Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề lội ngập đô thị không chỉ có ở những đô thị của Việt Nam nói chung
và TPHCM nói riêng mà đây là “vấn nạn” của nhiều đô thị trên thế giới, nhất là đô
thị ở các nước đang phát triển- nơi đang có quá trình đô thị hóa quá nhanh nhưng
thiếu những giải pháp quy hoạch quản lý và công trình hạ tầng thích ứng. Ngập lụt
đô thị đã gây nên những tác động không nhỏ đến sinh hoạt của người dân: ảnh hưởng
đến sự phát triển kinh tế, ô nhiễm môi trường sống…
Vấn đề lội ngập tại đô thị Hồ Chí Minh đã là vấn đề bức xúc trong nhiều năm
qua đối với các cấp lãnh đạo và nhân dân thành phố. Mặc dù đã được sự quan tâm và
nói đến nhiều của các cơ quan quản lý, nhà lãnh đạo, báo chí, truyền thông nhưng
vấn đề ngập lụt của thành phố vẫn là bài ca muôn thuở chưa có hồi kết. Mỗi mùa
mưa về, người ta lại nghe nhiều hơn điệp khúc “ Mưa – ngập- kẹt xe” hay “ Đường
ngập, nâng đường – nhà ngập, nâng nhà”, để rồi nhà lại ngập, mãi trong vòng luẩn
quẩn.
Hàng loạt giải pháp cho vấn đề ngập lụt đô thị đã được đưa ra và thực hiện
như: cải tiến hệ thống thoát nước, nâng đường nhưng đều tỏ ra không đạt hiệu quả,
vì những giải pháp đó chỉ là những giải pháp mang tính “chống đỡ, tình thế, bị
động”. Và đã có nhiều công trình nghiên cứu và nhiều giải pháp đã được áp dụng vào
thực tế nhưng do tính chất phức tạp của vấn đề nên tình trạng ngập lụt tại thành phố
Hồ Chí Minh không những không được giải quyết mà còn có chiều hướng ngày càng
gia tăng.
Nguyên nhân chính của vấn đề này là ở đâu và giải quyết như
thế nào?
SVTH: Vũ Thị Loan - 1 - MSSV: 08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
1.1. VỊ TRÍ, ĐỊA HÌNH
1.1.1. Vị trí
cao trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi
Long Bình (quận 9).
SVTH: Vũ Thị Loan - 3 - MSSV: 08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
- Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các
quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ). Vùng này có độ cao trung
bình trên dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m.
- Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội
thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn. Vùng
này có độ cao trung bình 5-10m.
- Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá
đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt.
- Khu vực bờ hữu sông Sài gòn- Nhà bè có thể được chia ra 4 vùng với các điều
kiện địa hình khác nhau:
+ Vùng phía tây hầu hết là khu vưc diện tích đất thấp có cao độ từ +0,7 đến
+1,0m của huyện bình chánh.
+ Khu vực trung tâm cao hơn bao gồm diện tích đất của các huyện Hóc môn,
Gò vấp và khu trung tâm thành phố.
+ Vùng phía bắc ven sông Sài gòn có cao độ đất tự nhiên vào khoảng +0,6 đến
+0,8m .
+ Vùng phía nam ven sông Nhà bè bao gồm cả diện tích của huyện Cần Giuộc
và Cần Đước của huyện Long An hầu hết là vùng đất thấp với độ cao khoảng +0,6
đến +1,2m
- Bờ tả sông Sài Gòn bao gồm 2 tiểu vùng: Đông – Bắc và Đông – Nam. Phía
nam của khu vực này là đất thuộc các quận 2, quận 9 có cao độ từ +0,.6
đến +1,5m đang phát triển rất mạnh.
1.2. ÐỊA CHẤT – ĐẤT ĐAI
Ðất đai Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành trên hai trầm tích-trầm tích
Pleieixtoxen và trầm tích Holoxen:
- Trầm tích Pleixtoxen (trầm tích phù sa cổ): chiếm hầu hết phần phía Bắc, Tây
loại đầu chiếm diện tích lớn hơn; loại sau, là đất phù sa ngọt, đất rất tốt, chỉ có
khoảng 5.200 ha (2,7%). Ðất phù sa nói chung có thành phần cơ giới từ sét trung
bình tới sét nặng. Ðất có phản ứng chua, độ pH khoảng 4,2-4,5 ở tầng đất mặt và
xuống sâu 0,5- 1,2m độ chua giảm nhiều, pH nâng lên tới 5,5-6,0. Hàm lượng mùn
trung bình, các chất dinh dưỡng khá. Là loại đất màu mỡ, thuận lợi cho phát triển
trồng lúa cao sản, chất lượng tốt.
