THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI AGRIBANK HẢI PHÒNG
2.1. Khái quát về Agribank Hải Phòng
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Agribank Hải Phòng
*/ Sự hình thành và phát triển
Agribank Hải Phòng được thành lập theo Giấy phép thành lập số 54B/NH-QĐ
do Chi nhánh Ngân hàng nhà nước Hải Phòng cấp ngày 12/4/1988. Trụ sở chính hiện
đặt tại số 283 Lạch Tray – Ngô Quyền – Hải Phòng. Định hướng kinh doanh chủ
yếu là phục vụ các đối tượng nông nghiệp, nông thôn, nông dân, các doanh nghiệp
nhỏ và vừa, phát triển kinh tế xã hội địa phương. Theo sự phát triển của nền kinh tế
cùng với sự lớn mạnh của Agribank Hải Phòng, nhiệm vụ và mục tiêu của Ngân hàng
từng bước được thay đổi phù hợp với định hướng trở thành một ngân hàng bán lẻ, đa
năng và là một trong những Ngân hàng hàng đầu trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Trải qua hơn 20 năm hoạt động, Agribank Hải Phòng đã có những bước phát triển
vượt bậc……
Ngày đầu, chi nhánh có 9 chi nhánh quận, huyện trực thuộc, 816 cán bộ nhân viên
trong đó 572 cán bộ nữ, trình độ Đại học, Cao đẳng có 57 người, chiếm tỷ lệ 7%,
trung cấp 444 người, tỷ lệ 54,4%, sơ cấp và chưa qua đào tạo 285 người, tỷ lệ
38,6%; tổng nguồn vốn khi mới thành lập 9,9 tỷ đồng, dư nợ 12,4 tỷ đồng, chủ yếu
là dư nợ kinh tế quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp làm ăn kém hiệu quả, phương
tiện làm việc chắp vá, thiếu thốn, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, cũ kỹ, xuống cấp.
Đến nay Agribank Hải Phòng đã có 22 chi nhánh quận, huyện, khu vực trực thuộc,
16 phòng giao dịch, 33 máy ATM, 2 nhà nghỉ điều dưỡng, 1 cơ sở đào tạo khu vực,
có 599 cán bộ với trên 80% có trình độ Đại học, tổng nguồn vốn huy động 4.500 tỷ
đồng, dư nợ 4.600 tỷ đồng, phát hàng trên 100.000 thẻ ATM cung cấp đầy đủ các
sản phẩm dịch vụ của một Ngân hàng hiện đại cho mọi thành phần kinh tế. Kết quả
hoạt động kinh doanh luôn duy trì tốc độ tăng trưởng trên 20% trong ba năm trở lại
đây.
*/ Bộ máy tổ chức và mạng lưới
Bộ máy tổ chức của Agribank Hải Phòng hiện nay gồm 08 phòng nghiệp vụ,
22 chi nhánh loại 3 trực thuộc, 16 phòng giao dịch trải rộng trên khắp thành phố
Hải Phòng.
- Phòng Kinh doanh ngoại hối: Tổ chức thực hiện nghiệp vụ Thanh toán quốc tế,
kinh doanh ngoại tệ theo đúng quy định của pháp luật và của ngân hàng đối với
khách hàng.
- Phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ: Tổ chức thực hiện nghiệp vụ kiểm tra nội bộ
theo đúng quy định của pháp luật và của ngân hàng đối với các nghiệp vụ phát sinh
trong hoạt động kinh doanh.
- Phòng Điện toán: Quản lý hệ thống mạng, tin học toàn hệ thống, cung ứng và
hỗ trợ các phần mềm ứng dụng.
- Các chi nhánh, phòng giao dịch trực thuộc: Thực hiện các nghiệp vụ huy động
vốn, cung ứng tín dụng, dịch vụ ngân hàng theo quy định của nhà nước và của
Agribank Hải Phòng. Đảm bảo an toàn và hoạt động hiệu quả theo kế hoạch Giám
đốc Agribank Hải Phòng giao.
2.1.2. Hoạt động chủ yếu của Agribank Hải Phòng
2.1.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh đến 31/12/2010.
- Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2010 đạt 4.495 tỷ
đồng, tăng 886 tỷ so đầu năm, tỷ lệ tăng 24,6%, đạt 100% kế hoạch giao, chiếm
10,42% thị phần.
- Công tác đầu tư tín dụng: Tổng dư nợ tín dụng đến 31/12/2010: đạt 4.565 tỷ
đồng, tăng 20,5% so đầu năm, đạt 98,3% kế hoạch, chiếm 8,3% thị phần.
- Nợ xấu: 74 tỷ đồng, giảm 47 tỷ so đầu năm, chiếm tỷ lệ 1,6% trên tổng dư nợ.
- Kết quả tài chính:
+ Tổng thu: 716 tỷ đồng
+ Tổng chi: 641 tỷ đồng
+ Chênh lệch thu chi: 75 tỷ đồng
- Quỹ tiền lương: Đạt hệ số 1,36 trên kế hoạch là hệ số 1, thu nhập bình quân
người lao động đạt 5 triệu đồng/người/tháng. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà
nước về thuế, đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động.
