BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
––––––––––––––––––––––––
ĐỀ ÁN
TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG,
AN TOÀN THỰC PHẨM NÔNG LÂM THỦY SẢN VÀ MUỐI
TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG GIAI ĐOẠN 2011-2015
(Kèm theo Tờ trình số 857/TTr-BNN
Ngày 31 tháng 3 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Hà Nội, tháng 3 năm 2011
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC ii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
I. Bối cảnh và sự cần thiết xây dựng đề án 1
II. Cơ sở pháp lý xây dựng đề án: 4
III. Phạm vi của đề án: 5
PHẦN 1. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG AN
TOÀN THỰC PHẨM NÔNG LÂM THỦY SẢN 6
I. Hệ thống văn bản QPPL, tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật quản lý an toàn thực
phẩm 6
II. Hệ thống tổ chức quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản 7
III. Nguồn nhân lực 9
IV. Về cơ sở vật chất và đầu tư cho quản lý chất lượng, ATTP 10
V. Về cơ chế tài chính 12
PHẦN 2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC QUẢN
LÝ CHẤT LƯỢNG AN TOÀN THỰC PHẨM NÔNG LÂM THỦY SẢN 13
I. MỤC TIÊU CHUNG 13
II. MỤC TIÊU CỤ THỂ ĐẾN 2015 14
III. NHIỆM VỤ 14
23. IPPC Công ước bảo vệ thực vật quốc tế
24. ISO Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế
25. NAFIQAD Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản
26. NLTS&M Nông lâm thủy sản và muối
27. NTTS Nuôi trồng thủy sản
28. QLCL Quản lý chất lượng
29. QPPL Quy phạm pháp luật
30. SSOP Quy phạm vệ sinh chuẩn
31. SPS Vệ sinh và kiểm dịch động thực vật
32. TBT Hàng rào kỹ thuật về thương mại
33. TCN Tiêu chuẩn ngành
34. VASEP Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
35. Vụ KHCN Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường
36. WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
iii
BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
––––––––––––––––
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2011
ĐỀ ÁN
TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG,
AN TOÀN THỰC PHẨM NÔNG LÂM THỦY SẢN VÀ MUỐI
TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG GIAI ĐOẠN 2011-2015
–––––––––––––––––––––––
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh và sự cần thiết xây dựng đề án.
Ở Việt Nam, thực phẩm không đảm bảo an toàn đã dẫn đến hàng ngàn lượt
Quán triệt ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng,
ATTP, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chú trọng xây dựng các cơ chế
chính sách và chỉ đạo triển khai các biện pháp tăng cường kiểm soát, từng bước
cải thiện việc quản lý chất lượng, ATTP nông lâm sản và thủy sản. Tuy nhiên bên
cạnh những kết quả đạt được cũng còn những tồn tại hạn chế, chưa đáp ứng được
yêu cầu ngày càng cao của xã hội, còn nhiều vấn đề về chất lượng và ATTP chưa
được giải quyết triệt để, khả năng cạnh tranh của nhiều mặt hàng nông sản, thủy
sản Việt Nam còn chưa ổn định trên thị trường quốc tế, đơn cử:
Tình trạng ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh trong thịt và sản phẩm thịt còn ở
mức cao. Kết quả kiểm tra ô nhiễm vi sinh vật trong 269 mẫu thịt gia súc, gia cầm
tại các cơ sở giết mổ tại 41 tỉnh/thành phố trong phạm vi cả nước cho thấy:
28,62% mẫu thịt lợn, thịt gà được kiểm tra bị nhiễm Salmonella; 26,76% mẫu thịt
nhiễm Staphylococcus aureus lớn hơn giới hạn cho phép. Tại các cơ sở kinh
doanh, kết quả kiểm tra ô nhiễm vi sinh vật trong 105 mẫu thịt gia súc, gia cầm tại
41 tỉnh/thành phố trong phạm vi cả nước cho thấy 30,48% mẫu thịt nhiễm
Salmonella; 33,33% mẫu thịt nhiễm Staphylococcus aureus lớn hơn giới hạn cho
phép. Bên cạnh tình trạng ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh trong sản phẩm thịt, tình
trạng ô nhiễm hóa chất cấm như Salbutamol và Clenbuterol vẫn còn tồn tại.