SVTH: Vũ Thị Loan - 5 - MSSV: 08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
+ Nhóm đất phèn có hai loại: đất phèn nhiều và đất phèn trung bình. Chúng
phân bố tập trung chủ yếu ở hai vùng. Vùng đất phèn Tây Nam Thành phố, kéo dài
từ Tam Tân-Thái Mỹ huyện Củ Chi xuống khu vực Tây Nam huyện Bình Chánh -các
xã Tân Tạo, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân Vùng này hầu hết thuộc loại đất phèn
nhiều (phèn nặng); đất rất chua, độ pH khoảng 2,3-3,0. Nó cùng điều kiện thành tạo
và tính chất giống như đất phèn vùng Ðồng Tháp Mười. Vùng đất phèn ven sông Sài
Gòn-Rạch Tra và bưng Sáu xã quận 9. ở đây hầu hết diện tích thuộc loại đất phèn
trung bình và ít, phản ứng của đất chua nhẹ ở tầng đất mặt, độ pH khoảng 4,5-5,0;
song giảm mạnh ở tầng đất dưới, đất rất chua, độ pH xuống tới 3,0-3,5. Ðất phèn có
thành phần cơ giới từ sét đến sét nặng, đất chặt và bí. Dưới độ sâu khoảng từ 1m trở
xuống, có nhiều xác hữu cơ nên đất xốp hơn. Ðất khá giàu mùn, chất dinh dưỡng
trung bình; song hàm lượng các ion độc tố cao, nên trên đất phèn không thích hợp
với trồng lúa. Tuy nhiên, tăng cường biện pháp thủy lợi tưới tiêu tự chảy để rửa
phèn, có thể chuyển đất canh tác từ một vụ sang hai vụ lúa .
+ Nhóm đất phèn mặn: Ở thành phố Hồ Chí Minh, nhóm đất phèn mặn là
nhóm có diện tích lớn nhất. Nó phân bố tập trung ở đại bộ phận lãnh thổ huyện Nhà
Bè và hầu như toàn bộ huyện Cần Giờ. Theo độ mặn và thời gian ngập mặn, nhóm
đất mặn được chia làm hai loại: đất phèn mặn theo mùa và đất phèn mặn thường
xuyên (còn gọi là đất mặn dưới rừng ngập mặn). Ðất phèn mặn theo mùa có diện tích
10.500 ha, phân bố ở Nhà Bè và bắc huyện Cần Giờ. Thời gian bị mặn kéo dài từ
tháng 12 đến tháng 6 hoặc tháng 7 năm sau. Ðất thịt, giàu mùn, chứa nhiều xác hữu
cơ dưới môi trường yếm khí, chất dinh dưỡng khá; phản ứng của đất từ chua đến rất
rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé,
Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi và ở phần phía Nam Thành phố thuộc địa bàn
các huyện Nhà Bè, Cần Giờ mật độ kênh rạch dày đặc; cùng với hệ thống kênh cấp
3-4 của kênh Ðông-Củ Chi và các kênh đào An Hạ, kênh Xáng, Bình Chánh đã giúp
cho việc tưới tiêu kết quả, giao lưu thuận lợi và đang dần dần từng bước thực hiện
các dự án giải tỏa, nạo vét kênh rạch, chỉnh trang ven bờ, tô điểm vẻ đẹp cảnh quan
sông nước, phát huy lợi thế hiếm có đối với một đô thị lớn.
- Nước ngầm: ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhìn chung khá phong phú tập trung
ở vùng nửa phần phía Bắc-trên trầm tích Pleixtoxen; càng xuống phía Nam (Nam
SVTH: Vũ Thị Loan - 7 - MSSV: 08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Bình Chánh, quận 7, Nhà Bè, Cần Giờ)-trên trầm tích Holoxen, nước ngầm thường
bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.
