Tăng cường năng lực quản lý nợ xấu tại Agribank Hải Phòng (3) - Pdf 24

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Kết quả nghiên cứu
6. Kết cấu của luận văn
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỢ
XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. 1 Khái quát về nợ xấu của NHTM.
1.1.1 Tổng quan về NHTM.
1.1.1.1 Khái niệm NHTM.
1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.2 Nợ xấu của NHTM.
1.1.2.1 Khái niệm nợ xấu
1.1.2.2 Phân loại nợ xấu
1.2 Quản lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM.
1.2.1 Khái niệm quản lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM.
1.2.2 Nội dung quản lý nợ xấu
1.2.2.1 Xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu
1.2.2.2 Xác định nợ xấu
1.2.2.3 Xử lý nợ xấu
1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM.
1.3.1 Nhân tố chủ quan
1.3.2 Nhân tố khách quan
1.4. Biện pháp và cơ sở pháp lý để xử lý nợ xấu.
1.4.1 Biện pháp xử lý
1.4.2 Cơ sở pháp lý
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI AGRIBANK
HẢI PHÒNG

3.2.5 Xây dựng quy trình xử lý nợ xấu khoa học, thống nhất
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
2.1. Kiến nghị với Agribank Việt Nam
2.2. Kiến nghị đối với Chính phủ và các Bộ ngành liên quan
2.3. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước
2.4. Kiến nghị đối với Khách hàng
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, mở ra
nhiều cơ hội nhưng theo đó cũng có không ít thách thức đối với nền kinh tế
nói chung và thị trường Tài chính nói riêng. Thực tế thời gian vừa qua cho
thấy, việc suy yếu và sụp đổ hàng loạt của hệ thống Ngân hàng trên khắp thế
giới đã ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ đó xuất phát từ hậu quả do hoạt động
tín dụng mang lại. Việc quản lý và kiểm soát hoạt động tín dụng của ngân
hàng không tốt đã làm cho nợ xấu gia tăng, kéo theo đó là lợi nhuận suy giảm,
thậm chí là thua lỗ nặng. Hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng
thương mại Việt Nam cũng đang phải đối mặt với tình hình nợ xấu ngày một
gia tăng, cùng với gánh nặng từ các khoản nợ xấu còn tồn đọng trong một thời
gian dài chưa xử lý được đã và đang đặt các Ngân hàng thương mại trước
nguy cơ suy giảm lợi nhuận, chất lượng các khoản vay giảm sút, ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng. Việc quản lý và kiểm
soát nợ xấu luôn cần được nhìn nhận và thực hiện một cách nghiêm túc để
đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh
nói chung đối với mỗi ngân hàng.
Nằm trong hệ thống các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng (Agribank

6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu, Kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nợ xấu của
Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng quản lý nợ xấu tại Agribank Hải Phòng
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu tại Agribank Hải Phòng
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Khái quát về nợ xấu của Ngân hàng thương mại
1.1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại gắn liền với
sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Quá trình phát triển kinh tế là điều
kiện và động lực đối với sự phát triển của Ngân hàng thương mại và Ngân
hàng thương mại phát triển tạo điều kiện ngược lại thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế.
Ban đầu, Ngân hàng được gọi là ngân hàng của những “Thợ vàng” vì nó
gắn liền với nghiệp vụ đúc hoặc đổi tiền của các thợ vàng. Do lưu hành tiền tệ
riêng của từng quốc gia kết hợp với việc giao thương quốc tế tạo ra nhu cầu
đúc, đổi tiền trong giao dịch buôn bán tại các cửa khẩu hoặc trung tâm thương
mại nơi giao thương. Những người làm nghề đúc, đổi tiền thực hiện đổi bản tệ
lấy ngoại tệ và ngược lại đổi từ ngoại tệ lấy bản tệ, lợi nhuận thu được là
chênh lệch giá mua bán.
Đầu tiên, những nhà buôn tiền – chủ ngân hàng chỉ dùng vốn tự có của
mình để cho vay, nhưng từ hoạt động thực tiễn họ đã nhận thấy rằng thường
xuyên có người gửi vào và cũng có những người lấy tiền ra song tất cả họ
không rút tiền cùng một lúc và đã tạo số dư tiền gửi thường xuyên ở ngân