Hiện nay nước ta sản xuất khoảng 12 triệu tấn rau các loại. Tuy nhiên diện
tích đất đủ điều kiện trồng rau an toàn mới chỉ đạt 8,5% tổng diện tích rau cả
nước, diện tích trồng cây ăn quả an toàn đạt khoảng 20%, số còn lại do sản xuất
nhỏ lẻ, không trong vùng quy hoạch nên khó kiểm soát về chất lượng. Số mô hình
sản xuất quả an toàn theo hướng GAP đã được chứng nhận đạt tiêu chuẩn GAP còn
hết sức hạn chế. Kết quả kiểm tra dư lượng thuốc BVTV năm 2009 trong 512 mẫu
rau tại các cơ sở sản xuất và kinh doanh rau tại 40 tỉnh/thành phố trong phạm vi
cả nước cho thấy có 33 mẫu có dư lượng thuốc BVTV vượt quá giới hạn dư lượng
cho phép, chiếm tỷ lệ 6,44%, trong đó tại cơ sở sản xuất phát hiện 6,86% mẫu rau
2
có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá giới hạn cho phép, tại cơ sở kinh
doanh là 5,26%.
hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản và muối là
yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Căn cứ Luật ATTP số 55/2010/QH12, Nghị quyết số 34/2009/QH12 ngày
19/6/2009 của Quốc hội khóa XII về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về
3
quản lý chất lượng, ATTP, Quyết định số 734/QĐ-TTg ngày 25/5/2010 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số
34/2009/QH12, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) xây dựng
Đề án “Tăng cường năng lực quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm
thủy sản và muối từ trung ương đến địa phương giai đoạn 2011-2015” nhằm
xác định lộ trình và các giải pháp kiện toàn, tăng cường năng lực quản lý chất
lượng an toàn vệ sinh nông, lâm, thủy sản và muối.
II. Cơ sở pháp lý xây dựng đề án:
- Nghị quyết số 34/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khóa XII về
đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, ATTP;
- Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12; Luật Chất lượng sản phẩm
hàng hóa; Luật Tiêu chuẩn và Qui chuẩn kỹ thuật và các Nghị định hướng dẫn thi
hành;
- Pháp lệnh Thú y; Pháp lệnh BVTV; Pháp lệnh giống cây trồng; Pháp lệnh
giống vật nuôi; Luật Thủy sản và các Nghị định hướng dẫn thi hành;
- Nghị định 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 và Nghị định số
75/2009/NĐ-CP ngày 10/9/2009 của Chính phủ sửa đổi Điều 3 Nghị định số
01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
- Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;
- Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá; Nghị định số 67/2009/NĐ-
CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và
cường năng lực quản lý của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước an toàn thực
phẩm nông lâm thủy sản và muối thuộc phạm vi quản lý của Ngành NN&PTNT,
bao gồm:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý an toàn thực phẩm;
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý chất lượng an toàn thực phẩm nông
lâm thủy sản; phân công, phân cấp quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm trong
phạm vi quản lý;
- Tăng cường năng lực và phát triển nguồn nhân lực;
- Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật;
- Đảm bảo năng lực về tài chính.
5
PHẦN 1. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG AN
TOÀN THỰC PHẨM NÔNG LÂM THỦY SẢN
I. Hệ thống văn bản QPPL, tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật quản lý an
toàn thực phẩm.
Hệ thống văn bản QPPL của Việt Nam về chất lượng, an toàn thực phẩm
(ATTP) đã và đang được sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện. Các luật, pháp
lệnh điều chỉnh về chất lượng, ATTP đã được xây dựng và sửa đổi như Luật An
toàn thực phẩm (2010), Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (năm 2007), Luật
Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (năm 2006), Pháp lệnh Thú y (sửa đổi, năm
2004).