1.3.2. Thủy văn
- Về thủy văn, hầu hết các sông rạch TP.HCM đều chịu ảnh hưởng dao động
triều bán nhật của biển Ðông. Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều
thâm nhập sâu vào các kênh rạch trong thành phố, gây nên tác động không nhỏ đối
với sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.
TP.HCM chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn của hệ thống sông Sài Gòn- Đồng Nai.
- Mực nước triều bình quân cao nhất là 1,10m. Tháng có mực nước cao nhất là
tháng 10-11, thấp nhất là các tháng 6-7. Về mùa khô, lưu lượng của nguồn các sông
nhỏ, độ mặn 4% có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến quá Lái Thiêu, có năm đến
đến tận Thủ Dầu Một và trên sông Ðồng Nai đến Long Ðại. Mùa mưa lưu lượng của
nguồn lớn, nên mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị pha loãng đi nhiều
- Từ khi có các công trình thủy điện Trị An và thủy lợi Dầu Tiếng ở thượng
nguồn, chế độ chảy tự nhiên chuyển sang chế độ chảy điều tiết qua tuốt bin, đập tràn
và cống đóng-xả, nên môi trường vùng hạ du từ Bắc Nhà Bè trở nên chịu ảnh hưởng
của nguồn, nói chung đã được cải thiện theo chiều hướng ngọt hóa. Dòng chảy vào
mùa kiệt tăng lên, đặc biệt trong các tháng từ tháng 2 đến tháng 5 tăng 3-6 lần so với
tự nhiên. Vào mùa mưa, lượng nước được điều tiết giữ lại trên hồ, làm giảm thiểu
Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10, tốc độ trung bình
3,6m/s và gió thổi mạnh nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4,5 m/s. Gió Bắc- Ðông
Bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 2, tốc độ
trung bình 2,4 m/s. Ngoài ra có gió tín phong, hướng Nam - Ðông Nam, khoảng từ
tháng 3 đến tháng 5 tốc độ trung bình 3,7 m/s. Về cơ bản TPHCM thuộc vùng không
có gió bão. Năm 1997, do biến động bởi hiện tượng El-Nino gây nên cơn bão số 5,
chỉ một phần huyện Cần Giờ bị ảnh hưởng ở mức độ nhẹ.
- Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm
2
/năm; số giờ nắng trung
bình/tháng 160-270 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình 27
O
C; nhiệt độ cao tuyệt đối
40
O
C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,8
O
C. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng
4 (28,8
O
C), tháng có nhiệt độ trungbình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1
(25,7
O
C). Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25-28
O
C. Điều kiện
nhiệt độ và ánh sáng như vậy, rất thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng
SVTH: Vũ Thị Loan - 9 - MSSV: 08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất
22
(72)
23
(73)
24
(75)
25
(77)
24
(75)
25
(77)
24
(75)
23
(73)
23
(73)
22
(72)
22 (72)
Lượng mưa mm (inch)
14
(0.6)
4
(0.2)
12
(0.5)
42
(1.7)
1.6. DÂN SỐ
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số
7.123.340 người ( Báo cáo 13 tháng 8, 2009. “Công bố kết quả sơ bộ tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2009”. Trang điện tử chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam. Chính phủ Việt Nam. Truy cập 15 tháng 8, 2009) , gồm 1.812.086
hộ dân, bình quân 3,93 người/hộ. Phân theo giới tính: Nam có 3.425.925 người
chiếm 48,1%, nữ có 3.697.415 người chiếm 51,9% . Dân số thành phố tăng nhanh,
trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành phố tăng thêm 2,086.185 người, bính quân
SVTH: Vũ Thị Loan - 10 - MSSV:
08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
tăng gần 209.000 người/năm, tốc độ tăng 3,53%/năm, chiếm 22% số dân tăng thêm
của cả nước trong vòng 10 năm.
