LUẬN VĂN:
Hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và
các khoản trích theo lương tại phòng Tài
chính-Kế hoạch huyện Phù Yên
Lời nói đầu
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường vận hành theo chế độ
XHCN có sự quản lý cuả Nhà nước, quản lý kinh tế tài chính luôn là tổng hoà các
mối quan hệ kinh tế. Nó có nhiệm vụ khai thác các nguồn kinh tế và quản lý hiệu
quả mọi nguồn lực. Đối với 1 đơn vị hành chính sự nghiệp để đáp ứng và giải quyết
công việc ngày ngày càng nhiều thì yêu cầu đặt ra trước mắt là cũng phải đi sâu vào
Phòng Tài chính-Kế hoạch huyện Phù Yên là một đơn vị hành chính với số
công nhân viên là 9 người. Việc hạch toán tốt lao động tiền lương sẽ giúp đơn vị đạt
được hiệu quả cao hơn trong công việc.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em xin chọn đề tài "Hoàn
thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại phòng Tài
chính-Kế hoạch huyện Phù Yên" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu của đề tài là vận dụng lý thuyết về hạch toán tiền lương và các khoản
trích theo lương em đã được học ở trường và nghiên cứu thực tiễn ở phòng Tài chính-
Kế hoạch Phù yên. Từ đó phân tích những điểm còn tồn tại nhằm góp phần vào việc
hoàn thiện công tác kế toàn tiền lương tại đơn vị.
Ngoài lời nói đầu và phần kết luận, luận văn thực tập được chia thành ba
Chương như sau:
Chương 1: Những lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích
theo lương trong đơn vị hành chính sự nghiệp.
Chương 2: Thực trạng kế toàn tiền lương và các khoản trích theo lương tại
phòng Tài chính-Kế hoạch huyện Phù Yên.
Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản
trích theo lương tại phòng Tài chính-Kế hoạch huyện Phù Yên. Chương 1
Lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong
đơn vị hành chính sự nghiệp
nhu cầu hoạt động của mình đồng thời thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh phí tại
đơn vị dưới sự hướng dẫn của đơn vị dự toán cấp trên.
- Đơn vị dự toán cấp trên của đơn vị cấp III được nhận kinh phí để thực hiện
phần công việc cụ thể, khi chi tiêu chỉ phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán
với các đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp
II và cấp II với cấp I.
- Tương ứng với các đơn vị dự toán nói trên, các bộ, ngành ở trung ương
thường có các vụ chế độ kế toán; các sở các ngành ở tỉnh, thành phố, quận, huyện
thường có các ban, các tổ , các bộ phận kế toán. Bộ máy kế toán của từng cấp này
thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi mà mình quản lý.
1.2- Những vấn đề chung về tiền lương:
1.2.1- Khái niệm và bản chất của tiền lương.
ở bất kỳ xã hội nào việc sản xuất ra của cải vật chất hoặc thực hiện các qui
trình trong đơn vị HCSN đều không tách khỏi lao động con người. Người lao động
làm việc trong các đơn vị HCSN đều nhận thù lao lao động dưới hình thức tiền
lương.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế phức tạp mang tính lịch sử và có ý nghĩa
to lớn. Ngược lại bản thân tiền lương cũng chịu tác động mạnh mẽ của xã hội, của
tư tưởng chính trị. Khái niệm tiền lương đã có từ lâu nhưng cho đến khi Chủ nghĩa
ra đời nó mới trở thành mang tính phổ thông. Trong XHCN, tiền lương là một tổng
giá trị sản phẩm xã hội dùng để phân chia cho người lao động theo nguyên tắc làm
theo năng lực hưởng theo lao động tiền lương đã mang một ý nghĩa tích cực tạo ra
cân bằng trong phân phối thu nhập quốc dân. Khái niệm tiền lưuơng đã thừa nhận
sức lao động là hàng hoá đặc biệt là đòi hỏi phải trả cho người lao động theo sự
đóng góp và cụ thể. Hiểu một cách chung nhất tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao
động cần thiết mà đơn vị phải trả cho người lao động theo tháng, ngày theo hệ
thống thang bảng lương Nhà nước quy định hay theo thời gian và khả năng lao động
Quỹ BHYT được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám, chữa bệnh,
viện phí, thuốc thang cho các cán bộ công nhân viên trong thời gian ốm đau, sinh
đẻ.