Nhìn chung số lượng văn bản QPPL quản lý chất lượng nông, lâm thủy sản
được ban hành khá lớn, về cơ bản tạo cơ sở pháp lý để triển khai các hoạt động
quản lý. Chỉ tính các văn bản QPPL do cơ quan trung ương ban hành, cả nước
hiện có khoảng 259 văn bản điều chỉnh vấn đề về chất lượng, vệ sinh ATTP,
trong đó có 19 văn bản do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành; 67
văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và 173 văn bản do bộ,
ngành ban hành (19 luật, pháp lệnh; 39 nghị định; 44 thông tư; 137 quyết định và
20 chỉ thị).
Tuy số lượng các văn bản QPPL lớn nhưng phạm vi và mức độ điều
phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác theo quy định của
Chính phủ.
1. Cấp Trung ương:
Do tính chất đa ngành, công tác quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy
sản hiện nay được phân công cho nhiều đơn vị thuộc Bộ thực hiện, về cơ bản đã
bao quát toàn bộ quá trình sản xuất nông lâm thủy sản theo 3 chuỗi ngành hàng
động vật và sản phẩm động vật, thực vật và sản phẩm thực vật, thủy sản và sản
phẩm thủy sản. Tại cấp Trung ương, công tác đảm bảo ATTP được giao cho 2
Tổng Cục và 06 Cục chuyên ngành
1
, trong đó Cục QLCLNLS&TS thực hiện vai
trò đầu mối. Các Tổng cục, Cục quản lý chuyên ngành về cơ bản đã có bộ máy tổ
chức quản lý và các tổ chức sự nghiệp phục vụ quản lý nhà nước.
Nhìn chung bộ máy tổ chức quản lý chất lượng nông lâm thủy sản ở cấp
Trung ương đã được hình thành để triển khai nhiệm vụ quản lý ATTP trong toàn
bộ quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển,
xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các nhóm ngành hàng thực phẩm thuộc
phạm vi quản lý của Bộ NN&PTNT. Riêng hệ thống thanh tra chuyên ngành về
1
Tổng Cục thủy sản, Tổng Cục Lâm nghiệp, Cục Bảo vệ thực vật, Cục Chăn nuôi, Cục Thú y, Cục Chế biến
thương mại Nông Lâm Thủy sản và Nghề muối, Cục Trồng trọt; Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy
sản.
7
ATTP chưa được hình thành đủ gây khó khăn cho công tác quản lý dẫn đến hiệu
quả quản lý chưa cao, chưa theo kịp được với sự phát triển của xã hội.
Hơn nữa, Luật An toàn thực phẩm (2010) đã mở rộng phạm vi và trách
nhiệm quản lý an toàn thực phẩm của Bộ NN&PTNT trên 9 nhóm ngành hàng và
toàn bộ chuỗi sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu. Để bảo vệ sức khỏe
nhân dân và đưa sản phẩm nông nghiệp xâm nhập thị trường thế giới, bộ máy
quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm cần được kiện toàn, tổ chức thực hiện
quan, đơn vị còn nhiều nội dung chưa rõ, dẫn đến sự chồng chéo trong thực hiện
nhiệm vụ, quản lý không hiệu quả. Tổ chức ở cấp huyện và cấp xã chưa đủ năng
lực để triển khai nhiệm vụ. Hệ thống thanh tra chuyên ngành về ATTP tại địa
phương gần như chưa hình thành nên việc thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra
của các địa phương còn hạn chế.
Phân cấp quản lý giữa các cấp trong hệ thống còn có điểm cần làm rõ để
thuận lợi cho thực hiện; một số lĩnh vực chưa phân cấp mạnh cho địa phương
hoặc phân cấp chưa phát huy mạnh vai trò của các cơ quan chức năng địa phương.
III. Nguồn nhân lực
1. Cấp Trung ương
Tổng số cán bộ làm công tác về ATTP tại các cơ quan thuộc Bộ NN&PTNT
khoảng 600 người, trong đó tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học là
80%.