1.7. QUY HOẠCH VÀ KẾT CẤU ĐÔ THỊ
Theo thiết kế đô thị ban đầu của người Pháp vào năm 1860, thành phố Sài Gòn
sẽ là nơi sinh sống cho 500.000 dân. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tăng
qui mô của thành phố lên đến 3 triệu dân. Tuy nhiên hiện nay thành phố này có
dân số kể cả số lượng khách vãng lai là 10 triệu người, kết cấu đô thị đã quá tải
(“Giải pháp giao thông TP.HCM: Chỉ là đối phó”. VietnamNet -27 tháng 11
năm 2007). Sài Gòn từng là thành phố của cây xanh với không gian kiến trúc
theo quy hoạch của Pháp trước đây đã thay đổi với việc thu hẹp không gian
xanh để xây dựng nhà cửa, không gian kiến trúc thành phố này trở nên chật
chội với nhiều công trình xây dựng hỗn độn thiếu tính thống nhất (“Không
gian đô thị thành phố Hồ Chí Minh (Phần 2)”. Đài truyền hình Việt Nam
-25 tháng 5 năm 2005). Công tác quy hoạch có nhiều bất cập và yếu kém. Đến
thời điểm đầu năm 2008 mới chỉ có 23% khối lượng công tác quy hoạch 1/2000
được thực hiện. Quy hoạch cho hệ thống công trình ngầm vẫn chưa được thực
hiện xong (“TP. Hồ Chí Minh – Ngán ngẩm với quy hoạch”- Báo Lao Động
8 tháng 1 năm 2008) Công tác xây quy họach và xây dựng đô thị mới vẫn
mang nặng tư duy thời kỳ bao cấp. Trong 10 năm gần đây, khu vực đô thị mới
năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD ("TPHCM sau 1 năm
gia nhập WTO - Vượt lên chính mình ", Trung tâm thông tin thương mại).
SVTH: Vũ Thị Loan - 12 - MSSV:
08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH LỘI NGẬP Ở THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
2.1. NGUYÊN NHÂN GÂY LỘI NGẬP Ở TP.HCM
2.1.1. NGUYÊN NHÂN DO TÁC ĐỘNG CỦA TỰ NHIÊN
(NGUYÊN NHÂN KHÁCH QUAN)
2.1.1.1. Do nhiệt độ trái đất tăng và biến đổi khí hậu
- Theo TS. Nguyễn Hữu Ninh, trung tâm Nghiên Cứu, Giáo Dục và Phát Triển
Môi Trường thuộc Liên Hiệp các Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam. Hiện nay,
nhiệt độ trung bình đã tăng lên tới 0,3 - 0,4 độ C trong mấy chục năm vừa qua và
hiện đang có xu hướng tăng tiếp. Các mô hình nghiên cứu trong thế kỷ 21, nhiệt độ
trung bình của Trái đất có thể tăng từ 1,1 - 6 độ C khả năng xảy ra từ 1,8 - 4 độ C
trong đó tùy theo sự phát thải hiệu ứng nhà kính cắt giảm đến mức độ nào để làm
giảm bớt các khí CO2 và các khí khác gây hiệu ứng nhà kính. Theo báo cáo mới nhất
của Liên hiệp quốc, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu 90% do con người
gây ra, 10% là do tự nhiên .Nếu như ngay từ lúc này, nhân loại dừng phát thải khí
nhà kính thì nhiệt độ bề mặt Trái Đất vẫn tiếp tục nóng lên, nước biển vẫn tiếp tục
dâng lên trong vòng 50 năm nữa. Nhiệt độ trái đất nóng lên làm cho băng của các
dãy Himalaya và Nam Cực, Bắc Cực và các vùng khác tan chảy. Những núi băng
này tan chảy sẽ làm cho mực nước biển tăng lên.
- Mực nước biển dâng lên từ 28 - 43 cm. Nhưng có thể mực nước biển này còn
cao hơn nữa tùy theo sự phát thải của hiệu ứng nhà kính và tác động của con người
gây ra. Khi mực nước biển dâng thêm 1m, 14 triệu dân ở đồng bằng sông Cửu Long
sẽ bị ảnh hưởng, 40.000 km
2
hiếm thấy với lượng mưa 117mm.
Hình 2: Chỉ sau mấy cơn mưa nhỏ, nhiều con đường của TP HCM đã chìm trong nước.