Kinh phí Công đoàn phục vụ chi tiêu cho hoạt động của tổ chức Công đoàn
nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi của người lao động.
* Vai trò của tiền lương.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử có ý nghĩa chính trị to
lớn đối với bất kỳ Quốc gia nào, tiền lương được rất nhiều người quan tâm kể cả
người tham gia lao động và không tham gia lao động trực tiếp.
Tiền lương có vai trò rất quan trọng đối với người lao động. Nó có thể đảm
bảo duy trì năng lực làm việc của người lao động một cách có hiệu quả. Bên cạnh
đó tiền lương đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động cả về vật chất lẫn
tinh thần, kích thích mối quan tâm với những người lao động và họ sẽ làm việc tốt
hơn. Như vậy tiềnl ương là nghiệp vụ quan trọng nó còn là giá cả sức lao động
chính là thước đo hao phí lao động của xã hội nói chung và từng đơn vị nói riêng.
Bên cạnh những vấn đề hết sức quan trọng về tiền lương thì nghiệp vụ phát
sinh giữa người lao động với các tổ chứuc xã hội cũng đóng vai trò rất cần thiết đó
là các khoản trích theo lương, BHXH, BHYT và KPCĐ. Đó là việc phân phối phần
giá trị mới do người lao động tạo ra, thực chất đó là sự đóng góp của nhiều người để
bù đắp cho một số người khi gặp rủi ro tai nạn, ốm đau, thai sản
Các khoản trích theo lương đảm bảo quyền lợi cho người lao động thực hiện
công bằng xã hội thu hẹp khoảng cách giàu nghèo khắc phục những mặt yếu của cơ
chế thị trường.
1.2.3. Các hình thức trả lương
Các đơn vị hành chính sự nghiệp không sản xuất áp dụng hình thức trả lương
theo thời gian, các hình thức trả lương theo thời gian:
1.2.3.1. Trả lương theo thời gian đơn giản
Chế độ trả lương theo thời gian đơn giản là chế độ trả lương mà tiền lương
nhận được của mỗi người công nhân do tiền lương cấp bậc cao hay thấp và thời
gian làm việc nhiều hay ít quyết định .
đã quy định.
Chế độ trả lương này nó nhiều ưu điểm hơn chế độ trả lương theo thời gian
đơn giản. Vì nó không những phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc
thực tế mà còn gắn chặt với thành tích công tác của từng người thông qua các chỉ
tiêu xét thưởng đã đạt được. Do đó nó khuyến khích người lao động quan tâm đến
trách nhiệm và kết quả công việc của mình. Cùng với ảnh hưởng của tiến bộ kỹ
thuật, chế độ trả lương này ngày càng mở rộng hơn. 1.2.3.3. Hình thức trả lương theo thời gian có xét đến hiệu quả công tác.
Đối với hình thức này, trả lương ngoài tiền lương cấp bậc mà mỗi người được
hưởng còn có thêm phần lương trả cho tính chất hiệu quả công việc thể hiện qua
phần lương theo trách nhiệm của mỗi người đó là sự đảm nhận công việc có tính
chất độc lập nhưng quyết định đến hiệu quả công tác của chính người đó.