Công tác đào tạo cán bộ được chú trọng do vậy hầu hết cán bộ đều nắm
vững chuyên môn, nghiệp vụ, chủ động trong công việc. Tuy nhiên, do số lượng
cán bộ còn thiếu nên ở một số Cục chuyên ngành, nhiệm vụ quản lý chất lượng,
ATTP được giao lồng ghép cho các bộ phận và cán bộ chuyên môn lĩnh vực khác
trong quá trình giao chức năng, nhiệm vụ và xây dựng kế hoạch hoạt động
Việc lồng ghép nhiệm vụ cũng có mặt thuận lợi do gắn kết được nhiệm vụ
quản lý chất lượng, ATTP với chỉ đạo sản xuất nông lâm thủy sản. Tuy nhiên,
cũng có hạn chế vì nhiệm vụ quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản chưa
được xác định là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, chưa hình thành đầu mối chịu trách
nhiệm chính với nguồn lực phù hợp. Hơn nữa hiện chưa có hệ thống tiêu chuẩn
chức danh làm căn cứ tuyển dụng, đào tạo chuẩn hóa đội ngũ cán bộ. Chưa có hệ
thống đào tạo chuyên ngành về quản lý chất lượng.
2. Cấp Tỉnh:
Theo Báo cáo giám sát số 225/BC/BC-UBTVQH12 về việc thực hiện chính
sách pháp luật về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, nhân lực tham
gia công tác quản lý chất lượng ATTP cấp tỉnh ước khoảng 1.970 người, cấp
huyện là 1.949 người và cấp xã là 11.516 người.
cơ bản đã được đầu tư xây dựng trụ sở làm việc (Bao gồm cả các đơn vị trực
thuộc).
Các Phòng kiểm nghiệm phục vụ quản lý nhà nước của các Cục chuyên
ngành đã được xây dựng và được trang bị thiết bị kiểm nghiệm, khảo nghiệm các
10
chỉ tiêu về chất lượng thuốc thú y, thuốc BVTV, thức ăn chăn nuôi, và một số chỉ
tiêu ATTP (vi sinh vật, dư lượng thuốc thú y, dư lượng thuốc BVTV,…);
6 Trung tâm vùng thuộc Cục Quản lý CLNLTS được trang bị các phòng
kiểm nghiệm khá hiện đại về vi sinh, sinh học phân tử, hóa học thông thường, hóa
học đặc biệt có đủ khả năng phân tích 90% các chỉ tiêu ATTP thủy sản, khoảng
70% các chỉ tiêu ATTP đối với nông sản. Các phòng kiểm nghiệm này đều đã
được công nhận hợp chuẩn ISO 17025 cấp quốc gia và quốc tế, được cơ quan
thẩm quyền EU, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản công nhận.
Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu quản lý ATTP hài hòa với các chuẩn mực
quốc tế, các phòng kiểm nghiệm này cần được đầu tư bổ sung về diện tích lắp đặt
thiết bị, bổ sung thiết bị hiện đại kiểm nghiệm các chỉ tiêu dư lượng vi lượng với
giới hạn phát hiện thấp. Các thiết bị lạc hậu, đã hết thời gian khấu hao cần thay
thế để đảm bảo chất lượng hoạt động thử nghiệm. Mặt khác cần đẩy mạnh các
biện pháp để xã hội hóa để phát huy các nguồn lực xã hội cho nhóm dịch vụ kỹ
thuật này.
Theo Luật An toàn thực phẩm, nhà nước cần đầu tư các hệ thống kiểm
nghiệm kiểm chứng về an toàn thực phẩm. Hiện Ngành nông nghiệp chưa được
đầu tư hệ thống kiểm chứng làm cơ sở giải quyết tranh chấp, nghiên cứu, đào tạo
chuyên sâu về các lĩnh vực kiểm nghiệm chuyên ngành.
2. Cấp tỉnh:
Chi Cục Thú y, Chi cục BVTV, Chi Cục Quản lý chất lượng thủy sản (1 số
tỉnh) đã được đầu tư, bố trí trụ sở làm việc và trang bị phòng kiểm nghiệm ở qui
mô nhỏ, tập trung vào một số chỉ tiêu mang tính chẩn đoán, sàng lọc phục vụ
kiểm soát thường xuyên và kiểm tra ban đầu.