Nguồn: Báo Đất Việt
Bảng 2 : Số lần xuất hiện của trận mưa có cường độ > 100mm trong 180 phút ở TP.HCM
Thời kỳ 1952 - 1961 1962-1971 1972-1981 1982-1991 1992-2002
Xuất hiện 0 1 2 2 4
(Nguồn: Vấn đề ngập úng và thoát nước ở TP.HCM của Hồ Phi Long trường Đại học Bách
khoa TP.HCM)
Theo bảng trên cho thấy có xu hướng tăng dần của những trận mưa có cường độ
lớn nhất hàng năm với tốc độ bình quân khoảng 0.8mm/năm, cùng với tần suất xuất
hiện tăng dần của những trận mưa lớn có cường độ từ 100mm trở lên.
- Hiện nay, toàn thành phố còn khoảng 100 điểm ngập chủ yếu do mưa trong
đó khu vực nội thành có đến 60 điểm. Năm 2008, có khoảng 66 trận mưa gây ngập,
tăng 46% so với năm 2007. Chỉ trong năm 2009 đã có đến hơn 50 trận mưa gây
ngập cho thành phố (trên tổng số 150 trận mưa cả năm). Không chỉ vậy, triều cường
ngày càng tăng cao khiến tình trạng ngập càng thêm phức tạp, gần nửa số điểm ngập
hầu như chưa có phương án xử lý. Chúng ta đều rõ TP HCM nhìn chung cao độ đất
SVTH: Vũ Thị Loan - 15 - MSSV:
08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
thấp cho nên nguyên nhân chính gây ngập do mưa lớn, trong khi hệ thống tiêu thoát
hiện hữu không đủ khả năng thoát nước. Nhiều nhất trên các tuyến đường Nguyễn
Hữu Cảnh, Điện Biên Phủ, D2, D3, Xô Viết Nghệ Tĩnh (Quận Bình Thạnh), Cao
Thắng (Quận 3), Trần Xuân Soạn (Quận 7)….
- Khi mưa với cường độ khoảng trên 40 mm, thời gian ngắn thường sinh ra
ngập úng. Nếu mưa với cường độ lớn hơn, thời gian mưa tập trung dài hơn thì mức
độ ngập úng càng nguy hiểm hơn. Ngập úng do mưa cũng có liên quan đến hệ thống
tiêu thoát nước, đặc biệt là hệ thống kênh cống tiêu ở khu nội thành.
Hình 3: Nước ngập quá nửa chiếc xe gắn máy - Ảnh: Diệp Đức Minh
mực nước này, nếu không có hệ thống tiêu thoát thì thường xuyên bị ngập. Ngập úng
có thể lớn hơn khi có triều cường truyền vào trong sông kênh, kết hợp lũ từ các công
trình thượng lưu xả về, đồng thời với mưa lớn xảy ra.
2.1.1.4. Vị trí tạo thành của một “đô thị ngập triều”
Thành phố Hồ Chí Minh là vùng đất thấp, nguyên là vùng đầm lầy ngập mặn, có
nhiều cửa sông rạch chảy ra biển Đông. Mặt đất của thành phố từ xưa có độ dốc tự
nhiên từ phía Bắc thấp dần xuống phía Nam, từ độ cao trung bình phía Bắc là huyện
Củ Chi có độ cao cách mặt biển khoảng 5 – 9m, rồi thấp dần xuống phía Nam là các
huyện Nhà Bè, Cần Giờ dần gần với mặt biển. Độ dốc tự nhiên ấy còn có thể nhìn
thấy là tất cả sông rạch như sông Sài Gòn, sông Bình Điền đều chảy xuôi từ phía Bắc
SVTH: Vũ Thị Loan - 18 - MSSV:
08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
xuống phía Nam thành phố. Đồng thời, dọc sông Sài Gòn do nước mặt chảy tràn tự
nhiên từ phần phía Đông các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Q.12, Q.Bình Thạnh, Q.1 và
từ phần phía Tây Q.2, Thủ Đức vào sông Sài Gòn. Hiện tượng tự nhiên này đã bào
mòn mặt đất dần về phía triền sông Sài Gòn; còn phía Nam thành phố, nước mặt tự
nhiên bào mòn mặt đất dốc dần và đổ vào các sông Đồng Nai, sông Nhà Bè, sông
Soài Rạp; và cũng như vậy, nước mặt tự nhiên từ các địa phương cặp sông Bình
Điền, sông Chợ Đệm, và sông Vàm Cỏ Đông bào mòn mặt đất dần về phía các sông
này. Khu vực Nam thành phố hình thành một mạng lưới sông rạch chằng chịt, tiêu
thoát nước tự nhiên rất tốt và cần phải bảo tồn độ dốc tự nhiên này.
