giao kết - thực tiễn hợp đồng mua bán điện năng tại công ty điện lực gia lâm và một số khuyến nghị - Pdf 10

Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO từ tháng 11
năm 2006, đây chính là thời cơ và cũng chính là cơ hội lớn đối với đất nước
ta. Để thực hiện đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là hội
nhập nhưng không hoà tan thì chúng ta trước hết phải có tự chủ về mặt kinh
tế xây dựng nền kinh tế phát triển toàn diện thực hiện mục tiêu đến năm
2020 đưa nước ta thành một nước công nghiệp theo nghị quyết đại hội Đảng
IX đã đề ra. Để phát triển công nghiệp thì vấn đề năng lượng luôn là một vấn
đề nhức nhối đặt ra cho các nền kinh tế và Việt nam cũng vậy. Trong giai
đoạn hiện nay vấn đề thiếu hụt về năng lượng để phục vụ sinh hoạt và sản
xuất kinh doanh đang diễn ra rất cấp thiết và đặc biệt là thiếu hụt năng lượng
điện. Tình trạng thiếu điện, cắt điện luân phiên trên cả nước ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống của nhân dân và sự phát triển của nền kinh tế đặc biệt là
trong bối cảnh hiện nay ngành điện đang xây dựng một thị trường điện cạnh
tranh. Là một sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế và có cơ hội thực tập tại
Công ty Điện lực Gia Lâm dưới sự hướng dẫn của các thầy cô trong khoa và
tập thể cán bộ công nhân viên của Công ty Điện lực Gia Lâm em đã chọn đề
tài: “ Giao kết - Thực tiễn hợp đồng mua bán điện năng tại Công ty Điện
lực Gia lâm và một số khuyến nghị”. Đề tài có nội dung chính như sau:
Chưong I: Cơ sở pháp lý về hợp đồng trong hoạt động kinh doanh
Chương II: Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán điện
năng tại Công ty Điện lực Gia Lâm
Chương III: Quá trình chuyển đổi của ngành điện và các vấn đề về
giao kết hợp đồng mua bán điện dặt ra đối với Công ty Điện lực Gia Lâm.
Hợp đồng luôn là một vấn đề then chốt là xương sống trong hoạt động kinh
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k451
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
doanh của một doanh nghiệp với mô hình thị trường điện cạnh tranh thì có
nhiều thay đổi lớn theo hướng có lợi cho người tiêu dùng.Với phương pháp
nghiên cứu là tiếp cận thực tiễn sử dụng các phương pháp so sánh và phương

nhiều bên về một vấn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh thay đổi
hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên đó.
Theo điều 388 Bộ luật dân sự 2005 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của
Quốc hội khoá X đã đưa ra khái niệm một cách khái quát như sau: “ Hợp
đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k453
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
1.1.2 Đặc điểm
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thoả thuận trong giao kết
hợp đồng được đề cao. Tất cả các hợp đồng đều là sự thoả thuận, tuy nhiên
không thể suy luận ngược lại mọi sự thoả thuận đều là hợp đồng. Chỉ được
coi là hợp đồng những thoả thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức
là có sự ưng thuận đích thực giữa các bên. Hợp đồng phải là giao dịch hợp
pháp do vậy sự ưng thuận ở đây phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp
pháp luật, hợp đạo đức. Các hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự
lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự ưng thuận đích thực.
Những trường hợp có sự lừa dối, đe doạ, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận
cũng không coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu hợp đồng. Như vậy, một
thoả thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không phát sinh các
quyền và nghĩa vụ pháp lý.
Giao kết hợp đồng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và
nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan hệ hợp đồng. Thông qua hợp đồng
các bên xác lập được đối tượng nghĩa vụ của hợp đồng. Hợp đồng sẽ không
có hiệu lực pháp lý đối với những ngiã vụ không thể thực hiện được
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng gọi là chủ thể của hợp đồng.Chủ
thể của hợp đồng có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác. Trong
quan hệ hợp đồng, chủ thể có nghĩa vụ thực hiện một hành vi phát sinh từ
hợp đồng là chủ thể có nghĩa vụ. Chủ thể có quyền yêu cầu chủ thể bên kia
thực hiện hành vi của mình là chủ thể có quyền. Ngoại trừ những hợp đồng