nhiều hình thức huy động tiền gửi cũng phát triển như tiết kiệm trả lãi cuối
kỳ, đầu kỳ, theo định kỳ, tiết kiệm an sinh, tích luỹ… đồng thời nhờ có sự
phát triển vượt bậc về công nghệ, trong lĩnh vực Ngân hàng nhiều dịch vụ
8
khác cùng phát triển như rút tiền tự động qua máy ATM 24/24 giờ, bảo lãnh
trong nước, mở L/C, mobile banking, internet banking...
NHTM là một định chế tài chính có vai trò vô cùng quan trọng đối với
nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng, vậy
NHTM là gì?
Theo Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá 10 thông qua ngày 12/12/1997: Ngân hàng thương mại
là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động khác có liên quan. Cũng theo luật này, “Hoạt động
ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.1.2. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
a - Hoạt động huy động vốn
Ngoài nguồn vốn tự có (huy động vốn chủ sở hữu), hoạt động huy động
vốn (huy động vốn nợ) có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng thương mại
trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh doanh. Hoạt động huy động
vốn nợ của ngân hàng thương mại bao gồm:
+ Huy động tiền gửi: Huy động theo hình thức này chủ yếu là tiền gửi của
dân cư và tổ chức dưới hình thức có kỳ hạn (chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm của dân
cư, tiền gửi chờ thanh toán của tổ chức) và không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán
của tổ chức, cá nhân). Đây là nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tổng nguồn vốn nợ của NHTM.
+ Huy động từ phát hành các công cụ nợ: chủ yếu là phát hành kỳ phiếu
và trái phiếu. Kỳ phiếu dùng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn. Trái phiếu phát
hành để huy động vốn trung - dài hạn. Hình thức huy động này mang tính ổn

+ Thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ các tổ chức và cá nhân
+ Phát triển các sản phẩm ngân hàng điện tử
+ Các sản phẩm khác như giữ hộ tài sản, thanh toán séc...
d - Các hoạt động khác
+ Góp vốn đầu tư, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng
khác từ nguồn vốn tự có để đa dạng hoá danh mục đầu tư, hạn chế rủi ro và
nâng cao hiệu quả kinh doanh
+ Tham gia thị trường tiền tệ: Thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc, thị
trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn
khác theo quy định của ngân hàng nhà nước
+ Hoạt động uỷ thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả
việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng
+ Các hoạt động khác như cho thuê két, dịch vụ cầm đồ và các dịch vụ
khác theo quy định của Pháp luật.
1.1.2. Nợ xấu của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 . Khái niệm nợ xấu
Tùy theo quan điểm và mức độ đánh giá rủi ro khác nhau mà có những
khái niệm về nợ xấu khác nhau. Tuy nhiên, xét về bản chất thì nợ xấu là các
khoản nợ bị suy giảm khả năng thu hồi hoặc không có khả năng thu hồi.
*/ Quan niệm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu
i. Nợ xấu là nợ không được thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng, bao gồm:
+ Những khoản nợ mà người vay khó có thể trả nợ và yêu cầu điều
chỉnh lại lịch trả nợ nhưng không thanh toán được trong khoảng thời gian đã
được điều chỉnh.
+ Những khoản nợ mà giá trị tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ hoặc
tài sản bảo đảm không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người vay
không thể trả nợ Ngân hàng đầy đủ.
11
+ Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người vay phá sản và phần bồi
hoàn cho Ngân hàng ít hơn dư nợ phải thanh toán.

