Tài liệu ĐỀ TÀI: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 – ĐẾN NAY doc - Pdf 10

Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG


ĐỀ ÁN MÔN HỌC:
TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI:
TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2005 – ĐẾN NAY
Giáo viên hướng dẫn: Ts.Võ Thúy Anh
Sinh viên thực hiện: Đỗ Nguyễn Hòa Phương
Lớp: 35K07.1

ĐÀ NẴNG , THÁNG 4 - 2011
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 1
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy AnhLỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập quốc tế như hiện nay mỗi nước sẽ có kết cấu sản
nghiệp, cơ cấu kinh tế, trình độ phát triển khác nhau nên cũng sẽ phải đối mặt với
nhiều thách thức, khó khăn khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế nhưng một
trong những khó khăn lớn nhất mà các quốc gia đều phải đối mặt đó là vấn đề lạm
phát. Trong lịch sử, đã cho thấy nhiều quốc gia rơi vào vòng xoáy của lạm phát cao
không thể kiểm soát được mà hậu quả kéo theo là một sự sụt giảm kinh tế và tình trạng
mất ổn định chính trị trong nước. Lạm phát là quá trình tăng lên giá cả của các loại
hàng hóa, sự mất giá của tiền tệ, mọi thứ đều trở nên khan hiếm trừ tiền. Lạm phát

Chương 2 : Thực trạng lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2005 – đến nay.
Chương 3 : Dự báo về tình hình lạm phát Việt Nam trong thời gian tới.
Chương 4 : Kết Luận.
Do thời gian nghiên cứu đề án có hạn, và với những lý do khách quan cũng như
chủ quan khác, đề án không thể tránh khỏi những sai sót nhất định, em rất mong nhận
được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo để đề án được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 2
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
cảm ơn sự tận tình quan tâm, giúp đỡ của cô Ts.Võ Thị Thúy Anh đã hướng dẫn em hoàn
thành đề án này.
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 2011
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 3
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT
1.1.Khái niệm lạm phát :
1.1.1. Lạm phát :
Lạm phát là hiện tượng vốn có của các nền kinh tế sử dụng tiền tệ và là hiện
tượng kinh tế phổ biến đối với các nền kinh tế trên thế giới. Nó tồn tại ở cả những nước
phát triển, đang phát triển và chậm phát triển, cả trong thời kì phát triển, hưng thịnh lẫn
trong thời kì suy thoái. Lạm phát ở mức độ nhất định có vai trò thúc đẩy sản xuất lưu
thông hàng hóa, giúp giảm thất nghiệp và giúp tăng trưởng kinh tế nhưng nếu lạm phát
vượt ra khỏi tầm kiểm soát và tăng nhanh chóng có thể gây ra nhiều nguy hại cho đời
sống kinh tế - xã hội. Vì vậy, khi nghiên cứu lạm phát có nhiều trường phái kinh tế, các
khái niệm và cách khác nhau như:
Trong bộ "Tư bản" nổi tiếng của mình C.Mác đã nêu lên quy luật lưu
thông tiền tệ. Quy luật đó là: " Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số
lượng vàng (hay bạc) do tiền giấy đó tượng trưng, lẽ ra phải lưu thông thực sự". Khi

Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
Samuelson từ ấn bản năm 1960 đến năm 1985). Ông cho rằng có sự đánh đổi giữa
lạm phát và tình trạng thất nghiệp. Nếu một đất nước có tốc độ phát triển cao, tỉ lệ
thất nghiệp thấp thì phải chấp nhận mức lạm phát cao, còn ngược lại muốn lạm phát
thấp thì phải chấp nhận thất nghiệp cao. Vậy đâu là lý do khiến giá tăng cao mà sản
xuất phát triển. Đó là do khi lạm phát tăng cao nhưng tiền lương không tăng hoặc
tăng chậm hơn so với mức độ lạm phát nên các chủ doanh nghiệp sẽ được lợi trong
quá trình bán hàng, họ sẽ nhận được lượng lợi tức cao hơn và có nhiều vốn hơn để
mở rộng sản xuất nhưng Friedman lại cho rằng người dân sẽ không "ngu lâu", khi
lạm phát tăng cao sức mua của đồng lương giảm xuống người dân sẽ đòi hỏi lương
cao hơn khiến chi phí sản xuất tăng cao hơn trong khi cầu vẫn không đổi gây ra tình
trạng nền kinh tế vừa suy thoái, vừa lạm phát cao do nguyên nhân chi phí đẩy (nước
Anh năm 1979 đã áp dụng chính sách kinh tế của Friedman để giả quyết tình trạng
vừa lạm phát vừa suy thoái lúc đó).
Friedman đã cố gắng giải thích lại thuyết lượng tiền tệ cổ điển mà những
người theo trường phái Keneys đã phá như sau. Theo lý thuyết cổ điển ta có:
(1) M.V = P.Q trong đó M (khối lượng tiền), V (vòng quay đồng tiền),P (mặt bằng
giá), Q (sản lượng nền kinh tế). Từ định nghĩa (1) ta có thể suy ra những hệ quả như
sau:
(2) Tỷ lệ thay đổi lượng tiền + tỷ lệ thay đổi vòng quay ≈ tỷ lệ thay đổi giá
+ tỷ lệ thay đổi sản lượng
(3) Tỷ lệ thay đổi giá ≈ Tỷ lệ thay đổi lượng tiền + tỷ lệ thay đổi vòng
quay – tỷ lệ thay đổi sản lượng
Các nhà kinh tế cổ điển dựa vào định nghĩa (1) và (3) cho rằng vòng quay V
của đồng tiền là không đổi nên khi ta tăng M thì chỉ làm tăng P chứ không tăng Q.
Họ cho rằng Q chịu ảnh hưởng bởi sức sản xuất nên không bị ảnh hưởng, cung chỉ
tạo ra cầu.
Việc chỉ sử dụng lý thuyết để giải thích sự vận động của nền kinh tế nên
những người theo trường phái thuyết lượng tiền tệ cổ điển đã bị quan điểm Keneys
đưa ra phá vỡ, ông cho rằng

+ Mức giá cả chung tăng lên, đặc biệt là các loại hàng hóa thiết yếu.
+ Sự mất giá các loại chứng khoán có giá.
+ Sự giảm giá của đồng nội tệ so với các loại ngoại tệ.
+ Sản xuất đình trệ, hàng hóa dịch vụ khan hiếm.
+ Cán cân thương mại giảm sút, nhập siêu tăng nhanh.
1.1.2. Lạm phát cơ bản :
Lạm phát cơ bản là thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá xu hướng cơ bản
hay diễn biến chung của giá tiêu dùng bình quân. Lạm phát cơ bản nắm bắt xu hướng
dài hạn hoặc phổ biến của giá cả hàng hóa hay dịch vụ bằng cách loại trừ những cơn lốc
hay biến động nhất thời trong mức giá tiêu dùng bình quân.
1.2. Phân loại lạm phát :
1.2.1. Dựa vào tỉ lệ tăng giá :
1.2.1.1. Lạm phát vừa phải :
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ một con số
hàng năm (dưới 10% một năm). Lạm phát vừa phải còn được gọi là lạm phát nước kiệu
hay lạm phát 1 con số. Loại lạm phát này thường được các nước duy trì như một chất
xúc tác để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.2.1.2. Lạm phát cao :
Loại lạm phát này xảy khi giá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ hai, ba con số
hàng năm (10%, 50%, 200%, 500%, 800% một năm). Lạm phát này được gọi là lạm
phát phi mã… đồng tiền trở nên mức giá nghiêm trọng, lãi suất thực thường là âm,
trong điều kiện đó không ai cho vay với lãi suất bình thường, không ai muốn nắm giữ
lượng tiền mặt quá lớn mà thay vào đó là các loại hàng hóa lâu bền. Loại lạm phát này
gây ra nhiều tác hại cho đời sống kinh tế - xã hội.
1.2.1.3. Siêu lạm phát :
Loại lạm phát này có tỉ lệ tăng giá trên 1000% một năm. Không có điều gì là
tốt khi nền kinh tế khi xảy ra tình trạng này, nó như căn bệnh ung thư chết người, tốc độ
lưu thông tiền tệ tăng nhanh chóng, giá cả các mặt hàng tăng nhanh không ổn định, tiền
lương thực tế giảm mạnh, đồng tiền mất giá, thông tin không còn chính xác, các yếu tố
thị trường biến dạng. Lịch sử lạm phát đã ghi nhận tác hại của siêu lạm phát như ở Đức

các nhóm chính trong giỏ hàng hóa để tính CPI thường là thực phẩm, quần áo, nhà cửa,
chất đốt, vận tải và y tế. Tùy theo tình hình phát triển – kinh tế xã hội, thị hiếu tiêu dùng
của người dân mỗi nước mà chủng loại hàng hóa sẽ thay đổi sao cho phù hợp.
Việc tính CPI bao gồm các bước:
Bước 1: cố định giỏ hàng hóa: ước lượng các hàng hóa và dịch vụ người tiêu
dùng điển hình mua
Bước 2: xác định giá cả của mỗi hàng hóa và dịch vụ trong giỏ hàng tại mỗi
thời điểm.
Bước 3: tính chi phí để mua giỏ hàng: sử dụng các mức giá và lượng để tính
chi phí mua giỏ hàng trong mỗi năm
Bước 4: Lựa chọn năm cơ sở và tính chỉ số giá.