nước ngoài để thành lập doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam .
Các loại hợp đồng khác.
1.1.3.3 Theo nghĩa vụ hợp đồng
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k455
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
Hợp đồng song vụ: Là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có nghĩa vụ
tức là mỗi bên chủ thể của hợp đồng song vụ đều có quyền và nghĩa vụ
tương ứng với nhau.
Hợp đồng đơn vụ: Là loại hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.
Và còn một số cách phân loại hợp đồng khác như: Phân loại theo hình
thức của hợp đồng, theo sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực của hợp đồng,
theo đối tượng của hợp đồng, theo tính chất đặc thù của hợp đồng, theo tính
thông dụng của hợp đồng. Trên đây là một số cách phân loại hợp đồng tuỳ
vào từng lĩnh vực cụ thể mà có thể xác định xem đó thuộc loại hợp đồng nào
để soạn thảo thực hiện hợp đồng một cách chính xác minh bạch tránh nhầm
lẫn gây ra tranh chấp.
1.2 HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
1.2.1 Khái niệm
Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Đây là khái niệm chung về hợp đồng mà Quốc hội đã đưa ra tại điều
388 Bộ luật Dân sự 2005 và cũng là khái niệm hợp đồng dân sự. Do có giao
kết hợp đồng cho nên quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên phát sinh.
Trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự thoả hiệp giữa các ý chí,
tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau. Người ta thường gọi nguyên
tắc này là nguyên tắc hiệp ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do
hợp đồng: Khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp
đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên. Tự do hợp
đồng không phải là tự do tuyệt đối mà tự do trong giới hạn pháp luật. Nhà
nước buộc các bên khi giao kêt hợp đồng phải tôn trọng pháp luật, đạo đức,

thể của quan hệ pháp luật dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005.
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k457
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
Các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng dân sự bao gồm:
- Cá nhân: Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có đủ nămg lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự. và có quyền độc lập trong giao kết hợp đồng.
- Pháp nhân: Chủ thể là pháp nhân khi được công nhận là có tư cách
pháp nhân.
+ Được thành lập hợp pháp
+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ.
+ Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chụi trách
nhiệm bằng tài sản đó.
+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ một cách độc lập
Pháp nhân tham gia vào các giao dịch thông qua người đại diện của
mình. Có hai loại đại diện là đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ
quyền. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định trong
quyết định thành lập hoặc trong Điều lệ của pháp nhân.
- Các chủ thể khác
Trong các trường hợp khác thì chủ thể của hợp đồng có thể là: hộ gia
đình, tổ hợp tác là chủ của các hợp đồng dân sự. Khi tham gia vào hợp đồng
thì các chủ thể này cũng phải thông qua người đại diện.
1.2.3 Nội dung của hợp đồng dân sự
Nội dung của hợp đồng dân sự gồm những điều khoản mà các bên tham
gia giao kết hợp đồng thoả thuận xác lập nên sau khi đã tự do bàn bạc
thương lượng. Nội dung của hợp đồng dân sự xác định rõ ràng quyền và
nghĩa vụ của các bên, quyết định tính khả thi của hợp đồng cũng như hiệu
lực pháp lý của hợp đồng. Các bên khi thoả thuận nội dung của hợp đồng
phải bảo đảm là những nội dung với các điều khoản rõ ràng, cụ thể, có tính
hiện thực cao, có khả năng thực hiện trong cuộc sống. Những điều khoản
này thể hiện ý chí của hai bên và có thể chia làm ba loại điều khoản như sau:

Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
thuận xác lập được quyền và nghĩa vụ dân sự trong nội dung của hợp đồng
đối với nhau. Trình tự này có thể khái quát như sau:
Một bên đề nghị về nội dung chủ yếu của hợp đồng và phải chụi trách
nhiệm về lời đề nghị đó. Trong thời hạn để cho bên được đề nghị trả lời thì
không được mời người thứ ba.
Việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực trong thời hạn đề nghị còn nếu trả
lời quá hạn thì coi như đề nghị mới của bên được đề nghị.Trong giao dịch
được thực hiện bằng cách trực tiếp ngồi bàn bạc thương lượng, gọi điện
thoại thì bên được đề nghị phải trả lời ngay chấp nhận hay không chấp nhận
trừ trường hợp cho bên đề nghị thời hạn được trả lời.
Bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong trường hợp bên
được đề nghị chưa nhận được đề nghị hoặc đề nghị có nêu rõ điều kiện của
việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị.
Đề nghị giao kết hợp đồng được chấm dứt trong các trường hợp sau:
+ Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc là chậm trả lời chấp
nhận
+ Hết thời hạn trả lời chấp nhận
+ Trong trường hợp bên được đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị
thì coi như bên được đề nghị đó là người đề nghị mới
Trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
nhưng có nêu điều kiện hoặc là sửa đổi đề nghị thì cũng coi như là đưa ra
điều kiện mới.
1.3 HỢP ĐỒNG KINH DOANH - THƯƠNG MẠI
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật thương mại và
hợp đồng thương mại Việt Nam
Khái niệm luật thương mại là luật của các thương nhân được hình
thành từ quy tắc nghề nghiệp của họ. Luật thương mại diều chỉnh các giao
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k4510
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế

một số nội dung chưa phù hợp với thực tiễn phát triển của hoạt động thương
mại Việt Nam; chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hội nhập kinh tế
quốc tế; bên cạnh đó còn có những quy định chồng chéo, mâu thuẫn với
những quy định khác của pháp luật trong nước.
Do đó luật thương mại 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6
năm 2005 ra đời để khắc phục những nhược điểm của Luật thương mại
1997. Luật thương mại 2005 có 9 chương với 324 điều nhằm đáp ứng các
yêu cầu điều chỉnh các quan hệ kinh doanh – thương mại đang diễn ra ngày
một đa dạng và phức tạp ở Việt Nam. Luật thương mại 2005 ra đời về cơ bản
vẫn dựa trên các nội dung chính của Luật thương mại 1997 nhưng có sử đổi
sao cho phù hợp với thực tế.
1.3.2 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng thương mại
Trong các văn bản luật thì chưa có văn bản nào đề cập đến hợp đồng
kinh doanh thương mại nhưng có khái niệm những hợp đồng cụ thể trong
hoạt động thương mại như hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ.
Ta có thể hiều hợp đồng thương mại là sự thoả thuận giữa các thương nhân
hoặc một bên là thương nhân về việc thực hiện một hay nhiều hành vi của
hoạt động thương mại nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận
Hợp đồng thương mại có những đặc điểm của các hợp đồng trong hoạt
động kinh doanh nói chung và có những đặc điểm riêng của các hoạt động
thương mại.
Chủ thể của hợp đồng thương mại là thương nhân hoặc một bên là
thương nhân. Thương nhân là các tổ chức kinh tế, cá nhân có đăng ký kinh
doanh và tiến hành các hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc
lập. Thương nhân nước ngoài được đặt Văn phòng đại diện, Chi nhánh tại
Việt Nam, thành lập tại Việt Nam doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k4512
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
theo các hình thức do pháp luật Việt Nam quy định.
Hình thức của hợp đồng thương mại có thể bằng lời nói, bằng văn bản

Hợp đồng kinh doanh thương mại thì có sự can thiệp sâu hơn của Nhà
nước hơn là hợp đồng dân sự bởi hợp đồng kinh doanh thương mại thường
có giá trị lớn và có ảnh hưởng đến một lượng người lớn trong xã hội như
hợp đồng kinh doanh thương mại của thương nhân có ảnh hưởng đến giá cả
hàng hoá trên thị trường, lợi ích của người tiêu dùng.
1.3.4 Một số loại hợp đồng thương mại điển hình
1.3.4.1. Hợp đồng mua bán hàng hoá
Theo Luật thương mại 2005 thì hoạt động mua bán hàng hoá là hành vi
thương mại, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu
hàng hoá cho người mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh
toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận.
Hoạt động mua bán hàng hoá được thể hiện dưới hình thức pháp lý là các
hợp đồng mua bán hàng hoá cũng có thể bằng lời nói, các hành vi cụ thể nếu
pháp luật cho phép.
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá: Hợp đồng mua bán hàng hoá
có thể được giao kết giữa các chủ thể bao gồm các tổ chức kinh tế được
thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường
xuyên và có đăng ký kinh doanh. Các thương nhân này có quyền hoạt động
thương mại trong các nghành nghề , tại các địa bàn, dưới các hinh thức và
theo phương thức mà pháp luật không cấm. Ngoài ra hợp đồng thương mại
còn được ký kết giữa các tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến
thương mại. Các tổ chức kinh tế ở đây là các doanh nghiệp tư nhân, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty nhà nước và các tổ chức kinh
tế khác. Thương nhân là các cá nhân bao gồm hộ kinh doanh cá thể có đăng
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k4514
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
ký kinh doanh và tiến hành hoạt động thương mại một cách độc lập,thường
xuyên.
Đối tượng của hợp đồng là hàng hoá. Hàng hoá ở đây là hàng hoá được
phép mua bán theo pháp luật của nước bên mua và bên bán. Hiện nay các