1.3- Quỹ tiền lương, BHXH, BHYT và KPCĐ:
1.3.1. Quỹ tiền lương
Quỹ tiền lương trong đơn vị hành chính sự nghiệp là toàn bộ tiền lương của
đơn vị trả cho tất cả những loại lao động thuộc đơn vị quản lý và sử dụng. Thành
phần quỹ lương bao gồm các khoản chủ yếu là tiền lương trả cho người lao động
trong thời gian thực tế làm việc, tiền lương trả cho người lao động trong thời gian
ngừng việc nghỉ phép hoặc đi học, các loại tiền thưởng, các khoản phụ cấp thường
xuyên (phụ cấp khu vực, phụ cấp trách nhiệm…). Kế toán phân loại quỹ tiền lương
của đơn vị thành 2 loại cơ bản:
- Tiền lương chính là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm
nhiệm vụ chính đã quy định bao gồm: Tiền lương cấp bậc, các khoản phụ cấp
thường xuyên và tiền thưởng.
- Tiền lương phụ là tiền lương phải cho người lao động trong thời gian không
làm nhiệm vụ chính nhưng vẫn được hưởng theo chế độ quy định như tiền lương trả
cho người lao động trong thời gian nghỉ phép, thời gian đi làm nghĩa vụ xã hội, đi
họp, đi học.
Các đơn vị phải nộp BHXH trích trong kỳ và quỹ cho cơ quan BHXH quản
lý (qua TK tại kho bạc).
1.3.3. Bảo hiểm y tế
Xã hội ngày càng phát triển con người ngày càng liên kết với nhau dựa trên
quan điểm "mình vì mọi người, mọi người vì mình". Mỗi cá nhân, xã hội luôn
tương trợ lẫn nhau, một trong các hình thức tương trợ đó là BHYT.
BHYT là sự đảm bảo cho sự thay thế hoặc bù đắp một phần chi phí khám chữa
bệnh cho người lao động khi họ gặp rủi ro, ốm đau, tai nạn… bằng cách hình thành
và sử dụng một quỹ tài chính tập trung nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người lao động.
* Quỹ BHYT
Quỹ BHYT là quỹ được sử dụng để trợ cấp cho những người có tham gia đóng
góp qũy trong các hoạt động khám, chữa bệnh theo chế độ hiện hành. Quỹ BHYT được trích bằng 3% trên tổng thu nhập của người lao động, trong đó người lao động
trực tiếp nộp 1% (trừ vào thu nhập của họ), 2% do ngân sách Nhà nước cấp.
Quỹ BHYT do cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao
động thông qua mạng lưới y tế. Vì vậy khi trích BHYT các đơn vị phải nộp cho cơ
quan BHYT (qua tài khoản tại Kho bạc).
1.3.4. Kinh phí Công đoàn
Công đoàn là một đoàn thể đại diện cho người lao động nói tiếng nói chung
của người lao động đứng ra đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Đồng
thời công đoàn cũng trực tiếp hướng dẫn điều chỉnh thái độ người lao động đối với
công việc, người sử dụng lao động đối với công việc. Kinh phí công đoàn là nguồn
tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp theo chế độ tài chính hiện hành, kinh phí
công đoàn được trích theo tỷ lệ 2% trên tổng số tiền lương phải trả cho người lao
động, ngân sách Nhà nước cấp toàn bộ 2%.
1.4- Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
1.4.1- Chứng từ sử dụng.
- Số sinh hoạt phí, học bổng trả cho sinh viên và các đối tượng khác.
Số dư bên có: Các khoản còn phải trả cho công chức, viên chức, sinh viên và
các đối tượng khác trong đơn vị.
TK 334: Phải trả viên chức, chi tiết thành 2 TK cấp 2
TK 3341: Phải trả viên chức Nhà nước phản ánh tình hình thanh toán với công
chức, viên chức trong đơn vị về các khoản tiền lương, phụ cấp và các khoản phải trả
khác.
TK 3384: Phải trả các đối tượng khác: Phản ánh tình hình thanh toán với các
đối tượng khác trong đơn vị ngoài số viên chức Nhà nước về các khoản như: Học
bổng, sinh hoạt phí trả cho sinh viên, học sinh, tiền trợ cấp thanh toán với các đối
tượng hưởng chính sách.
TK 332 - "Các khoản phải nộp theo lương": để phản ánh tình hình trích, nộp
và thanh toán BHXH - BHYT của đơn vị với người lao động trong đơn vị và các cơ
quan quản lý xã hội.
