Lời Mở Đầu
Trong nền kinh tế thị trường tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò rất quan
trọng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm là cầu
nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất và
cũng là khâu đầu tiên của quá trình tái sản xuất trong doanh nghiệp. Ta thấy
rằng không có tiêu dùng thì không có sản xuất. Quá trình sản xuất trong nền
kinh tế thị trường thì phải căn cứ vào việc có tiêu thụ dược sản phẩm hay
không. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển hoá từ hàng sang
tiền nhằm thực hiện việc đánh giá giá trị của hàng hoá sản phẩm trong kinh
doanh của doanh nghiệp.
Mục tiêu hàng đầu hiện nay mà các doanh nghiệp theo đuổi là lợi nhuận.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để doanh nghiệp hoạt động thành công làm ăn có
lãi trong điều kiện môi trường cạnh tranh gay gắt, tài nguyên khan hiếm như
hiện nay. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp, và doanh nghiệp có tiêu thụ được sản phẩm mới thu hồi được
vốn, thu được lợi nhuận. Doanh nghiệp lại sử dụng vốn và lợi nhuận thu được
để tái sản xuất kinh doanh, chi trả cho lương và các chi phí khác. Ngược lại,
nếu không tiêu thụ được, sản phẩm các doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng, doanh
nghiệp không thu được vốn, không có lợi nhuận, hoạt động tái sản xuất kinh
doanh không được thực hiện dẫn đến thua lỗ và phá sản.
Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta còn chưa chú trọng và
quan tâm đúng mức công tác tiêu thụ sản phẩm, do đó việc tiêu thụ sản phẩm
gặp rất nhiều khó khăn. Sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng năm lượng tồn kho rất
nhiều,vốn không thu hồi được. Công ty Dược Liệu Trung Ương I cũng là một
trong số đó.
1
Ngành Dược Việt Nam cũng như ở nhiều nước khác đang đứng trước
những áp lực mạnh mẽ nạn thuốc nhập lậu, thuốc giả kém chất lượng trôi nổi
trên thị trường, ngày càng có nhiều Công ty, Xí nghiệp nước ngoài liên doanh
và đăng ký kinh doanh Dược tại Việt Nam dẫn đến môi trường cạnh tranh
+ Kiến nghị, đề xuất một số ý kiến nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản
phẩm tại Công ty Dược Liệu Trung Ương I.
*Kết cấu của Luận văn:
Luận văn gồm 3 phần chính:
Phần I: Thực trạng ngành Dược Việt Nam. Những cơ hội và thách
thức đối với Công ty Dược Liệu Trung Ương I.
Phần II: Thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty Dược
Liệu Trung Ương I.
Phần III: Một số giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản
phẩm của Công ty Dược Liệu Trung Ương I trong thời gian tới.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp của mình, em nhận
được sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Mạnh
Quân và cô giáo Thạc sĩ Hoàng Thuý Nga trong quá trình em hoàn thành đề
tài.
Bên cạnh đó em còn được các cán bộ lãnh đạo của công ty, các cán bộ
của các phòng ban chức năng, đặc biệt là các cô, các chú, các anh ở phòng
kinh doanh nhập khẩu đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá
trình em thực tập và cung cấp tài liệu để em có thể hoàn thành bài viết của
mình.
Em xin chân thành cảm ơn !
3
Phần I
Ngành Dược Việt Nam – thực trạng,
những cơ hội và thách thức đối với Công
ty Dược liệu trung ương I.
4
I. Tính chất, đặc điểm ngành dược và thực trạng ngành Dược hiện nay.
1.1 Tính chất và đặc điểm của ngành hàng dược:
Cũng như tất cả các hàng hoá khác, các mặt hàng dược được sản xuất,
kinh doanh trên thị trường và chịu sự tác động của các quy luật thị trường,
quan trọng.