2.1.2.1. Huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động cơ bản và hết sức quan trọng đối với NHTM nói
chung và Agribank Hải Phòng nói riêng. Hoạt động huy động vốn là nhiệm vụ số
Biểu đồ 1: - Huy động vốn phân theo đối tượng (tỷ đồng)
Biểu đồ 2: - Huy động vốn phân theo thời gian (tỷ đồng)
Biểu đồ 3: - Huy động vốn phân theo loại tiền
Hoạt động huy động vốn trong 3 năm của chi nhánh khá đa dạng và có sự
biến động qua các năm, trong giai đoạn 2006 – 2010, năm 2009 có nguồn vốn huy
động giảm, và cũng là năm duy nhất từ ngày thành lập nguồn vốn huy động giảm,
nguyên nhân là do suy thoái kinh tế thế giới và nền kinh tế đất nước bị ảnh hưởng
nặng nề, tuy nhiên tiền gửi dân cư vẫn tăng và tăng đều qua các năm, đặc biệt năm
2010 nguồn vốn chi nhánh tăng 886 tỷ, tỷ lệ 24,5%, so với mặt bằng huy động vốn
trên địa bàn Hải Phòng (18%) là khá cao, nguồn vốn nội tệ và nguồn vốn có kỳ hạn
ngắn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn. Trong cơ cấu nguồn vốn thì phát hành
giấy tờ có giá luôn có xu hướng giảm, đặc biệt trong cơ cấu nguồn vốn tại chi
nhánh không có tiền gửi, tiền vay của các tổ chức tín dụng.
+ Tiền gửi dân cư: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn huy động và có sự
tăng trưởng mạnh qua các năm, vốn huy động tiết kiệm từ dân cư là nguồn vốn
chủ lực cung ứng cho hoạt động cho vay của chi nhánh. Năm 2010 là một năm
đầy khó khăn và có nhiều biến động đối với hoạt động huy động vốn của các
NHTM, tuy nhiên với uy tín của mình và lòng tin của dân cư đối với thương
hiệu Agribank mà lượng vốn huy động tiền gửi tiết kiệm của chi nhánh vẫn đạt
tốc độ tăng trưởng 29,8% so với năm 2009, cao hơn tốc độ tăng của tổng vốn
huy động.
+ Tiền gửi các tổ chức kinh tế: Do ưu điểm về mạng lưới và truyền thống tại
Agribank Hải Phòng ngoài tiền gửi của các doanh nghiệp hoạt động thương mại,
sản xuất kinh doanh còn có tiền gửi thanh toán của Kho bạc nhà nước và Bảo hiểm
xã hội, lượng vốn này có ưu điểm lãi suất thấp, tính ổn định cao và góp phần giảm
lượng tiền mặt trong lưu thông.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: Những năm gần đây nền kinh tế nước ta không ổn
định, điều này có thể phản ánh thông qua lãi suất huy động kỳ càng ngắn lãi suất
càng cao, kỳ càng dài lãi suất càng thấp để tránh rủi ro về lãi suất ngân hàng, điều
này dẫn đến khả năng đáp ứng các dự án vay vốn trung và dài hạn ngày càng khó
2. Dư nợ TDH 1.037 1.203 1.197 1.115 1.120 -7 0,5 -7 0,5
Tổng cộng 2.456 2.748 3.239 3.817 4.565 17,8 19,6 17,8 19,6
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2006-2010)
Biểu đồ 4: - Kết quả hoạt động cho vay
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2008,2009,2010)
Nhìn chung, hoạt động cho vay có sự tăng trưởng qua các năm, tuy nhiên tốc độ
tăng trưởng trung dài hạn qua các năm có xu hướng giảm, tỷ trọng dư nợ trung dài
hạn giảm. Nguyên nhân chủ yếu là do cơ cấu nguồn vốn huy động chủ yếu là nguồn
ngắn hạn để đảm bảo an toàn thanh khoản thì hạn chế cho vay trung và dài hạn,
NHNN khống chế tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn tối đa 30%, và
do đối tượng đầu tư của Agribank Hải Phòng là hộ sản xuất kinh doanh, chăn nuôi
lợn, gà, cây trồng ngắn hạn chu kỳ sản suất kinh doanh chủ yếu là ngắn hạn. Đặc biệt
biệt năm 2010 để khắc phục suy thoái kinh tế, thực hiện chủ trương của Đảng về
chính sách tam nông, chỉ đạo của Chính phủ về đảm bảo an sinh xã hội Agribank Hải
Phòng được cấp 200 tỷ vốn bằng nguồn tái cấp vốn của NHNN để cung ứng tín dụng
cho bà con nông nghiệp, nông thôn, nông dân, nguồn vốn này là nguồn trung hạn đã
giải quyết nhu cầu vốn để đầu tư nuôi trồng thuỷ sản, xây dựng trang trại, mua máy
móc cơ khí nông nghiệp để phát triển kinh tế xã hội khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Bên cạnh cho vay, hoạt động bảo lãnh của chi nhánh cũng có sự tăng trưởng
khá.