Kết cấu và nội dung ghi chép của TK 332 như sau:
Bên nợ:
- Số BHXH, BHYT, KPCĐ đã nộp cho cơ quan quản lý
- Số BHXH chi trả cho những người được hưởng BHXH tại đơn vị - Chi tiêu KPCĐ tại đơn vị.
Bên có:
- BHXH, BHYT, KPCĐ tính vào chi phí của đơn vị
- BHYT, BHXH tính khấu trừ vào lương của người lao động
- Số KPCĐ nhận được từ cơ quan cấp trên dùng để chi tiêu cho hoạt động
công đoàn tại cơ sở.
- Số tiền BHXH nhận được từ cơ quan cấp trên dùng để chi tiêu cho hoạt động
công đoàn tại cơ sở.
- Số tiền BHXH nhận được từ cơ quan bảo hiểm dùng để chi trả cho các đối
tượng được hưởng theo quy định.
Có TK 3118 - Các khoản phải thu
- Nghiệp vụ 4: Khi có quyết định trích quỹ cơ quan để thưởng cho viên chức
và các đối tượng khác.
+ Phản ánh số trích để thưởng
Nợ TK 431 - Quỹ cơ quan
Có TK 334 - Phải trả viên chức
+ Khoản chi thưởng cho viên chức và các đối tượng khác
Nợ TK 334 - Phải trả viên chức
Có TK 3321, 3322 - Các khoản phải nộp theo lương
- Nghiệp vụ 6: Số BHXH phải trả cho viên chức tại đơn vị theo chế độ quy
định.
Nợ TK 3321 - Các khoản phải nộp theo lương
Có TK 334 - Phải trả viên chức
- Nghiệp vụ 7: Đối với đơn vị trả trợ cấp cho các đối tượng chính sách
+ Khi chi trả
Nợ TK 334 - Phải trả viên chức
Có TK 111 - Tiền mặt
+ Cuối kỳ chi trả xong kết chuyển số chi thực tế vào chi hoạt động
Nợ TK 661 - Chi hoạt động
Có TK 334 - Phải trả viên chức Sơ đồ 1: Hạch toán tổng hợp về tiền lương
TK 111
Thanh toán lương,
phụ
cấp, tiền thưởng
và các khoản khác
TK 331, 312, 332
Khấu trừ lương,
các
khoản phải thu,
tạm ứng, BHXH,
BHYT
Rút hạn mức kinh phí
chi
Xuất quỹ nộp BHXH, BHYTLương và phụ cấp phải trả VC ghi chi thường xuyên
TK 431
Tiền quỹ
Trường hợp nộp thẳng khi rút HMKP thì ghi có TK 008 - Hạn mức kinh phí
- Nghiệp vụ 4: Khi nhận được số tiền cơ quan BHXH cấp cho đơn vị để chi trả
cho các đối tượng hưởng BHXH
Nợ TK 111, 112 - Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
Có TK 3321 - Các khoản phải nộp theo lương
- Nghiệp vụ 5: Khi nhận được số tiền phạt nộp chậm số tiền BHXH phải nộp
ghi:
Nợ TK 3118 - Các khoản phải thu
Nợ TK 661 - Chi hoạt động
Có TK 3321 - Các khoản phải nộp theo lương
- Nghiệp vụ 6: BHXH phải trả cho công chức, viên chức theo chế độ quy định
Nợ TK 3321 - Các khoản phải nộp theo lương
Có TK 334 - Phải trả viên chức
- Nghiệp vụ 7: Khi trả BHXH cho viên chức tại đơn vị
Nợ TK 334 - Phải trả viên chức
Có TK 111, 112 - Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng - Nghiệp vụ 8: Trường hợp tiếp nhận KPCĐ do cơ quan kinh phí công đoàn
cấp trên cấp.
Nợ TK 111, 112 - Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
Có TK 3323 - Kinh phí công đoàn
- Nghiệp vụ 9: Khi chi tiêu KPCĐ cho các hoạt động công đoàn tại trụ sở
Nợ TK 3323 - Kinh phí công đoàn
Có TK 111, 112 - Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.