* Sản phẩm ngành dược có quy định chặt chẽ về thời gian sử dụng, số
lượng sử dụng nên trong quá trình sản xuất các mặt hàng Dược cần phải đảm
bảo tính thời hạn sử dụng của từng loại thuốc. Trong khoảng thời gian đó
thuốc sẽ phát huy tác dụng tốt nhất, nếu quá thời hạn đó thuốc không còn tác
dụng và dễ gây nên các phản ứng phụ.
* Nhu cầu rộng lớn và tiềm năng.
Nhu cầu đối với các mặt hàng Dược là rất lớn và nó có khả năng có
mặt khắp mọi nơi có dân cư sinh sống vì người dân luôn cần và mong muốn
có thuốc để chăm sóc bảo vệ sức khoẻ dù nhiều hay ít. Với nhu cầu rộng rãi
như thế cho nên việc sản xuất buôn bán kinh doanh các mặt hàng thuốc cũng
mở rộng len lỏi đến tất cả mọi nơi. Thị trường thuốc phát triển khắp mọi nơi
tuỳ từng sự phát triển mà thị trường ở đó có các đại lý, chi nhánh, cửa hàng
lớn hay nhỏ. Nhu cầu thuốc tăng lên cùng với mức thu nhập và dân trí người
dân.
Tuỳ từng điều kiện kinh tế và nhận thức của người dân mà họ có nhu
cầu thuốc khác nhau. Những người có mức thu nhập cao thường mua các loại
thuốc đắt tiền hơn và họ có nhu cầu và điều kiện đi khám bệnh cao hơn.
Ngoài các mặt hàng thiết yếu, những người nghèo có thu nhập thấp không thể
mua được các loại thuốc đắt tiền và họ có thể bỏ mặc một số căn bệnh không
chữa vì quá khả năng mặc dù họ rất cần cho sức khoẻ của mình. Nhưng khi
6
có điều kiện khá hơn họ sẽ sẵn sàng chi tiền mua thuốc và chữa bệnh, năng đi
khám bệnh hơn. Không chỉ đúng với người nghèo mà nó đúng với mọi người
dân. Họ luôn có nhu cầu tiêu dùng các loại thuốc tốt hơn trong khả năng của
mình, điều này cho thấy là nhu cầu về các mặt hàng thuốc là rất lớn và không
ngừng tăng lên.
Trình độ dân trí của người dân cũng ảnh hưởng đến nhu cầu về thuốc
men của họ, nó xuất phát từ sự nhận thức về sức khoẻ và bảo vệ sức khoẻ. Có
người có điều kiện nhưng không quan tâm và coi trọng căn bệnh nên không
này cũng phụ thuộc không nhỏ vào các thị trường khác nhau và lương tâm
của người bán hàng khi họ bán hàng cho khách.
Tóm lại, ngành hàng dược là ngành đem lại tỷ suất lợi nhuận cao do
tính chất đặc biệt của nó. Có thể vì điều này mà ngày nay thị trường thuốc
phát triển đến chóng mặt và ngày càng có nhiều chủ thể tham gia vào sản
xuất kinh doanh và buôn bán thuốc.
* Vốn kinh doanh lớn
Là ngành kinh doanh có tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất trên thị
trường, tốc dộ tiêu thụ ngày càng cao song ngành hàng dược là ngành đòi hỏi
có vốn lớn trong kinh doanh. Đối với các công ty sản xuất kinh doanh ngành
hàng Dược, vốn luôn là yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
công ty. Thuốc là sản phẩm sản xuất và tiêu dùng luôn không phù hợp với
nhau. Bệnh tật xuất hiện bất thường và xuất hiện mọi lúc, mọi nơi. Chỉ khi
nào nhu cầu để chữa bệnh thì người sử dụng mới tiêu thụ thuốc. Nhưng các
công ty sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực này lại khác, công ty luôn sản
xuất và không ngừng sản xuất để cung ứng thuốc ra thị trường. Khối lượng
thuốc cung cấp là liên tục và rất lớn nhưng không thể tiêu thụ một lúc mà là
cả thời gian dài, do vậy khi sản phẩm chưa tiêu thụ được, công ty chưa thu
hồi được vốn mà hoạt động sản xuất kinh doanh cũng phải tiếp tục diễn ra.