Như đã trình bày, quan niệm về nợ xấu giữa các quốc gia và theo thông
lệ quốc tế đều căn cứ trên hai yếu tố là định tính và định lượng. Tuy nhiên,
các quan niệm này mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá khoản vay thông thường
trên cơ sở khả năng trả nợ hiện thời của khách hàng vay mà không đề cập đến
những khoản vay đã được xử lý bằng quỹ dự phòng của tổ chức tín dụng.
Những khoản nợ đã được xử lý bằng quỹ dự phòng của tổ chức tín dụng về
bản chất cũng như quy định của pháp luật thì vẫn cần được theo dõi, quản lý
và thu hồi.
Vì vậy, theo quan niệm của tác giả: Nợ xấu là những khoản nợ phát
sinh từ hoạt động cho vay không được thanh toán đầy đủ cho ngân hàng
hoặc được đánh giá là không có khả năng thu hồi, bao gồm cả các khoản nợ
xấu thông thường (nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo Điều 7 – Quyết định
493/2005/QĐ-NHNN) và các khoản nợ đã xử lý bằng quỹ dự phòng của
ngân hàng được theo dõi tại ngoại bảng.
1.1.2.2 . Phân loại nợ xấu
 Trên cơ sở đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng đối với
từng khoản vay trong hiện tại và tương lai, không phân biệt
khoản vay hiện tại có quá hạn hay chưa, người ta chia nợ xấu
thành:
+ Nợ xấu thông thường: đảm bảo thu hồi đầy đủ trong một khoảng thời
gian nhất định.
+ Nợ xấu khó đòi: chỉ có khả năng thu hồi được một phần hoặc thu hồi
13
đầy đủ nhưng thời gian thu hồi kéo dài.
+ Nợ xấu mất trắng: không có khả năng thu hồi.
 Căn cứ nguyên nhân có thể chia nợ xấu thành:
+ Nợ xấu do nguyên nhân bất khả kháng: do thiên tai, do thay đổi cơ
chế chính sách, ốm đau, ...
+ Nợ xấu do lỗi của người vay: trình độ quản lý yếu kém, khả năng
cạnh tranh kém dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh; cố tình chây ỳ không trả nợ…

1.2.2.1. Xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu
Việc xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu có vai trò quan trọng trong quản lý nợ
xấu. Chỉ tiêu về nợ xấu không chỉ giúp định hướng mà còn có tác động trực
tiếp đến công tác xử lý nợ xấu phát sinh.
Chỉ tiêu về nợ xấu thường được xây dựng cho một thời kỳ hoặc một
khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) trên cơ sở nền kinh tế vĩ mô,
quy mô tín dụng, cơ cấu ngành và đặc điểm về nguồn nhân lực của ngân
hàng. Tùy điều kiện và mục tiêu cụ thể, chỉ tiêu về nợ xấu có thể được xây
dựng theo hướng thắt chặt hoặc nới lỏng.
Chỉ tiêu về nợ xấu cần đảm bảo các nội dung định lượng (tỷ lệ phần
trăm so với tổng dư nợ, doanh số nợ xấu phát sinh) và định tính (định hướng
theo ngành, theo thời gian, theo địa bàn…).
1.2.2.2. Xác định nợ xấu
Việc xác định nợ xấu cần được NHTM thực hiện định kỳ và đột xuất
ngay khi khách hàng hoặc khoản vay có những biểu hiện nhất định:
a - Dấu hiệu phi tài chính
 Hành vi của khách hàng
+ Tìm cách tránh gặp ngân hàng, miễn cưỡng hoặc chậm cung cấp
15
thông tin tài chính : Khi nhận thấy hoạt động kinh doanh đang gặp vấn đề,
ban lãnh đạo sẽ thường có xu hướng liên lạc với ngân hàng ít hơn so với khi
đang làm ăn tốt. Khách hàng có những biểu hiện này, Ngân hàng cần tìm hiểu
nguyên nhân đồng thời đánh giá toàn bộ các khoản vay hiện tại của khách
hàng, cảnh báo về khả năng dẫn đến nợ xấu.
+ Khách hàng tỏ ra không đáng tin : Trong hoạt động cho vay của Ngân
hàng, việc khách hàng không giữ uy tín sẽ là một dấu hiệu rõ nét tiềm ẩn nguy
cơ nợ xấu.
 Khả năng quản lý
+ Bằng chứng phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ công ty, đặc biệt là
trong đội ngũ cán bộ quản lý : Việc xảy ra mâu thuẫn giữa những người điều