==
100
2000
2000
2000
2000
2000
100
x
t
t
t
p
p
D
pq

CPI
t
: chỉ số CPI năm t
CPI
t-1
: chỉ số năm t-1
1.3.1.2. Dựa vào chỉ số giảm lạm phát GDP :
Chỉ số giảm lạm phát GDP hay chỉ số điều chỉnh GDP thường được kí hiệu là
D
GDP
( viết tắt tiếng anh là GDP deflator ) đo lường GDP theo giá hiện hành và giá cố
định cùng các thành phần của nó. Ví dụ nếu GDP tăng theo mức cố định là 3% và theo
mức giá danh nghĩa hiện hành là 8%, nó hàm ý mức lạm phát trong nền kinh tế là 5%.
GDP
danh nghĩa
phản ánh giá trị bằng tiền của sản lượng được nền kinh tế tạo ra.
GDP
thực tế
phản ánh khối lượng sản phẩm – tức là sản lượng được đánh giá theo giá năm
cơ sở. Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của một đơn vị điển hình so với giá của nó
trong năm cơ sở. Điểm khác biệt giữa D
GDP
và chỉ số CPI là ở chổ: (1) giá của giỏ hàng
hóa tính chỉ số này khác nhau, trong đó D
GDP
sử dụng giá của tất cả hàng hóa sản xuất
trong nước còn CPI lại sử dụng giỏ hàng hóa cố định không kể nơi sản xuất để tính
CPI. (2) D
GDP
sử dụng giỏ hàng hóa dịch vụ sản xuất trong kì nghiên cứu vì thế giỏ

thực tế
GDP
danh nghĩa
Trang 8
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
của một số nhóm mặt hàng khỏi rổ CPI.Các thành phần hay được loại trừ là loại hàng
hóa dễ bị biến động nhất đó là nhóm hàng lương thực – thực phẩm, năng lượng.
Phương pháp thống kê thuần túy để tính bao gồm: tính trung vị, trung bình lược bỏ
có quyền số/không có quyền số hay phương pháp tính lại quyền số mới hay phương
pháp bình quân gia quyền nghịch đảo độ lệch chuẩn hoặc phương sai (những phương
pháp này thường sử dụng nội bộ để nghiên cứu và phân tích).
Phương pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích, tính toán và dự báo
lạm phát cơ bản cũng nên tính thử nghiệm sử dụng nội bộ để nghiên cứu và phân tích.
1.4. Nguyên nhân lạm phát :
1.4.1. Lạm phát theo số lượng tiền tệ :
Khi đề cập đến mối quan hệ giữa lạm phát và tiền tệ, Friedman cho rằng "lạm phát
luôn và bất cứ ở đâu đều là hiện tượng tiền tệ". Lúc đó lạm phát được định nghĩa như là
một sự tăng giá nhanh và liên tục.
- Quan điểm các nhà thuộc trường phái tiền tệ:
Đồ thị lạm phát theo số lượng tiền tệ
Ban đầu nền kinh tế cân bằng ở điểm 1 (giao nhau giữa AD
1
và AS
1

MB

và thay
đổi trái phiếu chính phủ mà công chúng nắm giữ (
B∆
)
DEF= G - T =
BMB
∆+∆
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 9
AS
3
AS
2
3
2'
AS
1
AD
3
AD
2
AD
1
Y
(Tổng sản phẩm)
Y
n
1'

cơ chế thị trường nó sẽ được lấp đầy bằng sự gia tăng giá cả.
Đồ thị lạm phát do cầu kéo
Ban đầu nền kinh tế cân bằng tại điểm 1 (giao nhau giữa đường AD
1
và AS và khi
có sự gia tăng tổng cầu (tăng lương, giảm thuế, tăng chi tiêu công) thì đường AD
1
dịch
chuyển sang phải thanh đường AD
2
rồi đến AD
3,
trong khi đường tổng cung không thay
đổi làm cho điểm cân bằng dich chuyển từ 1 rồi đến 2 và 3 và cứ tiếp tục như vậy nếu
cầu vẫn tiếp tục tăng lên, hàng hóa thiết lập mức giá sau cao hơn mức giá trước và lạm
phát xảy ra.
1.4.4. Lạm phát do chi phí đẩy :
Nền sản xuất được đảm bảo bởi sự kết hợp giữa nguồn lực tự nhiên, tư bản và lao
động và một khi một trong những yếu tố đó có xu hướng tăng giá sẽ làm cho giá cả
hàng hóa tăng lên. Vậy lạm phát chi phí đẩy là loại lạm phát xảy ra khi chi phí gia tăng
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
AD
1
AD
2
AD
3
ASP
Y
1