8
Như vậy để đảm bảo cho sản xuất kinh doanh, công ty phải cần một khối
lượng vốn rất lớn mới đảm bảo hoạt động kinh doanh không bị đứt quãng.
Đối với các công ty kinh doanh thuốc đặc biệt là những công ty có xuất nhập
khẩu thuốc với nước ngoài. Khối lượng thuốc nhập khẩu ngày càng lớn và
giá trị của nó rất cao. Để có thể đáp ứng được quá trinh kinh doanh của mình,
công ty cũng cần phải có một số vốn rất lớn để có thể nhập đủ hàng từ nước
ngoài. Mặt khác, như ở trên ta thấy ngành hàng dược là ngành có tỷ suất lợi
nhuận cao và có nhu cầu tiềm năng, thị trường rộng lớn. Điều này cũng quyết
định tới nhu cầu vốn của hoạt động kinh doanh ngành này. Nói tóm lại, điều
kiện đầu tiên để cho doanh nghiệp có thể hoạt động trên thị trường Dược đó
phần lớn các doanh nghiệp đều là doanh nghiệp sản xuất thuốc trung ương
(trung ương) như xí nghiệp Dược phẩm TWI, xí nghiệp Dược phẩm TWII
và một vài xí nghiệp dược phẩm địa phương như công ty dược phẩm Hậu
Giang, công ty dược phẩm Đồng Tháp với số vốn lớn, đội ngũ cán bộ công
nhân viên trẻ về tuổi đời, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ lại có tư duy đổi
mới. Họ đã mạnh dạn đầu tư, đổi mới, sản xuất ra nhiều sản phẩm có chất
lượng cao, có uy tín trên thị trường và đủ sức cạnh tranh được với hàng ngoại
nhập như: Apiciline, Amoxicilin, các loại Vitamin Còn tại các doanh
nghiệp sản xuất thuộc địa phương thì lượng vốn có rất ít, ít được đầu tư, sự
quản lý còn mang nặng tính quan liêu bao cấp, trang thiết bị thô sơ, công
nghệ thấp, trình độ cán bộ công nhân viên còn nhiều hạn chế, nếu họ chỉ sản
xuất ra những thuốc thông thường tiêu thụ trong phạm vi địa phương của
mình.
Tới nay, nền công nghiệp thuốc sản xuất trong nước đã có những bước
phát triển đáng kể. Tổng giá trị sản xuất trong nước tính theo doanh thu năm
1990 là 82 tỷ đồng Việt Nam, năm 1997 là 1385 tỷ đồng Việt Nam. Như vậy
năm 1997 đã tăng 17 lần so với năm 1990 song cũng chỉ chiếm khoảng 30%
so với nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân
(2)
. Chúng ta đã sản xuất được
1
)
(2)
Nguyễn Trọng Đễ - Nhìn lại công tác cung ứng thuốc trong hơn 10 năm đổi mới và những vấn đề đặt ra
cho công tác cung ứng thuốc trong thời gian tới-Tạp chí Dược học số 1-1999, tr7, tr 8.
2
10
nhiều loại thuốc cả về chủng loại và số lượng như thuốc kháng sinh, thuốc hạ
phần kinh tế phải quan tâm. Bất kỳ một ngành nào, một doanh nghiệp nào
muốn tồn tại và phát triển trong một xã hội đều phải chịu sự chi phối, ảnh
hưởng của các nhân tố cấu thành nên xã hội đó. Những nhân tố đó đều nằm
ngoài tầm kiểm soát và ý muốn. Doanh nghiệp không thể thay đổi được mà
chỉ có thể hạn chế sự ảnh hưởng của nó nếu nắm bắt và hiểu rõ các nhân tố
đó. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để tận dụng tối đa các cơ hội của môi
trường bên ngoài đem lại và tìm cách hạn chế hoặc né tránh những thách thức
đe doạ đối với công ty. Để tìm ra những cơ hội và mối đe doạ thì công việc
trước hết phải làm là phân tích những yếu tố của môi trường kinh doanh tác
động, ảnh hưởng đến sự tồn tại và hoạt động của công ty.