động đánh giá hoạt động kinh doanh của khách hàng có chịu tác động theo
hướng bất lợi hay không.
b - Dấu hiệu tài chính
 Kết quả kinh doanh
+ Doanh thu tăng quá nhanh nhưng vốn lưu động không sẵn sàng đủ do
tăng cường chính sách bán chịu hoặc phải chịu sức ép cạnh tranh, chênh lệch
lợi nhuận biên thấp sẽ ảnh hưởng tới vốn duy trì hoạt động cũng như khả
năng thanh toán của khách hàng.
+ Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thấp hơn mức bình quân của ngành.
+ Các khoản thu nhập và chi phí bất thường tăng đột biến.
+ Xuất hiện lỗ ròng hoặc lưu chuyển tiền tệ âm : Một doanh nghiệp sẽ
không thể duy trì được lâu sự tồn tại của mình trong những điều kiện như vậy.
 Tài sản cố định
+ Giá trị còn lại tài sản cố định giảm mạnh : khách hàng thực hiện bán,
17
thanh lý tài sản nằm ngoài kế hoạch thay mới, dấu hiệu khách hàng có thể gặp
khó khăn, chuyển đổi tài sản cố định thành tài sản có tính lỏng cao hơn, thuận
tiện cho việc thu hẹp hoặc ngừng hoạt động.
+ Tốc độ đầu tư tài sản cố định tăng quá nhanh : việc đầu tư tài sản cố
định quá mức, nằm ngoài khả năng tài chính cũng như huy động vốn của
khách hàng sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán cũng như vốn lưu động
phục vụ kinh doanh của khách hàng.
+ Hoạt động của tài sản thấp bất thường : dấu hiệu cho thấy hoạt động
sản xuất kinh doanh có nguy cơ bị thu hẹp hoặc khách hàng có khó khăn về
vốn lưu động để duy trì hoạt động sản xuất.
 Cơ cấu tài chính và quản lý nợ vay
+ Cơ cấu nợ vay/vốn chủ sở hữu thay đổi đột biến theo chiều hướng
tăng tỷ trọng vốn vay.
+ Tốc độ tăng nợ vay không tương xứng với tốc độ tăng doanh thu.
+ Trì hoãn tăng vốn hoặc tài trợ dài hạn, hoặc tăng vốn nhưng với mức

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ bao gồm các chỉ tiêu về tài chính,
phi tài chính được lượng hóa theo thang điểm 100. Theo đó, việc phân loại
khách hàng sẽ được phân chia thành mười mức khác nhau, trên cơ sở đó
NHTM sẽ thực hiện xác định, phân loại các khoản vay của những khách hàng
này theo năm nhóm nợ tương ứng, cụ thể :
19
Bảng 1.1 – Phân loại khách hàng, phân loại nợ
Tổng số điểm
Xếp hạng Phân loại nợ
Từ Đến
91 100 AAA Đủ tiêu chuẩn
81 90 AA Đủ tiêu chuẩn
71 80 A Đủ tiêu chuẩn
66 70 BBB Cần chú ý
61 65 BB Cần chú ý
56 60 B Dưới tiêu chuẩn
51 55 CCC Dưới tiêu chuẩn
46 50 CC Nghi ngờ
41 45 C Nghi ngờ
0 40 D Có khả năng mất vốn
Theo đó, các khách hàng được xếp loại từ BBB đến D thì các khoản
vay của các khách hàng này tương ứng sẽ được xác định là nợ xấu.
Ngoài ra, những khoản nợ đã được xử lý bằng quỹ dự phòng của
Ngân hàng, đang được theo dõi tại ngoại bảng cũng là các khoản nợ xấu.
1.2.2.3. Xử lý nợ xấu
Trên cơ sở chính sách nợ xấu, xác định được nợ xấu, việc xử lý nợ xấu
cần phải được lập kế hoạch và triển khai đảm bảo hiệu quả về mặt thời gian
và chi phí.
*/ Đôn đốc thu hồi nợ
Các NHTM cần tiến hành phân tích, phân loại các khoản nợ xấu để từ