Với tính chất đặc thù của quản lý an toàn thực phẩm luôn gắn kết chặt chẽ
các phương thức tiếp cận khác nhau trong một số lĩnh vực như phân tích nguy cơ
và xử lý sản phẩm.
V. Về cơ chế tài chính
1. Cấp Trung ương:
Các Tổng cục, Cục chuyên ngành thuộc Bộ NN&PTNT ngoài nguồn ngân
sách hoạt động được cấp hàng năm theo định mức hiện được thu phí và lệ phí
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý theo qui định của Bộ Tài chính và một
số nguồn khác theo Chương trình mục tiêu, các dự án sử dụng ngân sách và một
số dự án nước ngoài.
Hầu hết các cơ quan đều gặp khó khăn do nguồn kinh phí hạn hẹp, không
đảm bảo để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ chuyên môn theo chức năng nhiệm vụ
và yêu cầu quản lý. Cơ chế, nội dung và mức thu phí và lệ phí chưa bao quát toàn
diện các nội dung, nhiều hoạt động có chi phí lớn nhưng mức thu thấp hoặc không
thu phí cũng gây khó khăn rất lớn cho khả năng cân đối nguồn kinh phí.
12
Các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc Bộ áp dụng cơ
chế tài chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 đối với đơn vị
quản lý nhà nước. Riêng Cục BVTV, Cục Thú y và Cục QLCL NLS&TS được
cho phép vận dụng cơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2010-2012 theo Nghị định
43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006.
2. Cấp địa phương:
Các đơn vị đều áp dụng cơ chế tài chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-
CP ngày 17/10/2005. Trong khi đó kinh phí đầu tư cho công tác quản lý ATTP là
rất thấp, chỉ có một số ít tỉnh có đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương cho hoạt
động này, gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước về ATTP tại địa phương.
Các qui định về phí, lệ phí chưa chú trọng các nội dung thu cho các hoạt
động thực hiện ở cấp địa phương. Hầu hết là các loại lệ phí với mức thu rất thấp,
không đủ bù chi.
Cấp huyện và cấp xã hầu như không có kinh phí riêng cho hoạt động quản
1. Kiện toàn, củng cố bộ máy tổ chức quản lý chất lượng, an toàn thực
phẩm nông, lâm, thủy sản và muối ở Trung ương và các địa phương
a) Mục tiêu: Nâng cao năng lực quản lý của cơ quan nhà nước từ Trung
ương đến các địa phương, đảm bảo yêu cầu quản lý, phù hợp với sự phát triển của
ngành và hội nhập trong thời gian tới.
b) Nội dung:
- Rà soát, đánh giá lại bộ máy tổ chức bộ máy ở Trung ương và các địa
phương;
- Nghiên cứu một số mô hình của các nước tiên tiến và các nước có điều
kiện phát triển tương đồng.
- Kiện toàn bộ máy, sửa đổi, bổ sung chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức
của cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy
sản và muối của Bộ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo hướng
quản lý thống nhất từ trang trại đến bàn ăn theo từng chuỗi ngành hàng thuộc
trách nhiệm quản lý của Bộ;
- Xây dựng khung định biên nhân lực theo vị trí việc làm và bổ sung đủ
biên chế cho hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản
ở Trung ương và địa phương.
- Xây dựng cơ chế điều phối, phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước
về chất lượng, an toàn thực phẩm thuộc Bộ và địa phương.
14
- Phân cấp rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước về chất lượng, an toàn thực phẩm
nông, lâm, thủy sản và muối cho Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh, huyện, xã.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và
thủy sản các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Thí điểm thành lập đơn vị sự
nghiệp trực thuộc Chi cục Quản lý Chất lượng nông lâm sản và thủy sản thực hiện
dịch vụ công về tư vấn, bồi dưỡng kiến thức, kiểm nghiệm, chứng nhận quá trình
và sản phẩm nông lâm thủy sản.
c) Thời gian thực hiện: 2011-2012
2. Xây dựng và nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm soát chất lượng, an
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật thi hành Luật An toàn thực phẩm, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
- Cập nhật, bổ sung các quy định mới có liên quan của quốc gia và quốc tế
trong quá trình nghiên cứu ban hành văn bản mới.