2.1.1. Phân tích môi trường vĩ mô
2.1.1.1. Các yếu tố kinh tế:
Các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế xá hội có ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới
các hoạt động của các ngành kinh tế nói chung và đối với công ty nói riêng.
Đối với ngành Dược, yếu tố kinh tế có những tác động chủ yếu sau:
a.Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Nhìn chung, trong những năm qua nước ta có tốc độ tăng trưởng kinh
tế khá cao và tương đối ổn định. Thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng
kể. Điều này được cho ở bảng1.1.
Khi kinh tế phát triển thu nhập người dân tăng lên thì nhu cầu về chăm
sóc sức khoẻ và bảo vệ sức khoẻ của người dân cũng ngày càng tăng. Cầu thị
trường về sản phẩm gia tăng là yếu tố tích cực kích thích sự phát triển của
ngành Dược nói chung và của công ty Dược liệu TWI nói riêng.
12
Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân
Năm G Thu nhập bình quân (1000đ)
1995 9,5 2473,2
1996 9,3 2720,4
1997 9,0 2930,2
1998 6,0 2730,0
1997 74.761 80.986
1998 132.983 64.298
1999 150.841 70.252
(Nguồn: Báo cáo tổng kết của Công ty dược liệu
TWI từ năm 1995-1999)
c.Tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, lợi nhuận của công
ty, của cán bộ công nhân viên và đến toàn xã hội. Tỷ lệ lạm phát tăng sẽ làm
cho giá trị của một đồng thu nhập giảm xuống và như vậy ảnh hưởng đến chi
tiêu cho gia đình. Khi giá trị thu nhập thấp, sẽ chú ý đến các yếu tố tác động
trực tiếp đến cuộc sống của họ như vấn đề về ăn, mặc, ở … mà ít chủ trọng
đến công tác bảo vệ sức khoẻ và như vậy đối với ngành hàng Dược sẽ gặp
nhiều khó khăn.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, tỷ lệ lạm phát của nước ta ít biến
động trong điều kiện ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực trong
thời gian vừa qua : 1996 - 4,5%, 1997 - 4%, 1998 - 4,6% và 1999 - 4,1%
(4)
.
Tỷ lệ lạm phát này không gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế và
đây là một cơ hội cho ngành Dược tiếp tục phát triển.
d. Quan hệ quốc tế và chu kỳ kinh tế.
4
()
Tạp chí kinh tế phát triển. Tháng 9/1999
14
Ngoài ba yếu tố chủ yếu có tác động trực tiếp, nhanh và rõ rệt đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty kể trên thì còn phải kể đến hai nhân tố
tác động khác đó là quan hệ quốc tế và chu kỳ kinh tế. Sự ảnh hưởng của hai
nhân tố này không có biểu hiện rõ rệt mà phải trải qua một thời gian tương
• Về chu kỳ kinh tế:
Có thể nhận thấy rằng nền kinh tế của Việt Nam chúng ta đang trong
giai đoạn chuẩn bị cất cánh vơí đặc trưng cơ bản sau:
- Khoa học, kỹ thuật đã bắt đầu áp dụng vào các lĩnh vực công, nông
nghiệp, dịch vụ.
- Ngân hàng, tài chính, giao thông vận tải đã phát triển.
Do đó, cần thiết phải có sự đầu tư và tích luỹ để tạo sức bật cho nền
kinh tế hiện đại và sau này.