- Xuất phát từ nguyên lý cân bằng nước cho một khu vực đô thị trong một thời
gian nhất định, khi tổng lượng nước đến (trong đô thị là nước mưa và nước thải)
vượt quá lượng nước tiêu thoát qua hệ thống cống hay trực tiếp chảy vào sông, kênh
rạch sẽ gây ra ngập lụt đô thị.
- Vị trí thành tạo của đô thị Hồ Chí Minh là “đô thị bán ngập triều”. Hướng
thoát lũ chính của thành phố là Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc xuống Nam, Đông Nam và
Tây Nam. Vì vậy, chúng ta càng mở rộng đô thị hiện đại ở vùng Nam Sài Gòn, Bình
Chánh, Đông thành phố ( Quận 7, Nhà Bè), tức là chúng ta càng ngăn đường thoát
LONG AN
LONG AN
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
nội thành thấp hơn triều cường, và tốc độ nâng đường và nhà chậm hơn tốc độ san
lấp công trình.
- TPHCM nằm trên vùng cửa các con sông lớn: Lòng Tàu, Soài Rạp là các cửa
thoát nước của cả hệ thống sông Đồng Nai, nên một mặt chịu áp lực của nước nguồn
từ trên đổ xuống trong mùa mưa lũ, mặt khác là áp lực của biển từ dưới lên quanh
năm: triều cao, xâm nhập mặn, gió bão và hiện tại là nước biển dâng do khí hậu trái
đất ấm dần lên. Phần lớn phía Nam TP là vùng đất thấp – khu vực chịu áp lực thống
trị của biển với chiều dài tiếp xúc với biển khoảng 75 – 80 km.
- Ngoài lũ trực tiếp từ thượng lưu các sông Đồng Nai, Sài Gòn ảnh hưởng trực
tiếp đến TP.HCM, lũ từ lưu vực sông Mê Kông thông qua hệ thống kênh rạch nối
liền các sông Vàm Cỏ với vùng TP.HCM làm cho mực nước sông, kênh tăng cao,
thậm chí tràn vào đồng ruộng gây ra ngập úng. Tuy nhiên, hiện nay, đối với
TP.HCM, ảnh hưởng ngập úng do lũ từ sông Mê Kông đã cơ bản được giải
quyết nhờ có hệ thống cống kiểm soát lũ ở khu vực này.
Hình 7: Tổng hợp các nguyên nhân khách quan gây ngập ở TP. HCM
SVTH: Vũ Thị Loan - 21 - MSSV:
08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
2.1. 2. NGUYÊN NHÂN DO TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI
(NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN)
2.1.2.1. Do quá trình đô thị hoá
Như ở trên 1.7 (phần quy hoạch và kết cấu đô thị)thành phố Hồ Chí Minh là nơi
sinh sống cho 500.000 dân. Tuy nhiên hiện nay thành phố này có dân số kể cả số
lượng khách vãng lai là gần 10 triệu người, kết cấu đô thị đã quá tải. Khu dân cư,
khu đô thị, khu công nghiệp mọc lên một cách ồ ạt. Tốc độ đô thị hóa chưa đồng bộ
với việc đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng thoát nước.
Theo quy hoạch tổng thể từ nay đến năm 2010 và định hướng đến 2020 (Chỉ thị
không còn.
- Do hình thành nhiều con đê bao khép kín, chống ngập đất nông nghiệp thì lại
dồn nước về ngập đô thị.