phải gánh chịu lạm phát.
1.4.5. Lạm phát do quán tính :
Lạm phát do quán tính là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà mọi người dự kiến nó sẽ tiếp
tục trong tương lai. Tỷ lệ này được đưa vào các hợp đồng kinh tế, các giao dich mua
bán hằng ngày, và chính vì điều này mà lạm phát trở thành hiện thực.
Một ví dụ về lạm phát quán tính đó là khi nền kinh tế xảy ra lạm phát cao dẫn đến
người dân có xu hướng chỉ giữ một số lượng tiền ít để tiêu dùng còn lại người ta sẽ tích
trữ hàng hóa, mua vàng, các loại ngoại tệ mạnh khác khiến số lượng tiền lưu thông càng
nhiều hơn và làm lạm phát thêm trầm trọng.

Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
YY
1
Y
0
Y
0
P
2
AD
AS
2
AS
1
1
Trang 11
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
1.4.6. Lạm phát do sự thay đổi tỷ giá hối đoái :
Tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ so với đơn vị tiền tệ nước ngoài tăng cũng là
nguyên nhân gây ra lạm phát.

+ Mất cân đối giữa mức tích lũy thấp nhưng đầu tư cao.
+ Cơ cấu ngoại thương bất hợp lý.
+ Cơ cấu tiêu dùng bất hợp lý.
1.4.8. Lạm phát do xuất khẩu :
Việc xuất khẩu tăng cao khiến tổng cầu tăng nhanh hơn tổng cung, hoặc sản phẩm
được huy động cho xuất khẩu khiến tổng cung mặt hàng trong nước thấp hơn tổng cầu
trong nước. Sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu khiến lạm phát nảy sinh.
1.4.9. Lạm phát do nhập khẩu :
Do các sản phẩm không thể sản xuất trong nước mà phải nhập từ bên ngoài nên
khi có sự gia tăng giá cả của mặt hàng nhập khẩu (như việc tăng giá dầu của OPEC, giá
nhập khẩu phôi thép) khiến giá hàng trong nước phải tăng lên. Lạm phát hình thành do
giá nhập khẩu đội lên.
1.4.10. Lạm phát do tâm lý người tiêu dùng :
Ngoài ra, lạm phát cũng có thể xảy ra do tâm lý người tiêu dùng (với chiến thuật
quảng cáo rầm rộ các công ty sẽ kích thích những nhu cầu chưa thực sự của người dân
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 12
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
gây ra tình trạng khan hiếm hàng hóa giả tạo trên thị trường, đẩy giá lên cao) hay do
yếu tố chính trị, bất ổn định, chiến tranh, tình trạng thiếu thông tin thị trường, chính
sách nhà nước cũng tác động đến tâm lý người dân.
1.5. Tác động của lạm phát :
Lạm phát ảnh hưởng đến nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội, nó cũng có thể
đem lại những lợi ích bên cạch những tác hại nghiêm trọng đến đời sống kinh tế xã hội
của đất nước. Vậy tác động của nó như thế nào ?
1.5.1. Tác động tích cực :
1.5.1.1. Tác động phân phối lại thu nhập của cải :
Nó phát sinh từ những sự khác nhau trong các loại tài sản và nợ nần của người
dân. Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản, những người đi vay nợ là có lợi nhất
vì giá cả các loại hàng hóa nói chung đều tăng lên theo mức tăng lạm phát trong khi giá