vụ đó.
Hiện nay WTO đã phân loại dịch vụ thành 12 nghành: dịch vụ kinh
doanh; dịch vụ liên lạc; dịch vụ xây dựng; dịch vụ phân phối…Nghiên cứu
cách phân loại này của WTO có thể phân chia thành hai loại dịch vụ chính:
Các dịch vụ thương mại hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh
và các dịch vụ kinh doanh không gắn liền với mua bán hàng hoá. Xuất phát
từ cách phân chia này thì Luật thương mại 2005 cũng đưa ra các loại hợp
đồng cung ứng dịch vụ thương mại như sau:
+ Hợp đồng dịch vụ khuyến mại;
+ Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại;
+ Hợp đồng dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá dịch vụ;
+ Hợp đồng đại diện cho thương nhân;
+ Hợp đồng uỷ thác;
+ Hợp đồng đại lý;
+ Hợp đồng gia công;
+ Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá;
+ Hợp đồng dịch vụ quá cảnh;
+ Hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Trong thực tế còn có nhiều loại hợp đồng cung ứng dịch vụ thương
mại khác trong các hoạt động tư vấn, vận tải, tài chính, bưu chính viễn
thông, du lịch, giáo dục, giải trí…Việc xác lập và thực hiện các hoạt động
này cũng phải thực hiện theo những quy định về hợp đồng cung ứng dịch vụ
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k4516
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
thương mại của Luật thương mại 2005.
1.3.4.3. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Hợp đồng mua bán quốc tế cũng là một hợp đồng mua bán hàng hoá,
do đó nó mang đầy đủ các tính chất đặc trưng của một hợp đồng mua bán
hàng hoá. Bên cạnh đó hợp đồng này còn mang yếu tố nước ngoài vượt ra
phạm vi một quốc gia. Luật thương mại 2005 của Việt Nam đã đề cập đến

Nội) với nhiệm vụ chủ yếu là quản lý lưới điện Gia Lâm, cung cấp điện năng
phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân .
2.1.1.2 Giai đoạn từ 1975 – 1994.
Sau khi đất nước thống nhất (30/4/1975) chi nhánh điện Gia Lâm là
một trong 5 chi nhánh thuộc ngoại thành Hà Nội có nhiệm vụ quản lý và
phân phối điện năng tới từng hợp tác xã, các hộ tư gia của thị trấn và một số
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k4518
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
xã mà Điện lực Gia Lâm quản lý với 4 ban bao gồm: Ban kinh doanh, Ban
kỹ thuật , Ban tổng hợp, Ban vật tư thiết bị và 5 tổ : Bắc Đuống, Gia Lâm ,
Đức Giang, Thạch Bàn, Bát Tràng.
2.1.1.3 Giai đoạn từ 1995 tới nay
Trong khi đất nước chuyển đổi cơ chế quản lý, để phù hợp hơn trong
điều kiện cơ chế thị trường. Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập
Tổng công ty theo mô hình tập đoàn kinh doanh (QĐ91/TTg ngày 07 tháng
3 năm 1994). Tổng công ty điện lực Việt Nam được thành lập và Sở điện lực
Hà Nội được đổi tên thành Công ty điện lực Hà Nội, là một trong năm thành
viên của Tônh công ty điện lực Việt Nam. Năm 1995 căn cứ vào quyết định
số 247 ĐVN/TCCB-LĐ của Tổng giám đốc Tổng công ty điện lực Việt
Nam, Chi nhánh điện Gia Lâm được đổi tên thành Điện lực Gia Lâm và trụ
sở được đặt tại 84 Ngô Gia Tự - Đức Giang – Gia Lâm.
Ngày 23 thangd 11 năm 2003 Thủ tướng chính phủ ra Nghị định số
132/2003/NĐ-CP thành lập quận Long Biên trên cơ sở tách từ huyện Gia
Lâm. Sự thay đổi hành chính này mà Điện lực Gia Lâm bị chia tách thành
Công ty điện lực Gia Lâm và Công ty điện lực Long Biên. Công ty điện lực
Gia Lâm đã được phân cấp trở thành một đơn vị hạch toán độc lập có nhiệm
vụ kinh doanh điện năng, quản lý và phân phối điện năng trên địa bàn
huyện.
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh
- Quản lý vận hành lưới điện từ cáp điện áp 0,4kV đến 110kV trên địa