Sơ đồ 2: Hạch toán tổng hợp các khoản trích theo lương như sau
TK 334
BHXH, BHYT khấu trừ vào lương
TK 111,
112
Tr
ợ cấp
BHXH, KPCĐ
Thanh toán
trợ cấp
Hoặc đư
ợc
thanh toán
BHYT
BHXH phải trả theo chế độ
quy
đ
ịnh
đ
ã chi tr
ả
Chứng từ gốc:
- Bảng chấm công
- Bảng thành toán
BHXH
-
B
ảng thanh
toán
Nhật ký chung
Sổ cái 334, 332
B
ảng tổng hợp chi tiết
Sổ, thẻ kế toán chi
tiết
báo cáo tài chính
ật ký sổ cái
Báo cáo tài chính
và báo cáo về lao
đ
ộng tiền l
ương
Bảng tổng hợp chi
ti
ết
Sổ, thẻ kế toán
chi tiết
TK 334, TK 332
Sơ đồ hạch toán tiền lương theo hình thức CT-GS
S
ố tài khoản
B
ảng cân
đ
ối phát
Báo cáo tài chính
và báo cáo v
ề lao
Bảng tổng hợp
chi ti
ết
Số thẻ kế toán
chi tiết
TK 334, TK 332
Số đăng
ký
Chứng từ gốc
- Bảng chấm công
- Bảng thanh toán
BHXH
-
B
ảng thanh toán
Chương 2
Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản
trích theo lương tại phòng Tài chính-kế hoạch huyện Phù Yên
2.1- Tổng quát về phòng Tài chính-Kế hoạch huyện Phù Yên.
2.1.1- Quá trình hình thành và phát triển.
Cùng với sự hình thành và phát triển của cách mạng Việt Nam, ngày
03/02/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đánh
đuổi và chiến thắng 2 tên đế quốc là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Ngay từ những ngày đầu để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, cùng với sự hình
thành của bộ máy hành chính Nhà nước, Đảng ta đứng đầu là Hồ Chủ tịch đã ký
quyết định thành lập ngành tài chính vào ngày 28/10/1930 người được giao giữ
chức vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính đầu tiên là cố thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ ngày
07/5/1954 trước đó một số tỉnh thuộc khu Tây bắc lần lượt được giải phóng. Tỉnh
Sơn La giải phóng ngày 18/10/1952. Ngày 18/10/1952 huyện Phù Yên đã được giải
phóng và ngày nay cũng chính là ngày thành lập Châu Phù Yên thuộc khu tự trị
Thái Mèo tức là (huyện Phù Yên thuộc tỉnh Sơn La) ngày nay, cũng ngày này cùng
với sự hình thành của bộ máy các cơ quan hành chính Nhà nước cấp huyện ra đời và
phòng Tài chính huyện cũng được thành lập từ đó tính tới nay quá trình hoạt động
và phát triển đã được 53 năm.
Phù Yên là một huyện miền núi phía Đông Bắc của tỉnh Sơn La, là một tỉnh
nghèo và chậm phát triển nhất so với cả nước, huyện Phù Yên có 5 dân tộc sinh
sống là: Dân tộc Dao, Mường, Thái, Kinh và H'Mông.
Cán bộ công nhân viên chức thuộc khối hành chính sự nghiệp làm công ăn
lương, nguồn thu chủ yếu từ ngân sách Trung ương cấp là 80 % còn lại 20 % là thu
trên địa bàn. Ngay từ ngày đầu phòng Tài chính Phù Yên đã tham mưu cho Uỷ ban
nhân dân huyện hoạt động trên các lĩnh vực:
- Cân đối thu chi ngân sách
- ổn định tài chính giá cả Trưởng
phòng
Phó phòng
Kế hoạch
Phó phòng
Tài chính
Bộ phận kế
toán
ngân sách
Bộ phận kế
toán
ti
ền l
ương
Bộ phận kế
toán
ngân sách
Chuyên
Chuyên viên