bên phải trên đường Phillips sao cho tại đó thất nghiệp cao hơn và lạm phát thấp hơn.
Vì thế qua đường Phillips chính phủ sẽ có chính sách phù hợp nhằm tạo được sự kết
hợp tối ưu nhất giữa lạm phát và thất nghiệp.
1.5.1.4. Tác động làm tăng số thuế nhà nước thu được :
Nếu thuế được đánh theo hệ thống thuế lũy tiến thì tỉ lệ lạm phát cao sẽ đẩy người
ta nhanh qua mức thuế cao hơn phải nộp, và như vậy chính phủ có thể thu được nhiều
thuế hơn mà không phải thông qua luật.
1.5.2. Tác động tiêu cực :
1.5.2.1. Đối với lĩnh vực sản xuất :
Trong điều kiện lạm phát cao và không dự kiến được thì mọi hoạt động sản xuất
đều bị thay đổi, giá cả hàng hóa tăng cao và biến động không ngừng gây nên tình trạng
mất ổn định trong nền kinh tế. Quá trình hạch toán của các công ty trở nên vô hiệu do
tốc độ thay đổi giá cả của hàng hóa gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh,
đối với những công ty có tỷ suất lợi nhuận thấp thì dẫn đến tình trạng phá sản. Cơ cấu
nền kinh tế bị thay đổi vì khi đó các nhà kinh doanh tập trung đầu tư vào các ngành sản
xuất có chu kì ngắn, khả năng thu hồi và quay vòng vốn cao thay vì đầu tư vào các
ngành có điều kiện ngược lại khiến tình trạng cung ứng hàng mất cân đối khiến lạm
phát trầm trọng thêm.
1.5.2.2. Đối với lĩnh vực lưu thông :
Trong lĩnh vực lưu thông, khi giá cả hàng hóa tăng nhanh thì tình trạng đầu cơ,
tích trữ hàng hóa thường là hiện tượng phổ biến khiến tình trạng khan hiếm hàng hóa
trở nên trầm trọng. Do đó người tham gia vào quá trình lưu thông trở nên hỗn loạn.
Tiền trong tay người này vừa bán xong lại nhanh chóng được đẩy ra lưu thông, tốc độ
lưu chuyển tiền mặt nhanh chóng khiến tình trạng lạm phát thêm trầm trọng.
1.5.2.3. Đối với lĩnh vực tiền tệ , tín dụng :
Trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, lạm phát tăng cao khiến tỷ giá
hối đoái tăng lên. Sự mất giá của đồng tiền khiến xuất khẩu có lợi thế nhưng lại gây
thiệt hại đối với hàng hóa nhập khẩu. Lạm phát cao, siêu lạm phát làm giảm số lượng
người dân đi gửi tiền, khả năng thanh khoản của ngân hàng kém đi khiến nhiều ngân
hàng bị phá sản. Lạm phát tăng nhanh khiến người dân không muốn nắm giữ tiền mặt

hàng hóa, chuyển qua các loại đồng ngoại tệ mạnh, các kim loại quý (vàng, bạch kim )
và đẩy mạnh tích trữ hàng hóa do kì vọng lạm phát tăng trong tương lai khiến dòng tiền
lưu thông nhanh hơn, giá cả hàng hóa tăng cao hơn và lạm phát tăng nhanh hơn trước.
1.5.2.8. Lạm phát và nợ quốc gia :
Lạm phát khiến giá trị đồng tiền quốc nội giảm giá mạnh so với ngoại tệ, các
khoản vay trước đây tăng cao hơn gây sức ép lên nền kinh tế quốc gia. Tuy được lợi
trong các khoản vay vốn trong nước nhưng chính phủ lại bị thiệt trong các khoản vay
ngoại tệ nước ngoài.
1.5.2.9. Các chi phí xã hội của lạm phát :
Lạm phát vừa có thể gây ra những tác hại mà ta có thể dễ nhận biết nhưng cũng
đồng thời gây ra những tác hại mà ta khó có thể nhận biết đó chính là chi phí xã hội của
lạm phát.
- Chi phí mòn giày: Lạm phát cao hơn làm tăng lãi suất danh nghĩa mà hệ quả
mọi người sẽ giảm số tiền nắm giữ. Nếu mọi người giữ số dư tiền thực tế ít hơn, thì họ
phải thường xuyên đến ngân hàng rút tiền. Điều này làm bạn phải đi rút tiền nhiều hơn
(giầy bạn mòn hơn).
- Chi phí thực đơn: Lạm phát cao hơn làm cho doanh nghiệp thay đổi giá cả
thường xuyên hơn. Việc này là tốn kém nếu họ in lại biểu giá và cataglo.
- Giá cả tương đối biến động mạnh hơn. Nếu trong giai đoạn ổn định các doanh
nghiệp không thay đổi giá cả thường xuyên thì lạm phát sẽ làm cho giá cả tương đối
biến động mạnh hơn mà nền kinh tế thị trường lại phân bổ nguồn lực dựa trên giá cả,
lạm phát dẫn đến tính phi hiệu quả của nền kinh tế.
- Thay đổi gánh nặng về thuế. Nhiều luật thuế không tính đến tác động của lạm
phát. Do đó, lạm phát có thể làm thay đổi gánh nặng về thuế của các cá nhân và doanh
nghiệp, ngoài dự kiến ban đầu của các nhà hoạch định gây ra cản trở tiết kiệm và phát
triển kinh tế.
- Sự nhầm lẫn bất tiện: Lạm phát tăng cao khiến giá của hàng hóa biến động liên
tục, giá trị của đồng tiền giảm xuống và thước đo lợi nhuận của các doanh nghiệp trở
nên khó khăn và việc lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp trở nên phức tạp và dễ
nhầm lẫn hơn.

