Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của cty may Hồ Gươm - Pdf 10

Mở đầu
Bớc vào thế kỷ 21- kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn nhng cũng nhiều thách
thức, xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế đang là một vấn đề diễn ra sôi động và
cấp bách.
Trớc xu hớng đó, đối với nền kinh tế Việt Nam ngành dệt may đợc coi
là một trong những ngành rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất
nớc. Mục tiêu chiến lợc và nhiệm vụ của ngành là góp phần thực hiện đờng lối
của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc,
đảm bảo nhu cầu toàn xã hội đang không ngừng tăng lên về mọi mặt, không
ngừng tăng cờng sản xuất, xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao
động- vấn đề mà toàn xã hội đang quan tâm. Việc chuyển đổi nền kinh tế từ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nớc, cùng xu thế mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới. Công ty may
Hồ Gơm là một doanh nghiệp nhà nớc đã đợc cổ phần hoá trực thuộc Tổng
Công ty mayViệt Nam đang đứng trớc những cơ hội và thách thức lớn lao
trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển
đòi hỏi Công ty phải xác định đợc cho mình những phơng thức hoạt động,
những chính sách, những chiến lợc cạnh tranh đúng đắn
Nhận thức đợc tầm quan trọng của xu thế hội nhập và cạnh tranh cũng
nh mong muốn đợc đóng góp những ý kiến để Công ty may Hộ Gơm đẩy
mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Sau một thời gian thực tập tại Công ty
may Hồ Gơm, em quyết định lựa chọn đề tài Một số giải pháp nhằm nâng
cao khả năng cạnh tranh của Công ty may Hồ Gơm để làm đề tài luận văn
tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đợc kết cấu gồm 3 ch-
ơng:
Chơng I: Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao năng lực
canh tranh.
Chơng II: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của Công ty may Hồ
Gơm
Chơng III: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh

đổi, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để lôi cuốn khách hàng về phía
mình, để chiếm lĩnh những thị trờng có nhiều lợi thế và con ngời cạnh tranh
nhau để vơn lên khẳng định vị trí của mình cả về trình độ chuyên, môn
nghiệp vụ để những ngời dới quyền phục tùng mệnh lệnh, để có uy tín và vị
thế trong quan hệ với các đối tác. Nh vậy, có thể nói cạnh tranh đã hình
thành và bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ tầm vi mô đến vĩ mô,
từ một cá nhân riêng lẻ đến tổng thể toàn xã hội. Điều này xuất phát từ một
lẽ đơng nhiên nớc ta đã và đang bớc vào giai đoạn phát triển cao về mọi
lĩnh vực nh kinh tế, chính trị, văn hoá, mà bên cạnh đó cạnh tranh vốn là
một quy luật tự nhiên và khách quan của nền kinh tế thị trờng, nó không
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi ngời, bởi tự do là nguồn gốc dẫn
tới cạnh tranh, cạnh tranh là động lực để thúc đẩy sản xuất, lu thông hàng
hoá phát triển. Bởi vậy để giành đợc các điều kiện thuận lợi trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải thờng xuyên động não,
tích cực nhạy bén và năng động phải thờng xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng
dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ sung xây dựng các cơ sở hạ
tầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc, loại bỏ những máy móc đã cũ
kỹ và lạc hậu và điều quan trọng phải có phơng pháp tổ chức quản lý có
hiệu quả, đào tạo và đãi ngộ trình độ chuyên môn, tay nghề cho ngời lao
động. Thực tế cho thấy ở đâu thiếu có sự cạnh tranh thờng ở đó biểu hiện sự
trì trệ và yếu kém sẽ dẫn doanh nghiệp sẽ mau chóng bị đào thải ra khỏi
quy luật vận động của nền kinh tế thị trờng. Để thúc đẩy tiêu thụ và đẩy
nhanh tốc độ chu chuyển hàng hoá các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu
thị trờng, tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. Do đó, cạnh tranh
không chỉ kích thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn
cải tiến mẫu mã, chủng loại hàng hoá, nâng cao chất lợng sản phẩm và chất
lợng dịch vụ làm cho sản xuất ngày càng gắn liền với tiêu dùng, phục vụ
nhu cầu xã hội đợc tốt hơn. Cạnh tranh là một điều kiện đồng thời là một
yếu tố kích thích hoạt động kinh doanh phát triển. Bên cạnh những mặt tích
cực cạnh tranh còn để lại nhiều hạn chế và tiêu cực đó là sự phân hoá sản

