền (ngân
hàng phục vụ người xuất khẩu) có quyền thanh toán toàn bộ hay một phần số
tiền L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.
Nếu người hưởng lợi thứ nhất đề nghò ngân hàng phục vụ mình giúp đỡ
(thương lượng) việc chuyển nhượng L/C thì ngân hàng này là ngân hàng
chuyển nhượng (Transfering Bank). Chi phí chuyển nhượng thường do người
hưởng lợi thứ nhất chòu.
L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần và thường được sử
dụng trong trường hợp mua bán hàng chuyển khẩu, mua bán trung gian.
Thư tín dụng giáp lưng ( Back to back L/C )
10
khi nào hoàn tất giá trò hợp đồng.
L/C này thường được sử dụng trong trường hợp:
Mua bán hàng hoá với khối lượng lớn, giao hàng nhiều lần, đònh kỳ với
giá trò mỗi lần tương đương nhau; thời hạn dài. Dùng L/C này để tránh
ứ đọng vốn không cần thiết, có lợi cho cả đôi bên mua bán. Bởi vì nếu
mỗi lần giao hàng lại ký hợp đồng, mở một L/C thì mất nhiều thời giờ
để ký kết hay làm thủ tục mở L/C. Người bán thì không chủ động đầu
ra còn người mua thì cũng không chủ động về nguồn hàng.
Chẳng hạn những công ty may Việt Nam thường nhận cung cấp hàng
may mặc cho khách hàng nước ngoài với số lượng lớn, thời gian thực
hiện hợp đồng dài (3-5 năm), hàng hóa được giao nhiều lần.
Vì vậy L/C tuần hoàn được dùng phổ biến trong buôn bán với các bạn
hàng quen thuộc có tiếng trên thò trường và các bên tin cậy lẫn nhau.
Thư tín dụng dự phòng ( Standby L/C )
Thư tín dụng dự phòng là một thư tín dụng mà một ngân hàng (Ngân
hàng phát hành) mở ra theo yêu cầu của khách hàng, trong đó ngân hàng cam
kết sẽ thanh toán cho người thụ hưởng (The Benneficiary) khi người này xuất
trình những chứng từ yêu cầu thanh toán và những chứng từ chứng minh việc
không thực hiện những nghóa vụ của người yêu cầu mở thư tín dụng, với điều
kiện còn trong thời hạn hiệu lực của L/C.
Standby L/C được sử dụng rộng rãi trong nhiều lónh vực, vì nó được xem
như một bảo lãnh ngân hàng để:
Bảo đảm cho những khoản vay trong xây dựng.
Bảo đảm việc thực hiện hợp đồng thương mại, hợp đồng gia công, hợp
đồng kiên doanh hay hợp tác.
12
GVHD: TS. HÀ THỊ NGỌC OANH
Bảo đảm người tham gia dự thầu phải ký hợp đồng sau khi trúng thầu.
Bảo đảm an toàn cho khoản tiền ứng trước.
Đóng vai trò như một L/C thương mại: đảm bảo khả năng thanh toán của
thích và làm rõ việc áp dụng và thực hiện UCP.
Trong nước, có rất ít văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động này, nếu có
thì cũng chỉ là những quy đònh chung chung, gián tiếp ảnh hưởng đến như:
- Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam và Luật bổ sung sửa đổi một số
điều của Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam.
- Luật các tổ chức tín dụng và Luật bổ sung sửa đổi một số điều của Luật
tổ chức tín dụng.
- Pháp lệnh ngoại hối và Nghò đònh 160/CP về quản lý ngoại hối.
- Luật các công cụ chuyển nhượng.
- Luật thương mại.
- Quyết đònh số 13/2008/QĐ-NHNN ngày 29/04/2008 về quy đònh mạng
lưới hoạt động của NHTM sẽ hạn chế hoạt động dòch vụ TTQT tại
phòng giao dòch.
2.3. Vai trò của các ngân hàng khi thực hiện phương thức tín dụng
chứng từ
Ngân hàng phát hành L/C (Opening Bank/Issuing Bank)
Nghóa vụ:
• Mở L/C cho nhà hưởng lợi nếu có yêu cầu từ nhà nhập khẩu.
• Phối hợp với nhà nhập khẩu kiểm tra tính chính xác của L/C.
14
GVHD: TS. HÀ THỊ NGỌC OANH
• Tu chỉnh, sửa đổi L/C nếu có yêu cầu từ nhà xuất khẩu hoặc người xin
mở L/C.
• Ký quỹ với ngân hàng xác nhận (Confirming Bank) nếu có yêu cầu.
• Thông báo cho ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu nội dung của L/C.
• Kiểm tra bộ chứng từ và thanh toán (hoặc chấp nhận thanh toán) hối
phiếu do nhà xuất khẩu ký phát nếu thấy bộ chứng từ hợp lệ.
• Nghóa vụ thanh toán L/C cho người thụ hưởng là nghóa vụ bắt buộc của
ngân hàng phát hành; điều này không phụ thuộc vào việc người đề
nghò mở L/C có nộp đủ tiền để thanh toán L/C ở ngân hàng hay không.
L/C được chuyển đến bằng thư thì kiểm tra chữ ký của ngân hàng phát
hành; nếu nhận bằng điện thì kiểm tra mật mã đã được qui ước giữa
các ngân hàng.
• Chuyển nguyên văn L/C dưới hình thức văn bản cho nhà xuất khẩu
theo sự chỉ dẫn của ngân hàng phát hành.
• Nhận bộ chứng từ do nhà xuất khẩu gửi đến và kiểm tra tính hợp lệ của
nó, rồi gửi cho ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận.