kết hợp hài hòa linh hoạt tỷ giá và lãi suất, tăng cường sự phối hợp giữa các bộ ban
ngành, sự kết hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, nâng cao công tác
thống kê, dự báo, phản ứng kịp thời trước những diễn biến kinh tế, tiền tệ trong và
ngoài nước, đảm báo tính thanh khoản của các tổ chức tín dụng nhằm mục đích kiềm
chế lạm phát thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Và một trong những biện pháp quan trọng kiềm chế lạm phát mà ngân hàng trung
ương phải làm đó là giảm lương tiền trong lưu thông bằng các biện pháp khác nhau
như:
- Đóng băng tiền tệ : ngân hàng trung ương thắt chặt việc thực hiện các nghiệp vụ
tái chiết khấu, tái cấp vốn, cho vay theo hồ sơ tín dụng, giới hạn tăng trưởng tín dụng
ngân hàng nhằm mục đích giảm bớt lượng tiền đang lưu thông trên thị trường
- Nâng lãi suất : khi lãi suất tiền gửi tăng cao sẽ thu hút người dân gửi tiền hơn
thay vì giữ tiền lưu thông, hay chuyển sang cất trữ vàng và đổi sang ngoại tệ, các doanh
nghiệp sẽ gửi các khoản tiền không kì hạn vào ngân hàng khiến dòng tiền lưu thông
trên thị trường ít lại. Việc tăng mức dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương cũng làm
giảm khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại làm giảm lượng tiền lưu thông trên
thị trường, giảm sức ép tăng giá.
- Tiến hành vay nợ bên ngoài nhằm đảm bảo các nguồn lực nhằm đối phó với lạm
phát (giữ ổn định đồng nội tệ, nhập khẩu các mặt hàng trọng yếu nếu xảy ra tình trạng
khan hiếm).
Ngoài ra, ngân hàng sẽ phát hành các công cụ vay nợ cho chính phủ như trái
phiếu nhằm thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong dân chúng. Trong thời kì lạm phát cao
tâm lý người dân sẽ hoang mang và sẽ thực hiện việc bảo toàn tài sản của mình bằng
việc rút tiền ồ ạt nhằm chuyển sang đầu tư các loại hàng hóa có giá khác nên ngân hàng
trung ương cần hỗ trợ vốn nhằm đảm bảo tính thanh khoản cho các ngân hàng thương
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 16
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
mại, tránh để xảy ra tình trạng mất thanh khoản gây ra tình trạng hoảng loạn trong dân
chúng càng khiến tình trạng lạm phát tồi tệ hơn

mạnh công tác y tế cho người nghèo Việc đảm bảo an sinh – xã hội cũng là một yếu
tố quan trọng giúp phát triển kinh tế, xã hội ổn định và ngăn chặn lạm phát.
1.6.2.2. Đổi mới chính sách quản lý tài chính công :
Đẩy mạnh tăng cường quản lý các khoản thu, tăng thu từ thuế dựa trên cơ sở mở
rộng và nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thu về thuế. Trong việc thực hiện ngân sách
nhà nước phải thực hành tiết kiệm, đảm bảo chi phải hiệu quả thúc đẩy kinh tế phát
triển, chống thất thoát lãng phí trong các dự án đầu tư của chính phủ nhằm đảm bảo cân
đối ngân sách chính phủ. Giảm bội chi là nhân tố quan trọng trong chống lạm phát.
1.6.2.3. Thực hiện chiến lược thị trường cạnh tranh hoàn hảo :
. Phấn đấu đến việc xây dựng thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Vì trong thị trường
cạnh tranh hoàn hảo, mọi doanh nghiệp đều công bằng như nhau về các chính sách nên
các doanh nghiệp phải cố gắng hết sức để cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất vừa tăng
chất lượng nhưng cũng đảm bảo chất lượng vì thế tình hình lạm phát cao sẽ ít xảy ra do
thiếu nguồn cung hay do sự lũng đoạn thị trường. Vì thế các chính phủ cần xây dựng
các bộ luật sao cho thúc đẩy việc cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp, chống
độc quyền
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 17
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
1.6.2.4. Dùng lạm phát chống lạm phát :
Những quốc gia hiện tại vẫn còn tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, đất đai, con
người, chưa đạt đến mức sản lượng tiềm năng có thể gia tăng chi cho đầu tư phát triển,
có thể sử dụng lâu dài như công trình cầu đường, sân bay nhằm đem lại lợi ích kinh tế
trong tương lai.
1.6.2.5. Tạo lòng tin người dân vào Chính Phủ :
Đẩy mạnh công tác quản lý giá thị trường, xây dựng các quỹ dự trự hàng hóa
nhằm xuất dùng những lúc cần thiết, chống nạn đầu cơ lũng đoạn thị trường tạo tâm lý
tốt cho người dân về các biện pháp của nhà nước cũng là yếu tố quan trọng chống nạn
lạm phát cao.
1.7. Hiện tượng giảm phát :