2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
Đối với nền kinh, tế cạnh không chỉ là môi trờng và động lực của sự
phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng
suất lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã
hội, cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh
nghiệp. Bên cạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã
hội thông qua sự xuất hiện của nhứng sản phẩm mới. Điều đó chứng tỏ đời
sống của con ngời ngày càng đợc nâng cao về chính trị, về kinh tế và văn
hoá. Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự
phân công lao động xã hội ngày càng phát triển sâu và rộng. Tuy nhiên bên
cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại
những mặt hạn chế nh cạnh tranh không lành mạnh tạo sự phân hoá giàu
nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến có những manh mối làm ăn
vi phạm pháp luật nh trốn thuế, lậu thuế, lậu hàng giả, buôn bán trái phép
những mặt hàng mà Nhà nớc và pháp luật nghiêm cấm.
2.2. Đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt
động kinh doanh trên thị trờng thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và
đứng vững. Để tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến
lợc cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lợc ở cả tầm vi mô và vĩ
mô. Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để
giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh
nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu ngời tiêu dùng nhất.
Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, kịp thời, nhanh
chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng nh dịch vụ kèm theo với mức giá phù
hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại và phát triển. Do vậy cạnh
tranh là rất quan trọng và cần thiết.
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác maketing
bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trờng để quyết định sản xuất cái gì? sản xuất
nh thế nào? và sản xuất cho ai?. Nghiên cứu thị trờng để doanh nghiệp xác

tế. Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo ra những nhà doanh nghiệp giỏi và
đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng
xã hội. Bởi vậy cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của
nhà nớc để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực nh
cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến độc quyền và gây lũng loạn, xáo trộn
thị trờng.
Các hình thức cạnh tranh
Cạnh tranh đợc phân loại theo các hình thức khác nhau:
3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh
Cạnh tranh đợc chia thàn ba loại:
- Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua: Là cuộc cạnh tranh diễn
ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của
mình. Ngời bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn ngời
mua muốn mua với giá thấp nhng chất lợng vẫn đợc đảm bảo và mức giá
cuối cùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên.
- Cạnh tranh giữa ngời mua và ngời mua: Là cuộc cạnh tranh trên
cơ sở quy luật cung cầu, khi trên thị trờng mức cung nhỏ hơn mức cầu. Lúc
này hàng hóa trên thị trờng sẽ khan hiếm, ngời mua để đạt đợc nhu cầu
mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức
độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những ngời mua, kết quả là giá cả
hàng hoá sẽ tăng lên, những ngời bán sẽ thu đợc lợi nhuận lớn trong khi
những ngời mua bị thiệt thòi cả về giá cả và chất lợng, nhng trờng hợp này
chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một số nơi khi diễn ra
hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó.
- Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau: Đây là cuộc cạnh
tranh gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trờng sức cung
lớn hơn sức cầu rất nhiều, khách hàng đợc coi là thợng đế của ngời bán, là
nhân tố có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Do vậy các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để
giành những u thế và lợi thế cho mình.

+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một
số ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít ngời sản xuất. Lúc này cạnh
tranh sẽ xảy ra giữa một số lực lợng nhỏ các doanh nghiệp. Do vậy mọi
doanh nghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ
phụ thuộc vào số lợng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ
cạnh tranh khác trên thị trờng. Một sự thay đổi về giá của doanh nghiệp
cũng sẽ gây ra những ảnh hởng đến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của
doanh nghiệp khác. Những doanh nghiệp tham gia thị trờng này là những
ngời có tiềm lực kinh tế mạnh, vốn đầu t lớn. Do vậy việc thâm nhập vào thị
trờng của các đối thủ cạnh tranh thờng là rất khó.
3.3. Căn cứ vào phạm vi kinh tế
- Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại
sản phẩm. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh
nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu đợc lợi nhuận nh cải tiến kỹ
thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm
thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát
triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có
thể bị phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh
tế khác nhau nhằm đạt đợc lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác.
Nh vậy giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khác
khác nhau nh môi trờng kinh doanh, thu nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu
có tính chất khác nhau nên cùng một lợng vốn đầu t vào ngành này có thể
mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác. Điều đó dẫn đến tình
trạng nhiều ngời sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận
thấp có xu hớng chuyển dịch sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi
nhuận cao hơn, đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các
ngành. Kết quả là những ngành trớc kia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút

cả cũng là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho
phù hợp với mức thu nhập của mình. Điều mong muốn của khách hàng và
của bất cứ ai có nhu cầu mua hay bán là đảm bảo đợc hài hoà giữa chất l-
ợng và giá cả.
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở
hiện tại và trong tơng lai thì nâng cao chất lợng sản phẩm là điều cần thiết.
Nâng cao chất lợng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay
đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu
dùng và sau khi tiêu dùng. Hay nói cách khác nâng cao chất lợng sản phẩm
là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn.
Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu đợc ngày càng
tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doang nghiệp. Làm tăng lòng
tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Chất lợng sản phẩm đợc coi là một vấn đề sống còn đối với doanh
nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đơng đầu đối
với các đối thủ cạnh tranh từ nớc ngoài vào Việt Nam. Một khi chất lợng
hàng hoá dịch vụ không đợc bảo đảm thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với
doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị tr-
ờng dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác chất lợng thể
hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao
chất lợng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lợng hàng hoá
bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm. Nâng cao chất lợng sản phẩm sẽ
làm tăng uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp. Do vậy cạnh tranh bằng chất lợng sản phẩm là một yếu tố rất
quan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều
phải sử dụng nó.
4.2. Cạnh tranh bằng giá cả.
Giá cả đợc hiểu là số tiền mà ngời mua trả cho ngời bán về việc cung
ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó. Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng
tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sản

sự nhạy cảm về giá.
Nh vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và
thành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ l-
ỡng xem mình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là
nghiên cứu xu hớng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng nh cần phải
xem xét các chiến lợc các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng.
4.3. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối.
Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh
đắc lực bởi nó hạn chế đợc tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng. Để
hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp đợc diễn ra thông suốt, thờng xuyên và
đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối nghiên cứu các
đặc trng của thị trờng, của khách hàng. Từ đó có các chính sách phân phối
sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chính sách
phân phối sản phẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu
thụ, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Thông thờng kênh phân
phối của doanh nghiệp đợc chia thành 5 loại:
+ Kênh ngắn: Ngời sản xuất => Ngời bán lẻ => Ngời tiêu dùng
+ Kênh cực ngắn: Ngời sản xuất => Ngời tiêu dùng
+ Kênh dài: Ngời sản xuất=>Ngời buôn bán=>Ngời bán lẻ=>Ngời
tiêu dùng
+ Kênh cực dài: Ngời sản xuất=>Đại lý=> Ngời buôn bán=> Ngời
bán lẻ=> Ngời tiêu dùng.
+ Kênh rút gọn: Ngời sản xuất=>Đại lý=> Ngời bán lẻ=> Ngời tiêu
dùng.
Tuỳ theo từng mặt hàng kinh doanh, tuỳ theo vị trí địa lý, tuỳ theo
nhu cầu của ngời mua và ngời bán, tuỳ theo quy mô kinh doanh của doanh
nghiệp mà sử dụng các kênh phân phối khác nhau cho hợp lý và mang lại
hiệu quả bởi nhiều khi kênh phân phối có tác dụng nh những ngời môi giới
nhng đôi khi nó lại mang lại những trở ngại rờm rà.
4.4. Cạnh tranh bằng chính sách Maketing

hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt
nhất, phù hợp với thị hiếu nhu cầu của ngời tiêu dùng nhất. Doanh nghiệp
nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có
khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trờng hiện nay.
- Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển
Ngày nay trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh là một điều kiện và
là một yếu tố kích thích kinh doanh. Quy luật cạnh tranh là động lực thúc
đẩy hát triển sản xuất, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá
sản xuất ra nhiều, số lợng ngời cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh
ngày càng khốc liệt, kết quả cạnh tranh là loại bỏ những Công ty làm ăn
kém hiệu quả, năng suất chất lợng thấp và ngợc lại nó thúc đẩy những Công
ty làm ăn tốt, năng suất chất lợng cao. Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thì
doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh
tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Các doanh
nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của ngời
tiêu dùng nh sản xuất ra nhiều loại hàng hoá có chất lợng cao, giá cả phù
hợp với chất lợng sản phẩm, phù hợp với mức thu nhập của từng đối tợng
khách hàng. Có nh vậy hàng hoá của doanh nghiệp bán ra mới ngày một
nhiều, tạo đợc lòng tin đối với khách hàng. Muốn tồn tại và phát triển đợc
thì doanh nghiệp cần phải phát huy hết u thế của mình, tạo ra những điểm
khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp mới có khả năng
tồn tại, phát triển và thu đợc lợi nhuận cao.
Trong nền kinh tế thị trờng muốn tồn tại và phát triển thì cạnh tranh
luôn là mục tiêu của mỗi doanh nghiệp. Cũng trong nền kinh tế đó khách
hàng là ngời tự do lựa chọn nhà cung ứng và cũng chính là những ngời
quyết định cho doanh nghiệp có tồn tại hay không. Họ không phải tìm đến
doanh nghiệp nh trớc đây nữa và họ cũng không phải mất thời gian chờ đợi
để mua hàng hoá dịch vụ, mà đối ngợc lại trong nền kinh tế thị trờng khách
hàng đợc coi là thợng đế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì
phải tìm đến khách hàng và khai thác nhu cầu nơi họ. Điều này đòi hỏi

II. khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế
những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội
bằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nớc phát triển. Tuy nhiên để cạnh
tranh đợc và cạnh tranh một cách lành mạnh không phải là dễ bởi nó phụ
thuộc vào tiềm năng, lợi thế và nhiều yếu tố khác của doanh nghiệp hay
một quốc gia, đó chính là khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia, hay một
ngành, một công ty xí nghiệp.
1. Khái niệm về khả năng cạnh tranh
Phải nói rằng thuật ngữ khả năng cạnh tranh đợc sử dụng rộng rãi
trên các phơng tiện thông tin đại chúng, trong sách báo, trong giao tiếp
hàng ngày của các chuyên gia kinh tế, các chính sách của các nhà kinh
doanh. Nhng cho đến nay vẫn cha có sự nhất trí cao trong các học giả và
giới chuyên môn về khả năng cạnh tranh của công ty
*Theo cách tiếp cận khả năng cạnh tranh ở tầm quốc gia
+ Cách tiếp cận này dựa trên quan điểm diễn đàn kinh tế thế giới
(gọi tắt là WEF). Theo định nghĩa của WEF thì khả năng cạnh tranh của một
quốc gia là khả năng đạt đợc và duy trì mức tăng trởng cao trên cơ sở các
chính sách, thể chế vững vàng tơng đối và các đặc trng kinh tế khác
(WEF-1997).
Nh vậy khả năng cạnh tranh của một quốc gia đợc xác định trớc hết
bằng mức độ tăng trởng của nền kinh tế quốc đân và sự có mặt ( hay thiếu
vắng) các yếu tố quy định khả năng tăng trởng kinh tế dài hạn trong các chính
sách kinh tế đã đợc thực hiện. Ví dụ điển hình là Nhật bản, sau chiến tranh thế
giới thứ hai, nền kinh tế Nhật Bản trở nên hoang tàn, nhân dân chìm trong
cảnh mất mùa, thiếu thốn. Vậy mà đến năm 1968 Nhật bản đã trở thành một
nớc có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới ( sau Mỹ) và đợc xếp hàng các c-
ờng quốc kinh tế lớn nhất, kỷ lục về sự tăng trởng kinh tế này là một trong
những đỉnh cao để xác định năng lực cạnh tranh lớn của nền kinh tế Nhật bản.