• Nếu được ngân hàng phát hành uỷ nhiệm kiểm tra bộ chứng từ hoặc chỉ
thò là ngân hàng xác nhận (hay ngân hàng thanh toán) thì điện đòi tiền
từ ngân hàng phát hành và thanh toán hối phiếu cho người hưởng lợi;
sau đó chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng phát hành bằng đường hàng
không. Trong trường hợp này trong L/C sẽ chỉ thò: “Telegraphic
Transfer Reimbursement accepted – TTR”: Chấp nhận chuyển tiền có
bồi hoàn bằng điện.
Quyền lợi:
• Có quyền từ chối thanh toán với nhà xuất khẩu nếu thấy bộ chứng từ có
những bất hợp lệ. Được hưởng phí dòch vụ ngân hàng.
16
GVHD: TS. HÀ THỊ NGỌC OANH
• Nhận tiền thanh toán L/C nếu được nhà xuất khẩu uỷ quyền cho ngân
hàng hưởng lợi L/C.
Ngân hàng thanh toán (Paying Bank)
Thanh toán cho nhà xuất khẩu nếu có yêu cầu và được hưởng phí dòch
vụ ngân hàng.
Ngân hàng thương lượng / Ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ (Negotiating
Bank)
Trong trường hợp nhà nhập khẩu được chấp nhận mở thư tín dụng trả
chậm thanh toán cho nhà hưởng lợi, nhà xuất khẩu có thể nhờ đến ngân hàng
thương lượng chiết khấu bộ chứng từ.
Chiết khấu bộ chứng từ nghóa là Negotiating Bank sẽ thực hiện việc
chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra thực tế hàng hoá.
Ngân hàng chỉ kiểm tra tính hợp lệ bề ngoài của chứng từ. Nếu nhà xuất khẩu
chủ tâm gian lận có thể xuất trình chứng từ giả mạo cho ngân hàng chỉ đònh
để thanh toán. Như vậy, sẽ không có sự bảo đảm nào cho nhà nhập khẩu rằng
hàng hoá sẽ đúng như hợp đồng về số lượng, chủng loại và không bò hư hỏng
gì. Trong trường hợp này nhà nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã
thanh toán cho ngân hàng phát hành.
Rủi ro đối với nhà xuất khẩu
Khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi
khoản thanh toán (chấp nhận) đều có thể bò từ chối và nhà xuất khẩu sẽ phải
tự giải quyết bằng cách dỡ hàng, lưu kho, bán đấu giá, cho đến khi vấn đề
được giải quyết hoặc phải chở hàng quay về nước. Nhà xuất khẩu phải trả các
khoản chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho, mua bảo hiểm hàng hoá,
18
GVHD: TS. HÀ THỊ NGỌC OANH
trong khi không biết nhà nhập khẩu có đồng ý nhận hàng hay từ chối nhận
hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót. Nếu ngân hàng phát hành hoặc ngân
hàng xác nhận mất khả năng thanh toán thì mặc dù bộ chứng từ xuất trình có
hoàn hảo cũng không được thanh toán. Cũng tương tự như vậy, nếu ngân hàng
chấp nhận hối phiếu kỳ hạn bò phá sản trước khi hối phiếu đến hạn thì hối
phiếu cũng không được trả tiền.
Rủi ro đối với ngân hàng phát hành
Ngân hàng phát hành là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, cung
cấp tín dụng cho người nhập khẩu. Ngân hàng này thường được hai bên nhập
khẩu và xuất khẩu thỏa thuận lựa chọn, nếu chưa có sự quy đònh trước, người
nhập khẩu có quyền lựa chọn. Rủi ro đối với ngân hàng phát hành là ở chỗ
ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy
đònh của L/C trong trường hợp nhà nhập khẩu chủ tâm không thanh toán hay
khi họ không nắm vững được năng lực tài chính của ngân hàng mở mà xác
nhận theo yêu cầu của họ để rồi khi xảy ra hậu quả thì lại chòu trách nhiệm
thanh toán thay cho ngân hàng mở L/C do ngân hàng mở L/C thiếu thiện chí
hay mất khả năng thanh toán, thậm chí bò phá sản.
Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu
Ngân hàng chiết khấu là ngân hàng được chỉ đònh cụ thể hoặc bất cứ
ngân hàng nào nếu L/C cho chiết khấu tự do. Cũng như ngân hàng phát hành,
ngân hàng chiết khấu có thể gặp rủi ro nếu như không thực hiện chính xác
nghiệp vụ cũng như không tuân thủ theo các điều kiện của UCP. Rủi ro xảy ra
đối với ngân hàng chiết khấu phần nhiều phụ thuộc vào thiện chí của ngân
hàng mở và nhà nhập khẩu. Các rủi ro mà ngân hàng chiết khấu có thể gặp
phải là: rủi ro do những nguyên nhân bất khả kháng, rủi ro do nhà nhập khẩu
20
GVHD: TS. HÀ THỊ NGỌC OANH
trì hoãn thanh toán, rủi ro do nhà nhập khẩu từ chối thanh toán bộ chứng từ,
rủi ro trong quá trình vận chuyển, rủi ro do ngân hàng mở bò phá sản.
21
Luận văn tốt nghiệp TRẦN NGUYỄN THANH PHƯƠNG
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ NHẬP KHẨU
TẠI ACB - CN TÂN BÌNH
1. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU (ACB) – CHI
NHÁNH TÂN BÌNH
1.1. Giới thiệu tổng quan về ACB
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) đã được thành lập
theo giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày
24/04/1993, Giấy phép số 553/GP-UB do ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh
cấp ngày 13/05/1993.