Bảng 3: - Kết quả hoạt động bảo lãnh
Đơn vị: triệu đồng
Tổng GT bảo lãnh Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
của ngân hàng cũng được phát triển mở rộng. Doanh thu từ dịch vụ thanh toán L/C,
chuyển tiền, chi trả lương hộ, kiểm đếm có sự gia tăng vượt bậc, từ 2.612 triệu
đồng năm 2008 lên đến 5.780 triệu đồng năm 2009 và đến năm 2010 là 8.992 triệu
đồng, tăng 56% so với năm 2009. Sự gia tăng doanh thu từ dịch vụ là một tín hiệu
đáng mừng đối với mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận ổn định, an toàn và hiệu quả.
Hoạt động thanh toán qua ATM: đến hết năm 2008 chi nhánh mới phát hành
được trên 35.018 thẻ ATM , đến năm 2009 là 74.453 thẻ và đến cuối năm 2010 là
trên 109.000 thẻ. Agribank Hải Phòng là đơn vị có số máy ATM lớn nhất trên địa
bàn Hải Phòng, gồm 38 máy ATM được phân bố rộng đều khắp thành phố Hải
Phòng ở tất cả các quận, huyện, khu vực. Số thẻ hoạt động thực sự chiếm tỷ trọng
khoảng 90% với mức dư bình quân trên tài khoản thấp (dưới 2,5 triệu đồng/tài
khoản), hiện tại ATM có thể chi trả lương cho CBCNV, cán bộ hưu trí hàng tháng,
thành toán tiền điện, nước, điện thoại, cáp truyền hình, mua hàng siêu thị ….hầu hết
thẻ được phát hành miễn phí và thực hiện miễn phí dịch vụ trong một khoảng thời
gian ban đầu thường là 12 tháng. Vì thế, ở giai đoạn đầu hoạt động này hiện chưa
phát huy tác dụng và chưa có thu nhập đủ để bù đắp chi phí. Tuy niên, việc mở rộng
dịch vụ thẻ ATM sẽ tạo được hình ảnh tốt đối với khách hàng và có điều kiện để
quảng bá hình ảnh Agribank, tạo tiền đề để phát triển các hoạt động dịch vụ khác
của ngân hàng. 2.2. Thực trạng quản lý nợ xấu tại Agribank Hải
Phòng
2.2.1. Tình hình nợ xấu tại Agribank Hải Phòng giai đoạn 2008 – 2010
Nợ xấu tại Agribank Hải Phòng giai đoạn 2006 – 2008 có nhiều biến động,
cả về tổng dư nợ cũng như tỷ trọng giữa các nhóm nợ, trước tiên ta xem xét thực
trạng nợ xấu của chi nhánh dưới góc độ là các khoản nợ đang được theo dõi tại nội
bảng, cụ thể:
Bảng 4: - Cơ cấu dư nợ nội bảng theo nhóm nợ
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số
Biểu đồ 6: - Cơ cấu dư nợ nội bảng (đơn vị: tỷ đồng)
Bảng 5: - Nợ xấu nội bảng
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
DN nhóm 3 33 35 21 32 23 25 28 23 9 12
DN nhóm 4 20 22 15 23 22 23 13 11 7 9
DN nhóm 5 40 43 29 45 49 52 80 66 58 79
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
%
07/06
%
08/07
% 09/08 %
10/09
Dư nợ ngoại bảng 88 101 144 158 194 15 43 17,9 64
Biểu đồ 8 : - Dư nợ ngoại bảng (tỷ đồng)
(Nguồn: Cân đối ngoại bảng năm 2006 – 2010)
Nợ ngoại bảng đã được xử lý bằng quỹ DPRR đến cuối năm 2206 là 88
tỷ đồng, năm 2007 là 101, năm 2008 là 144 tỷ đồng, năm 2009 là 158 tỷ đồng,
năm 2010 là 194 tỷ, tăng 22,7% so với năm 2009 trong đó nợ khó không thể
thu là 178 tỷ đồng, bao gồm:
- Nợ Công ty vàng bạc đá quý Hải Phòng giải thể chuyển sang là 29 tỷ
đồng, đây là khoản nợ không có đủ cơ sở pháp lý do hồ sơ, thủ tục bảo đảm
tiền vay không hợp lệ, hợp pháp để phát mại, thu hồi hoặc khách hàng không
nhân nợ nên thiếu căn cứ đòi nợ.
- Nợ nhận bàn giao của Sở kinh doanh hối đoái , không còn con nợ hoặc không
có tài sản đảm bảo để xử lý thu hồi nợ, tổng số 56 tỷ đồng, cụ thể Công ty SXVLXD
Hải Phòng 10,8 tỷ đồng, HTX CP Liên Hương 8 tỷ đồng, Công ty TNHH Minh
Phượng 6,4 tỷ đồng, Công ty TNHH Hồng Hải Bình 6 tỷ đồng, Công ty TNHH Phúc
Hưng 5,6 tỷ đồng, Công ty TNHH Phúc Thịnh 4,2 tỷ đồng và một số khách hàng là cá