+ Cách tiếp cận dựa trên quan điểm của M.Poter về chỉ số năng suất
Ông cho rằng chỉ có chỉ số năng suất là có ý nghĩa cho khái niệm về
năng lực cạnh tranh quốc gia bởi vì đây là yếu tố cơ bản cho việc nâng cao sức
sống của một đất nớc. Xét về dài hạn chỉ số năng suất này phụ thuộc vào trình
độ phát triển và tính năng động của các doanh nghiệp. Do đó khả năng cạnh
tranh của một quốc gia phụ thuộc vào việc các yếu tố nào trong nền kinh tế
quốc dân, giữ vai trò quyết định cơ bản cho phép các công ty sáng tạo và duy
trì và lợi thế cạnh tranh trên mọi lĩnh vực cụ thể. Với cách nhìn nhận vấn đề
nh vậy M.Poter đã đa ra một khuôn khổ các yếu tố tạo nên lợi thế canh tranh
của một quốc gia và Ông gọi đó là khối lợng kim cơng các lợi thế cạnh
tranh bao gồm các nhóm đợc phân chia một cách tơng đối.
- Nhóm các điều kiện về nhân tố sản xuất (thể hiện vị thế của một quốc
gia về nguồn lao động đợc đào tạo, có tay nghề, về tài nguyên, kết cấu hạ
tầng, tiềm năng khoa học và công nghệ).
- Nhóm các điều kiện về cầu: Phản ánh bản chất của nhu cầu thị trờng
trong nớc đối với sản phẩm và dịch vụ của một ngành.
- Nhóm các yếu tố liên quan đến cơ cấu, chiến lợc của doanh nghiệp và
của đối thủ cạnh tranh.
- Nhóm các yếu tố về các ngành phụ trợ và các ngành có liên quan có
khả năng cạnh trạnh quốc tế.
*Tiếp cận khả năng tranh ở cấp ngành, cấp công ty.
+ Quan điểm của M.Poter
Dựa theo quan điểm quản trị chiến lợc đợc phản ánh trong các cuốn
sách của M.Poter, khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là năng
chiếm lĩnh thị trờng, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế)
của công ty đó. Với cách tiếp cận này mỗi ngành dù là trong hay ngoài nớc
năng lực cạnh tranh đợc quy định bởi các yếu tố sau:
- Số lợng các doanh nhgiệp mới tham gia.
- Sự có mặt của các sản phẩm thay thế
- Vị thế của khách hàng

Nói tóm lại có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về khả năng
cạnh tranh. Song bài viết này không nhằm mục đích phân tích u nhợc điểm
của quan điểm đó mà chỉ mong muốn giới thiệu khái quát một số quan niệm
điển hình giúp cho việc tiếp cận một phạm trù phổ biến nhng còn nhiều tranh
cãi về khái niệm đợc dễ dàng hơn.
2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh
Để đánh giá đợc khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ta có thể dựa
vào một số chỉ tiêu sau:
2.1. Thị phần
Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu đợc khi bán hàng hoá hoặc
dịch vụ. Bởi vậy mà doanh thu có thể đợc coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực
cạnh tranh. Hơn khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và
tăng thêm lợi nhuận. Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua
các năm ta có thể đánh giá đợc kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay
giảm, theo chiều hớng tốt hay xấu. Nhng để đánh giá đợc hoạt động kinh
doanh đó có mang lại đợc hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí
đã hình thành nên doanh thu đó. Nếu doanh thu và chi phí của doanh nghiệp
đều tăng lên qua các năm nhng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng
của chi phí thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đợc đánh giá là tốt,
doanh nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phần
chi phí tăng thêm đó đợc doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đầu t
mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng. v.v.
Trên thực tế có rất nhiều phơng pháp khác nhau để đánh giá năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần
là một chỉ tiêu thờng hay đợc sử dụng. Thị phần đợc hiểu là phần thị trờng mà
doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lợng thị trờng. Do đó thị phần của
doanh nghiệp đợc xác định:
Thị phần của doanh nghiệp =
Doanh thu của doanh nghiệp
Tổng doanh thu toàn ngành