Bảng 3: Thống kê tình trạng hư hỏng của HTTN khu vực Gò Vấp- Tân Bình
D(mm) 400 500 600 650 700 750 800 850 900 >1000
Số lượng
hư hỏng 8 6 18 0 9 0 5 9 1 1
Tỉ lệ 14% 11% 32% 0% 16% 0% 9% 16% 2% 2%
(Nguồn: Vấn đề ngập úng và thoát nước ở TP.HCM của Hồ Phi Long trường Đại học Bách
khoa TP.HCM)
Bảng 4: Thống kê mức hư hỏng của HTTN khu vực Gò Vấp- Tân Bình
Mức độ hư hỏng 0 0-10% 10-25% 25-50% 50-75% 75-100% 100%
Tỉ lệ 39% 20% 11% 20% 5% 2% 2%
(Nguồn: Vấn đề ngập úng và thoát nước ở TP.HCM của Hồ Phi Long trường Đại học Bách
khoa TP.HCM)
Theo số lượng trong bảng 3 và bảng 4 cho thấy có trên 60% trùng hợp hư hỏng
của hệ thống cấp thoát nước trong địa bàn quan sát trên 568 mẫu khảo sát. Những
trường hợp hư hỏng chủ yếu xảy ra đối với các cống loại nhỏ có đường kính từ
600mm trở xuống. Vị trí xảy ra hư hỏng của cống trùng hợp với tình trạng ngập úng
là 176/212 trùng hợp với tỉ lệ 69%.
SVTH: Vũ Thị Loan - 23 - MSSV:
08B1080041
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Bảng 5: Thống kê so sánh quan hệ ngập úng- tình trang hư hại của HTTN khu
vực Gò Vấp- Tân Bình
Tình trạng Ngập Không ngập
Hư hỏng 146/ 25,7% 155/ 27,2%
Không hư hỏng 65/11.4% 201/ 35,4%
(Nguồn: Vấn đề ngập úng và thoát nước ở TP.HCM của Hồ Phi Long trường Đại học Bách
khoa TP.HCM)
hoặc buôn bán nhỏ ven sông, kênh rạch mà còn thực hiện với qui mô lớn. Cụ thể về
san lấp rạch Ông Kích với diện tích 45.000m
2
(Phường Tân Phong, Quận 7) do Công
ty PMH làm chủ đầu tư; trên kênh Tham Lương với diện tích 1.500m
2
do ông Trần
Văn Phước làm chủ đầu tư. Tháng 7-2004, Công ty cổ phần Đức Thành làm văn bản
xin được lấp toàn bộ rạch để thực hiện dự án xây dựng khu dân cư Hưng Long trên
địa bàn xã Hưng Long, huyện Bình Chánh (thuộc khu nam TP). Diện tích khu đất
của dự án là 40,82ha, trong đó đất kênh rạch chiếm 12.300m
2
….
Tình trạng lấn chiếm sông, kênh rạch trên địa bàn TP ngày càng phức tạp. TP
hiện có đến 182 vị trí bị lấn chiếm. Việc lấn chiếm sông, kênh rạch không chỉ có khả
năng làm xáo trộn dòng chảy, gây sạt lở bờ sông mà còn làm diện tích thoát nước tự
nhiên của TP đã ít nay càng ít hơn, khiến tình trạng ngập nước thêm phần nghiêm
trọng. Giáo sư Lê Huy Bá: “Chỉ tính từ năm 1990 đến năm 2004, TP có 47 trên tổng
số 100 tuyến kênh rạch lớn nhỏ với tổng diện tích khoảng 16,5 ha đã bị san lấp hoàn
toàn”. Vi phạm về lấn chiếm kênh rạch tăng đột biến từ đầu năm 2004 đến nay (52
vụ, tăng 4% so với cả năm 2003.
Tình trạng biến sông, kênh, rạch thành thùng rác: Theo Chi cục bảo vệ môi
trường TP.Hồ Chí Minh, chất lượng nước sông - kênh - rạch nội thành vẫn chưa
được cải thiện, ngược lại có xu hướng nhiễm bẩn ngày càng tăng, năm sau cao hơn
năm trước. Nguyên nhân ngoài các chất thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt của các
cơ sở sản xuất, các hộ dân chưa qua xử lý đổ thẳng ra sông rạch, còn có một nguyên
nhân quan trọng khác là lượng rác thải do người dân thiếu ý thức thải trực tiếp xuống
sông rạch ngày càng gia tăng. Cụ thể vào năm 2000 mỗi ngày các công nhân vệ sinh
vớt được khoảng 11 tấn rác trên các con sông, kênh, rạch nội thành, nhưng hiện nay
phải vớt trên 40 tấn rác/ngày tại các sông, kênh, rạch chính, còn rất nhiều kênh rạch