- Rà soát, chuyển đổi, xây dựng mới các quy chuẩn kỹ thuật đối với quá
trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh, đảm bảo 100% các qui chuẩn kỹ
thuật quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản và muối ban
hành mới phù hợp với tiêu chuẩn, và quy định quốc tế, đáp ứng các cam kết gia
nhập WTO.
c) Thời gian thực hiện: 2011-2012
4. Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng tiên tiến, hiện đại
a) Mục tiêu: Xây dựng, hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho cơ quan quản
lý nhà nước, lực lượng kiểm soát theo hướng tiên tiến, hiện đại phục vụ công tác
quản lý và kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm phù hợp với sự phát triển của
ngành và hội nhập kinh tế trong thời gian tới.
b) Nội dung:
- Đầu tư, xây dựng mới 1-2 phòng kiểm nghiệm kiểm chứng quốc gia về
chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản tương đương chuẩn mực khu
vực, tham gia hệ thống phòng kiểm nghiệm kiểm chứng ASEAN.
- Nâng cấp một số phòng kiểm nghiệm chuyên ngành thuộc Cục Quản lý
Chất lượng nông lâm sản và Thủy sản, Cục Thú y, Cục Bảo vệ thực vật thành các
phòng kiểm nghiệm kiểm chứng quốc gia các nhóm chỉ tiêu chất lượng, an toàn
thực phẩm các nhóm ngành hàng thủy sản, động vật, thực vật theo qui định của
Luật An toàn thực phẩm.
- Tăng cường năng lực các phòng kiểm nghiệm chuyên ngành ở cấp trung
ương thuộc các Cục, Tổng cục đủ năng lực để phân tích 100% chỉ tiêu chất lượng,
an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản và muối ở cấp Trung ương và được công
nhận đạt tiêu chuẩn TCVN/ISO 17025.
16
- Thí điểm xây dựng mô hình kiểm tra, kiểm nghiệm chất lượng, an toàn
17
- Đẩy mạnh việc phân cấp quản lý, kiểm soát cho các cấp của địa phương
và tăng cường sự tham gia của các lực lượng xã hội.
- Bố trí cán bộ chuyên trách công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm
nông, lâm, thủy sản và muối ở Phòng Nông nghiệp huyện, Phòng Kinh tế quận.
Đào tạo và giao nhiệm vụ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy
sản và muối cho Ban Nông nghiệp, nhân viên thú y, nhân viên bảo vệ thực vật,
nhân viên khuyến nông-khuyến ngư xã. Nghiên cứu mô hình cộng tác viên giám
sát chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản ở cấp huyện/xã.
- Xây dựng mô hình quản lý và kiểm soát từ cơ sở sản xuất.
- Khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng các
phòng kiểm nghiệm, cung ứng dịch vụ tư vấn, đào tạo, chứng nhận.
3. Đào tạo nguồn nhân lực
- Khảo sát, đánh giá nhu cầu đào tạo ở các cấp quản lý, kiểm soát, cơ sở sản
xuất, kinh doanh.
- Tăng cường các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của
cán bộ, công chức về chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu
dài đối với công tác quản lý an toàn thực phẩm ở Trung ương và địa phương.
- Thường xuyên tổ chức cập nhật, bổ túc, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao
trình độ cho công chức quản lý, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ về các chính sách,
qui định mới có liên quan của Việt Nam và quốc tế.
- Tăng cường tổ chức các khoá bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ngắn
ngày cho cán bộ chuyên trách ở cấp huyện, xã và các đối tượng là lực lượng kiểm
soát, nhân viên, cán bộ làm việc tại các cơ sở sản xuất.
- Xây dựng chương trình đào tạo chuyên ngành về chất lượng, an toàn thực
phẩm nông lâm thủy sản tại các Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên
nghiệp.
4. Cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin:
- Xây dựng và đưa vào hoạt động cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin toàn
ngành về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản và muối đảm bảo
Đầu tư xây dựng mới, nâng cấp mở rộng diện tích, mua sắm thiết bị, đào
tạo nhân sự, thuê chuyên gia nước ngoài, với các Tiểu dự án sau:
Tiểu dự án 1: Đầu tư, xây dựng mới 1-2 phòng kiểm nghiệm kiểm chứng
quốc gia về chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản tương đương
chuẩn mực khu vực
Tiểu Dự án 2: Nâng cấp một số phòng kiểm nghiệm chuyên ngành thuộc
Cục Quản lý Chất lượng nông lâm sản và Thủy sản, Cục Thú y, Cục Bảo vệ thực
vật thành các phòng kiểm nghiệm kiểm chứng quốc gia
19
Tiểu Dự án 3: Tăng cường năng lực các phòng kiểm nghiệm chuyên ngành
ở cấp trung ương thuộc các Cục, Tổng cục (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn) đủ năng lực phân tích 100% chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm nông
lâm thủy sản và muối ở cấp Trung ương.
Tiểu Dự án 4: Xây dựng phòng kiểm nghiệm, kiểm tra nhanh chất lượng, an
toàn thực phẩm nông lâm thủy sản nhập khẩu thí điểm tại một số cửa khẩu trọng
điểm.
Tiểu Dự án 5: Xây dựng phòng kiểm nghiệm cơ bản cho các Chi cục Quản
lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản ở các tỉnh, thành phố
d) Kinh phí dự kiến: 1690 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương, ngân sách địa
phương, nguồn ODA (viện trợ không hoàn lại và vốn vay ưu đãi) và các
nguồn khác.
e) Thời gian thực hiện: 2012-2015
2. Dự án 2: “Đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống thông tin
cảnh báo nguy cơ về an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản và muối từ Trung
ương đến địa phương và cơ sở”.
a) Cơ quan chủ trì và quản lý Dự án: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
b) Cơ quan phối hợp: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương và các Bộ, ngành liên quan.
c) Nội dung hoạt động của Dự án:
- Thiết kế bộ chỉ tiêu thống kê quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông,
b) Cơ quan phối hợp: Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Bộ, ngành liên quan.
c) Nội dung hoạt động của Dự án:
- Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, qui trình, quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia trong đánh giá, quản lý, truyền thông nguy cơ an toàn thực phẩm
nông, lâm, thủy sản và muối;
- Xây dựng mạng lưới, thiết lập các chương trình giám sát đánh giá, quản lý,
truyền thông nguy cơ an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản và muối;
d) Kinh phí dự kiến: 50 tỷ đồng
e) Thời gian thực hiện: 2012-2015
PHẦN 4. KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Kinh phí thực hiện đề án được huy động từ nhiều nguồn: ngân sách nhà
nước hỗ trợ, vốn của các doanh nghiệp, của các tổ chức và cá nhân.
Trong đó:
21
a) Ngân sách Trung ương ưu tiên đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở vật
chất kỹ thuật, các trang thiết bị, công nghệ của các phòng kiểm nghiệm, kiểm
chứng phục vụ việc quản lý và giám sát rủi ro quá trình sản xuất của các cơ quan
quản lý ở Trung ương và các địa phương; xây dựng hệ thống thông tin quản lý và
cơ sở dữ liệu quản lý chất lượng nông lâm thủy sản; nghiên cứu xây dựng và hoàn
thiện cơ chế chính sách; biên soạn tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật; kiện toàn bộ
máy, đào tạo, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho các đối tượng công chức, viên
chức ở Trung ương và địa phương;
b) Ngân sách địa phương cùng với hỗ trợ của Trung ương đầu tư xây dựng,
nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, các trang thiết bị của các phòng kiểm nghiệm
phục vụ việc quản lý và giám sát rủi ro của hệ thống quản lý của địa phương; kiện
toàn bộ máy hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm các cấp của địa
phương; tổ chức đào tạo, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho các đối tượng
công chức, viên chức của địa phương; xây dựng, hoàn thiện lực lượng kiểm soát
chuyên ngành; tổ chức kiểm tra, kiểm soát về chất lượng, an toàn thực phẩm tại