Tỷ suất lợi nhuận =
Chỉ tiêu ny cho thấy nếu có 100 đồng doanh thu thì sẽ thu đợc bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này thấp tức là tốc độ tăng của lợi nhuận
nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu, chứng tỏ sức cạnh tranh của doanh nghiệp
thấp. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cha đạt hiệu quả cao. Đã có quá
nhiều đối thủ thâm nhập vào thị trờng của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp
phải không ngừng mở rộng thị trờng để nâng cao khả năng cạnh tranh. Nhằm
mục đích nâng cao lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này cao tức là tốc độ tăng lợi nhuận
lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đ-
ợc đánh giá là có hiệu quả. Điều này chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp cao. Doanh nghiệp cần phát huy lợi thế cảu mình một cách tối đa và
không ngừng đề phòng đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn thâm nhập vào thị trờng của
doanh nghiệp bất cứ lúc nào do sức hút lợi nhuận cao.
Ngoại trừ các chỉ tiêu có thể đo lờng đợc, khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp còn đợc biểu hiện qua một số các chỉ tiêu định tính nh
2.4 . Uy tín của doanh nghiệp
Uy tín của doanh nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh
giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có uy tín sẽ có
nhiều bạn hàng, nhiều đối tác làm ăn và nhất là có một lợng khách hàng rất
lớn. Mục tiêu của các doanh nghiệp là doanh thu, thị phần và lợi nhuận .v.v.
Nhng để đạt đợc các mục tiêu đó doanh nghiệp phải tạo đợc uy tín của mình
trên thị trờng, phải tạo đợc vị thế của mình trong con mắt của khách hàng. Cơ
sở, tiền đề để tạo đợc uy tín của doanh nghiệp đó là doanh nghiệp phải có một
nguồn vốn đảm bảo để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, có một hệ
thống máy móc, cơ sở hạ tầng đáp ứng đầy đủ yêu cầu của hoạt động kinh
doanh. Yếu tố quan trọng nhất để tạo nên uy tín của doanh nghiệp đó là con
ngời trong doanh nghiệp tức doanh nghiệp đó phải có một đội ngũ cán bộ có
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đội ngũ nhân viên giỏi về tay nghề và kỹ
năng làm việc, họ là những con ngời có trách nhiệm và nhiệt tình trong công
việc, biết khơi dậy nhu cầu của khách hàng.

ớng phát triển chung trong nền kinh tế thị trờng. Nhà quản trị chính là ngời
cầm lái con tầu doanh nghiệp, họ là nhứng ngời đứng mũi chịu sào trong mỗi
bớc đi của doanh nghiệp.Họ là những ngời có quyền lực cao nhất và trách
nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất. Họ chính là nhứng ngời xác định h-
ớng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp. Vì vậy mà nhà quản trị đóng một vai trò
chủ chốt trong sự phát triển của doanh nghiệp.
3.Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh
3.1 Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc yếu tố bên trong doanh
nghiệp. Các yếu tố này có ảnh hởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh
và khả năng cạnh tranh của Công ty. Bởi vậy mà nó đợc coi là các yếu tố cấu
thành khả năng cạnh tranh của Công ty.
3.1.1 Khả năng về tài chính.
Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh. Bất cứ hoạt động đầu t, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem
xét tính toán đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có
tiềm lực lớn về tài chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu t, trong
mua sắm đổi mới công nghệ và máy móc cũng nh có điều kiện để đào tạo và
đãi ngộ nhân sự. Những thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao đợc trình
độ chuyên môn tay nghề cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chất lợng sản phẩm,
hạ thấp chi phí để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nếu doanh
nghiệp nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ không có điều kiện để mua sắm,
trang trải nợ và nh vậy sẽ không tạo đợc uy tín về khả năng thanh toán và khả
năng đáp ứng những sản phẩm có chất lợng cao đối với khách hàng. Làm cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không tiến triển đợc và có nguy cơ bị
thụt lùi hoặc phá sản. Nh vậy khả năng tài chính là yếu tố quan trọng đầu tiên
để doanh nghiệp hình thành và phát triển.
3.1.2. Nguồn lực và vật chất kỹ thuật
Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp đối
với thủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có đợc tận dụng và khai thác trong

mọi ngời trong doanh nghiệp, từ những ngời lao động bậc thấp đến nhà quản
trị cấp cao nhất, bởi mỗi ngời đều có một vị trí quan trọng trong các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Những ngời lãnh đạo chính là những ng-
ời cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những ngời đứng mũi chịu sào trong
mỗi bớc đi của doanh nghiệp, là những ngời có quyền lực cao nhất và trách
nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất. Họ chính là những ngời xác định h-
ớng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, còn thực hiện quyết định của họ là
những nhân viên dới quyền.

Trích đoạn Môi trờng kinh doanhcủa Công ty Phân tích kết quả hoạt động kinh doanhcủa Công ty Chất lợng sản phẩm Hệ thống phân phối Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status