+ Do nhu cầu giảm xuống nên khiến sản xuất bị đình trệ, doanh nghiệp không
muốn đầu tư gia tăng sản xuất gây lãng phí nguồn tài nguyên, tình trạng xuất khẩu suy
giảm do các nước trên thế giới giảm cầu.
+ Tình hình sản xuất trong nước ảm đạm do nhu cầu tiêu thụ hàng hóa suy giảm,
giá cả giảm xuống, nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, tình trạng sản xuất bị đình đống
gây nguy hại đến nền kinh tế trong nước
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 18
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
CHƯƠNG 2 :
THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
2005 – ĐẾN NAY
2.1. Thực trạng :
Kể từ khi giải phóng thông nhất đất nước đến nay, Việt Nam đã trải qua những
cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, lạm phát tăng cao như giai đoạn 1976 – 1990 đạt
mức đỉnh điểm vào năm 1987 với mức tăng 700%-1000%, đồng tiền mức giá trầm
trọng, đời sống nhân dân lâm vào cảnh khó khăn. Nhằm xoay chuyển tình thế Việt Nam
thực hiện nhiều biện pháp trong chính sách tài khóa và tiền tệ và đã đưa giúp lạm phát ở
Việt Nam giảm xuống chỉ còn 5,3% năm 1993. Tuy vậy, do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, tác động của cú sốc về giá năm 2007 và cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu bắt đầu năm 2008 đã làm chỉ số lạm phát Việt Nam đang có những diễn biến
phức tạp với mức tăng 2 con số trở thành nỗi lo đối với các nhà làm chính sách trong
việc điều hành nền kinh tế vĩ mô.
2.1.1. Giai đoạn 2005 – 2008 :
Bảng 1 : CPI qua các năm 2006 , 2007 , 2008
Như được "tiếp sức" từ năm 2007, lạm phát tại Việt Nam bùng phát mạnh đạt
mức tăng cao kỉ lục với mức tăng đến 22,97% vào năm 2008 do ảnh hưởng cuộc cơn
bão giá đầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra mối nguy lớn cho
tình hình kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhìn vào biểu đồ CPI trên hình ta nhận thấy có những điểm đáng lưu ý trong chỉ

liên tục sụt giảm (từ mức 16.112 VND có thời điểm xuống mức thấp là 15.560 VND).
Trên thị trường tự do, tỷ giá VND/USD dao động mức 15.700 – 16.000 VND/USD.
Nguyên nhân là do đây là giai đoạn gần tết Dương lịch, lượng kiều hối đổ về khá lớn,
bên cạnh đó kì vọng VND sẽ tăng giá so với USD, chênh lệch giữa lãi suất VND và
USD cũng khiến giới đầu tư tập trung bán ngoại tệ đổi lấy tiền đồng cộng thêm việc
ngân hàng nhà nước không mua ngoại tệ nhằm kiềm chế lượng tiền trong lưu thông,
hạn chế bơm tiền ra bên ngoài phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát.
- Trong giữa tháng 3 đến giữa tháng 7/2008, tỷ giá tăng dần đều và tăng vọt vào
giữa tháng 6/ năm 2008, đỉnh điểm lên đến 19.400 VND vào ngày 18/6/2008. Tâm lý
hoang mang, cộng thêm tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ cũng khiến tỷ giá tăng cao.
- Từ nửa cuối tháng 7/2008: tỷ giá giảm và dần đi vào ổn định. Nhờ có sự can
thiệp kịp thời của ngân hàng nhà nước nên tỷ giá đã được bình ổn giảm từ 19.400 đồng
xuống còn 16.400 đồng và giao dịch quanh mức 16.600 VND trong giai đoạn từ tháng
8 đến tháng 11/2008.
Với diễn biến như vậy, tỷ giá hối đoái đã gây ra tình trạng hoang mang trong dân
chúng khiến giới đầu cơ có cơ hội trục lợi tăng giá các mặt hàng làm tình hình lạm phát
càng biến động theo chiều hướng xấu ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội của
người dân.
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 20
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
Bảng 2 : Hệ số ICOR của Việt Nam và một số quốc gia Châu Á
Dù đang tăng trưởng cao nhưng khả năng sử dụng nguồn vốn của Việt Nam lại rất
thấp, hiệu quả đầu tư không cao bằng chứng là hệ số ICOR tăng qua các năm (năm
2005 là 4,6, năm 2006 là 5,01, năm 2007 là 5,2, năm 2008 là 6,66).
Nền kinh tế Việt Nam đang mấp mế bờ vực khủng hoảng với những bong bóng
kinh tế chực chờ nổ tung trên thị trường tiền tệ, thị trường tín dụng ngân hàng, thị
trường bất động sản. Chỉ số CPI tăng cao trên mức 2 con số ảnh hưởng xấu đến đời
sống kinh tế xã hội của người dân.