- Các dịch vụ khác liên quan đến ngành điện.
2.1.3.2 Nhiệm vụ của Điện lực
Điện lực kinh doanh bán điện cho các cơ sở sản xuất, các tổ chức, các
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k4520
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
hộ tiêu dùng trong khu vực huyện Gia Lâm đồng thời có hoạt động truyền
tải và phân phối điện năng.
Để thực hiện tốt các chức năng trên Điện lực có các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức tốt kế hoạch hoá:
+ Lập kế hoạch phát triển lưới điện phân phối trong địa bàn.
+ Kế hoạch điện năng thương phẩm, kế hoạch cung ứng điện cho các
thành phần kinh tế và cho các địa phương.
+ Kế hoạch cải tạo nâng cấp lưới điện phân phối.
+ Kế hoạch kinh doanh mua bán điện.
- Thực hiện tốt nghĩa vụ ngân sách nhà nước: như nộp các khoản thuế
doanh thu, thuế VAT, thuế lợi tức, thuế tài nguyên, thuế trên vốn và các
khoản do đơn vị trực tiếp kinh doanh.
- Quản lý chặt chẽ khách hàng, điện năng thương phẩm.
- Tổ chức tốt công tác cán bộ, lao động tiền lương và lao động.
- Tổ chức tốt công tác quản lý lưới điện trong huyện.
- Tổ chức tốt công tác phát triển lưới điện nông thôn.
- Đảm bảo cung cấp điện an toàn, liên tục, chất lượng.
- Phấn đấu giảm chi phí trong sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ bản.
2.1.4 Loại hình doanh nghiệp, tư cách pháp lý của Công ty điện lực
Gia Lâm
Điện Lực Gia Lâm là DN Nhà Nước trực thuộc Công ty Điện Lực Hà
Nội, có trụ sở tại Trâu Quỳ-Gia Lâm. Thực hiện theo nghị định số 132/NĐ-
CP của Chính phủ ngày 23/11/2003 về điều chỉnh địa giới huyện Gia Lâm
cũ.
Quyết định số 72/QĐ-EVN-HĐQT ngày 08/03/2004 của Chủ Tịch Hội

PHÓ GIÁM ĐỐC KINH DOANH
Phòng
kĩ thuật
Phòng Điều
độ vận hành
Phòng kinh doanh & ĐNT
Phòng VT & CNTT
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k4523
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
Phòng tài chính kế
Phòng Kế hoạch vật tư
Bộ phận ĐTXD
Phòng Tổng hợp
02 Đội quản lý khách hàng (Đường 5 - Bắc Đuống)
2.1.5.1 Ban Giám đốc của Điện lực bao gồm:
- 1 Giám đốc
- 1 phó Giám đốc kỹ thuật vận hành
- 1 phó Giám đốc kinh doanh bán điện
* Giám đốc Điện lực:
Là người lãnh đạo cao nhất của Điện lực, người đại diện của Điện lực
trước Pháp luật Nhà nước, chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu (là Nhà nước
và Công ty Điện lực Hà Nội) về bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh.
Phụ trách chung và trực tiếp phụ trách, chỉ đạo, điều hành công tác
chiến lược phát triển; công tác quy hoạch; công tác Hành chính Tổng hợp;
công tác kế hoạch; công tác đổi mới doanh nghiệp và cổ phần hóa; công tác
Hoàng Thị Kim Dung Lớp luật kinh doanh – k4524
Chuyên đề thực tập Lớp Luật kinh tế
tài chính, kế toán; công tác quản lý đấu thầu; công tác thanh tra pháp chế;
công tác bảo vệ quân sự; công tác thi đua tuyên truyền; công tác phòng
chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status