*/ Xử lý tài sản bảo đảm, yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
21
Khi các khoản nợ xấu không thể cơ cấu, khách hàng trây ỳ không thanh
toán hoặc không có khả năng thanh toán nợ thì Ngân hàng sẽ tiến hành các biện
pháp xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh.
+ Thanh lý tài sản bảo đảm tiền vay: Thông thường khi xét duyệt cho
vay, khách hàng cần có tài sản bảo đảm nhất định để đảm bảo cho nghĩa vụ
nợ tại ngân hàng. Khi khách hàng không trả nợ, ngân hàng sẽ xem xét áp
dụng biện pháp xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tài sản sau khi hoàn tất
các thủ tục pháp lý để bàn giao cho Ngân hàng, ngân hàng có thể sẽ tự bán
công khai tài sản ; hoặc bán qua trung tâm bán đấu giá tài sản ; hoặc bán cho
Công ty mua bán nợ
+ Quản lý, khai thác tài sản: Tùy theo trường hợp cụ thể, ngân hàng có
thể tiếp nhận tài sản, tiếp tục quản lý, khai thác tài sản để thu hồi nợ
+ Yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh : Trong trường hợp
việc đòi nợ từ phía người vay gặp khó khăn, ngân hàng có thể yêu cầu người bảo
lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh dưới hình thức thanh toán nợ trực tiếp hoặc xử
lý tài sản bảo đảm của người bảo lãnh.
*/ Bán các khoản nợ
Ngân hàng thường áp dụng biện pháp này khi không muốn mất thời gian
hoặc bản thân ngân hàng đã có một tổ chức chuyên môn hóa trong việc xử lý nợ
đó là Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản. Việc bán lại các khoản nợ xấu
(hay quyền đòi nợ) cho một tổ chức khác (có thể là một ngân hàng hoặc Công ty
quản lý nợ và khai thác tài sản) sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu được nợ xấu. Tuy
nhiên, khi áp dụng biện pháp này ngân hàng thường phải chấp nhận bán lại các
khoản nợ với giá trị thấp hơn quyền đòi nợ hiện tại, từ đó gây ra những tổn thất
nhất định đến kết quả kinh doanh của ngân hàng.
*/ Sử dụng công cụ pháp lý để đòi nợ
22

lỏng quản lý nợ xấu luôn phải tuân theo định hướng và mức độ chấp nhận rủi
ro của ngân hàng. Khi tỷ lệ nợ xấu cũng như mức độ rủi ro tiềm ẩn vượt ra
ngoài giới hạn rủi ro cho phép thì ngân hàng cần áp dụng ngay những biện
pháp hữu hiệu để quản lý và kiểm soát nợ xấu.
- Quy trình cho vay
Mỗi ngân hàng khi triển khai bất kỳ sản phẩm, dịch vụ nào cũng cần
phải ban hành quy trình hướng dẫn cụ thể về sản phẩm, dịch vụ, cách thức
thực hiện. Việc ban hành quy trình cho vay chi tiết, rõ ràng sẽ giúp cho nhân
viên ngân hàng hiểu và triển khai nghiệp vụ có hiệu quả, hạn chế được những
lỗi vi phạm quy trình cho vay không chủ đích, tránh ảnh hưởng tới chất lượng
các khoản cho vay. Bên cạnh đó, với quy trình cho vay chuẩn xác, việc rà
soát, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, thiếu sót sẽ được thực
hiện dễ dàng hơn.
Hệ thống quy trình về các sản phẩm cho vay của ngân hàng có tác động
đến xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu. Trong trường hợp ngân hàng ban hành đầy
đủ và chuẩn xác các quy trình cho vay thì chỉ tiêu về nợ xấu có thể được xây
dựng theo hướng nới lỏng hơn (nhưng vẫn phải đảm bảo hiệu quả hoạt động
kinh doanh) do đã hạn chế được nợ xấu phát sinh do nguyên nhân chủ quan từ
phía ngân hàng, ngược lại khi quy trình cho vay chưa đầy đủ hoặc chưa rõ
ràng thì chỉ tiêu về nợ xấu cần được thắt chặt để nâng cao hơn nữa ý thức
kiểm soát và hiệu quả thu hồi đối với các khoản cho vay.
- Năng lực, trình độ phân tích, đánh giá, lựa chọn khách hàng, dự án vay vốn
của nhân viên ngân hàng
Việc phân tích, đánh giá, lựa chọn khách hàng, dự án để tài trợ vốn là khâu
quan trọng, quyết định đến mức độ rủi ro cũng như khả năng sinh lời của mỗi
khoản vay. Khi quyết định cho vay được đưa ra trên cơ sở các phân tích, đánh giá
đầy đủ, khách quan sẽ giúp hạn chế được khả năng phát sinh nợ xấu.
Trên cơ sở năng lực, trình độ của đội ngũ nhân viên, ngân hàng sẽ xây dựng
24
chỉ tiêu về nợ xấu cho phù hợp. Với một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status