trị sản xuất công nghiệp tăng 13,7%, kim ngạch xuất khẩu tăng 23,3% , nhìn chung hầu
hết các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế trong 10 tháng đầu năm 2010 đều tăng so
với cùng kì năm 2009).Nhưng vấn đề lo ngại nhất trong năm 2010 là vấn đề lạm phát.

Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 22
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
Bảng 4 : Chỉ số giá tiêu dùng đầu năm 2010 đến tháng 2 – 2011 Bảng 5 : CHỈ SỐ CPI THÁNG 2 QUA CÁC NĂM
Nguồn : Tổng cục thống kê

Trong 10 năm gần nhất, chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 đã có 8 năm vượt mức tăng
2% và tháng 2 năm nay cũng đạt mức tăng thấp nhất trong 8 năm vừa nêu.Tuy nhiên, so
Đỗ Nguyễn Hòa Phương – Lớp : 35k07.1
Trang 23
Đề án : Tài Chính – Tiền Tệ GVHD : Võ Thúy Anh
sánh trong ngắn hạn, CPI tháng 2/2011 đã tăng cao hơn mức của khoảng hơn 30 tháng
liền trước.So với tháng 12/2010, chỉ số giá tiêu dùng tháng này đã tăng 3,87%; so với
cùng kỳ tăng 12,31%. CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2011 so với cùng kỳ đã tăng
12,24%.Luôn là nguyên nhân tiêu dùng tăng tháng Tết dẫn đến chỉ số giá tăng cao. Các
mức “định lượng” được công bố gần đây về tổng cầu, mức độ mua sắm của khu vực dân
cư… cũng cho thấy điều này.132 nghìn tỷ đồng hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng
thương mại; tổng tiền gửi giảm trong khi tín dụng tăng trên dưới 3% hai tháng liên tiếp
trước Tết Nguyên đán; kiều hối về nhiều; thưởng Tết cao hơn năm ngoái… rõ ràng đã tạo
ra tổng cầu lớn trong tháng 2.Bộ Tài chính ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu
dịch vụ tiêu dùng thiết yếu đã tăng khoảng 20-25% so với năm ngoài trong khoảng thời
gian trước Tết Nguyên đán vừa qua.
Trong khi đó, chi phí đầu vào sản xuất tăng trong tháng qua, dưới sự tác động của

Kỳ gốc
năm 2009
Tháng 1
năm 2010
Tháng 12
năm 2010

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG C 118,63 112,09 101,86
I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 01 123,19 116,30 102,61
1- Lương thực 011 129,31 115,27 102,42
2- Thực phẩm 012 121,99 117,46 102,84
3- Ăn uống ngoài gia đình 013 119,26 112,87 101,91
II. Đồ uống và thuốc lá 02 115,94 110,08 101,72
III. May mặc, mũ nón, giầy dép 03 114,37 108,56 101,88
IV. Nhà ở và vật liệu xây dựng (*) 04 124,34 113,63 101,11
V. Thiết bị và đồ dùng gia đình 05 109,91 106,84 100,84
VI. Thuốc và dịch vụ y tế 06 105,55 104,30 100,38
VII. Giao thông 07 115,31 103,80 100,74
VIII. Bưu chính viễn thông 08 90,73 94,18 99,92
IX. Giáo dục 09 131,97 124,81 103,88
X. Văn hoá, giải trí và du lịch 10 105,62 103,51 100,65
XI. Hàng hoá và dịch vụ khác 11 117,77 109,54 101,02
(*) Nhóm này bao gồm: tiền thuê nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng
2.2. Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam :
2.2.1. Nguyên nhân khách quan :
2.2.1.1. Sự gia tăng đột biến giá các mặt hàng thiết yếu trên toàn cầu :
Việt Nam hiện nay vẫn là một nước nhập siêu với khối lượng hàng hóa cần nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status