Sau những thay đổi và khó khăn khi thực hiện cơ chế thị trường thay
cho cơ chế kế hoạch, tập trung, nền kinh tế nước ta đang từng bước khôi
phục, ổn định và phát triển từ đó mà thu nhập quốc dân càng cao, thúc đẩy
nhu cầu tiêu dùng. Tuy nhiên, nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế Việt
Nam đang chịu ảnh hưởng của khủng hoảng gây nên những biến động trong
nền kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, việc làm của người dân mà
đặc biệt là giá trị đồng tiền nước ta có giá hơn đồng tiền của một số nước
trong khu vực. Do đó, ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động xuất khẩu của
các doanh nghiệp trong nước và nó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.
Mặc dù vậy theo dự báo của các nhà kinh tế thì đến năm 2000 nền kinh
tế sẽ trở lại ổn định và sẽ tiếp tục phát triển trong các năm tiếp theo.
2.1.1.2. Yếu tố kỹ thuật công nghệ
Đây là yếu tố rất năng động và có ảnh hưởng ngày càng lớn đến môi
trường kinh doanh của các doanh nghiệp. Sự gia tăng trong đầu tư nghiên cứu
16
và quá trình ứng dụng vào thực tế đã tác động nhanh chóng và sâu sắc đến
yếu tố và hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, thiết bị công nghệ
của nước ta nói chung và của các doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp nhà
nước) nói riêng là quá lạc hậu, phần lớn máy móc thiết bị sản xuất từ những
năm 60-70. Tính năng kỹ thuật không cao và thời gian sử dụng đã tương đối
dài, có nhiều máy móc đã hết khấu hao. Trong khi đó, cuộc cách mạng khoa
học, kỹ thuật, công nghệ đang phát triển với một tốc độ chóng mặt, máy móc,
Việc mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia khác trên thế giới về
mọi lĩnh vực của nước ta cùng với xu hướng toàn cầu hoá đã mở ra nhiều cơ
hội song cũng không ít khó khăn cho đất nước và các doanh nghiệp trong
nước.
Nhân tố chính trị, luật pháp thể hiện các tác động của nhà nước đến
môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị
trường thông qua các công cụ vĩ mô trong đó có các chính sách kinh tế và
pháp luật kinh tế.
Trong những năm qua và hiện nay chính trị của nước ta khá ổn định,
quan điểm của Đảng ta về đối nội là xây dựng một đất nước “Dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng và văn minh”, về đối ngoại chúng ta khẳng định
muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ
chính trị, trên cơ sở hoà bình, hợp tác, đôi bên cùng có lợi. Điều kiện tình
hình chính trị ổn định sẽ tạo ra một môi trường tốt cho các doanh nghiệp an
tâm hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hệ thống luật pháp nước ta chưa đầy đủ, đồng bộ nhưng ngày càng
được xây dựng hoàn chỉnh hơn, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh
tế, xã hội của đất nước, đặc biệt luật kinh tế được xây dựng khá nhanh. Đối
với ngành Dược, thời gian qua Bộ Y Tế và Chính phủ đã ra rất nhiều văn
bản, nghị định chỉ thị nhằm tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp hoạt động
đây cũng là cơ hội tốt cho công ty Dược liệu TW I để nắm bắt và tận dụng để
phát triển.
18
2.1.2. Phân tích môi trường ngành
2.1.2.1. Các đơn vị cạnh tranh hiện thời.
Đây là các cơ sở, doanh nghiệp, xí nghiệp cùng sản xuất kinh doanh
những sản phẩm, hàng hoá cùng chủng loại và chất lượng tương đương với
công ty. Sự cạnh tranh này rất mạnh mẽ, quyết định sự tồn tại hay suy yếu
của công ty, số lượng các doanh nghiệp và mức độ tăng trưởng của ngành
càng nhiều thì mức độ cạnh tranh càng lớn. Vì vậy, sự hiểu biết về các đối
công ty, xí nghiệp Dược khác đạt được đến con số hàng chục, hàng trăm tỷ
đồng. Do vậy những năm gần đây công ty luôn tìm các giải pháp đặc biệt là
về vốn để không những tăng nguồn vốn cho kinh doanh mà còn có khả năng
để đầu tư máy móc thiết bị mới phục vụ cho hoạt động sản xuất đạt hiệu quả
cao.
6
()
Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty so với ngành20
Bảng 1.3: Giá trị kinh doanh của Tổng công ty Dược
(Đơn vị: Triệu đồng)
Các doanh nghiệp Tổng giá trị kinh
doanh
Tỷ trọng
Tổng giá trị 2.102.374,1
Công ty DLTW I 208.360,8 9,91%
Công ty XNK y tế I 219.436,0 10,44%
Công ty DPTW I 416.993,9 19,83%
Công ty DPTW III 22,296,4 1,06%
Công ty XNK y tế II 229.442,6 10,91%
Công ty DPTW II 879.055,0 41,81%
Công ty DLTW II 89.833,1 4,27%
Trung tâm TM DP 36.956,3 1,76%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết của Tổng Công ty dược năm 1998)
21
Hình 1.1: Biểu đồ biểu thị tỷ trọng giá trị kinh doanh của các Công ty, xí
nghiệp trong Tổng công ty dược Việt Nam
2.1.2.3. Sức ép từ phía người cung cấp.
Trong cơ chế thị trường, việc mua bán tuân theo nguyên tắc “thuận
mua vừa bán” với một mức độ lợi nhuận nào đó cho cả hai phía. Những
người cung cấp chính của công ty gồm các tỉnh, xí nghiệp sản xuất trung
ương và địa phương, các công ty trung ương từ hoạt động sản xuất của công
ty và nguồn nhập khẩu. Nhìn chung, công ty có mối quan hệ tốt đối với các
nhà cung cấp, số lượng hàng hoá mua vào ngày càng gia tăng theo các năm,
thể hiện:
Bảng 1.4: Giá trị mua từ các nhà cung cấp qua các năm
(Đơn vị: triệu đồng)
Năm 1995 1996 1997 1998 1999
Các tỉnh 4.240 18.673 27.151 44.156 68.000
XNSXTW 4.034 5.455 1.663 3.132 3.000
XNSXĐP 3.773 5.292 6.636 9.321 2.700
Các CTTW 0 0 947 4.060 1.400
Tự sản xuất 3.940 4.495 10.000 16.000 23.800
Nhập khẩu 62.514 69.641 74.761 128.331 113.100
Tổng 79.265 103.556 120.000 205.000 212.000
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của Công ty dược liệu TWI
từ 1995 - 1999)
Qua bảng số liệu cho thấy: năm 1997 nguồn nhập từ các tỉnh tăng đến
114,54% so với năm 1996, nhập khẩu tăng 107,35%
Do mối quan hệ hợp tác khá lâu dài, bền vững nên trong những thời
điểm cần thiết phải huy động một khối lượng lớn hàng hoá công ty cũng có
thể có được. Chính vì vậy, công ty luôn giữ được một khoảng cách khá an
toàn không để có những ảnh hưởng lớn đến hoạt động chung của công ty.
23
Mối quan hệ này cũng đã tạo điều kiện tốt cho nguồn đầu vào của công ty
được ổn định.
Về phía các nhà cung cấp máy móc, thiết bị sản xuất, trong những năm
trường thuốc đặc biệt là tham gia vào công tác xuất nhập khẩu do đó các xí
nghiệp địa phương, xí nghiệp trung ương có thể tự cung cấp hàng cho mình
với chi phí thấp hơn hoặc chọn những nhà cung cấp mới với nhiều lợi thế
hơn.
Khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của công
ty. Do vậy, trong những năm qua công ty đã không ngừng củng cố mối quan
hệ tốt với các bạn hàng truyền thống và thiết lập tìm kiếm các bạn hàng mới
để thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
25