Mở đầu
Bước vào thế kỷ 21- kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn nhưng cũng nhiều
thách thức, xu hướng toàn cầu hoỏ nền kinh tế đang là một vấn đề diễn ra
sôi động và cấp bách.
Trước xu hướng đó, đối với nền kinh tế Việt Nam ngành dệt may
được coi là một trong những ngành rất quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế của đất nước. Mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ của ngành là gúp phần
thực hiện đường lối của Đảng, gúp phần thực hiện thắng lợi trong sự nghiệp
CNH- HĐH đất nước, đảm bảo nhu cầu toàn xã hội đang không ngừng tăng
lớn về mọi mặt, không ngừng tăng cường sản xuất, xuất khẩu, giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động- vấn đề mà toàn xã hội đang quan tâm.
Việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế
thị trường cú sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, cùng xu thế mở cửa hội nhập
với nền kinh tế thế giới. Công ty may Hồ Gươm là một doanh nghiệp nhà
nước đó được cổ phần hoá trực thuộc Tổng Cụng ty mayViệt Nam đang
đứng trước những cơ hội và thách thức lớn lao trong điều kiện cạnh tranh
gay gắt. Để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển đòi hỏi Công ty phải xác
định được cho mỡnh những phương thức hoạt động, những chớnh sỏch,
những chiến lược cạnh tranh đỳng đắn
Nhận thức được tầm quan trọng của xu thế hội nhập và cạnh tranh
cũng như mong muốn được đúng gúp những ý kiến để Cụng ty may Hộ
Gươm đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Sau một thời gian thực tập
tại Cụng ty may Hồ Gươm, em quyết định lựa chọn đề tài “ Một số giải
phỏp nhằm nõng cao khả năng cạnh tranh của Cụng ty may Hồ Gươm”
để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mỡnh.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3
chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao năng
lực canh tranh.
Chương II: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của Công ty may
Hồ Gươm
kinh t th tr ng hi n nay, trong b t c m t l nh v c n o, b t c m tà, $ ? * 9 ? *
ho t ng n o c a con ng i c ng n i c m l n v n c nh tranh. Và * / @ A * +
nh c c qu c gia c nh tranh nhau gi nh l i th trong i ngo i, traoà ) 2 , )
i, c c doanh nghi p c nh tranh nhau l i cu n kh ch h ng v ph aàA 2 % ) +
m nh, chi m l nh nh ng th tr ng cú nhi u l i th v con ng ià: 2 , 9 $ ,
c nh tranh nhau v n l n kh ng nh v tr c a m nh c v tr nh ( B 6 & C &
chuy n, m n nghi p v nh ng ng i d i quy n ph c t ng1 ! 6
m nh l nh, cú uy t n v v th trong quan h v i c c i t c. Nhà 2 + $ , + )
v y, cú th núi c nh tranh ó h nh th nh v bao tr m l n m i l nh v cà à 2 : - 9
c a cu c s ng, t t m vi m n v m , t m t c nhõn ri ng l n 1 ' 5 D E 5 1 F
t ng th to n xó h i. i u n y xu t ph t t m t l ng nhi n n cà àA 2 * G < * H 3 +
ta ó v ang b c v o giai o n ph t tri n cao v m i l nh v c nhà à + 2 - 9
kinh t , ch nh tr , v n ho , m b n c nh ú c nh tranh v n l m t quyà à, + $ ) *
lu t t nhi n v kh ch quan c a n n kinh t th tr ng, nú kh ng phà / , $ % %
thu c v o ý mu n ch quan c a m i ng i, b i t do l ngu n g c d nà à* ) / / I > J ) .
t i c nh tranh, c nh tranh l ng l c th c y s n xu t, l u th ngà+ * 2 = # %
h ng ho ph t tri n. B i v y gi nh c c c i u ki n thu n l ià à 2 > 2
trong s n xu t v ti u th s n ph m bu c c c doanh nghi p ph ià % # *
th ng xuy n ng nóo, t ch c c nh y b n v n ng ng ph i th ngà * + * *
xuy n c i ti n k thu t, ng d ng khoa h c k thu t c ng ngh m i, C K " L M K " 6
b sung xõy d ng c c c s h t ng, mua s m th m trang thi t b m yN ( 7 D O
múc, lo i b nh ng m y múc ó c k v l c h u v i u quan tr ngà à @ P -
ph i cú ph ng ph p t ch c qu n lý cú hi u qu , o t o v ói ngà à 3 A ? *
tr nh chuy n m n, tay ngh cho ng i lao ng. Th c t cho th y& 1 1
õu thi u cú s c nh tranh th ng ú bi u hi n s tr tr v y uà> , > 2 : ,
k m s d n doanh nghi p s mau chúng b o th i ra kh i quy lu t v nà* H . H $
ng c a n n kinh t th tr ng. th c y ti u th v y nhanhà* / , $ G2 = # % #
t c chu chuy n h ng ho c c doanh nghi p c n ph i nghi n c u thà) * 2 ; ? $
tr ng, t m hi u nhu c u, th hi u c a kh ch h ng. Do ú, c nh tranhà : 2 ; $ , /
kh ng ch k ch th ch t ng n ng su t lao ng, gi m chi ph s n xu t Q 6 6 R R 1 C 6 C
khụng phải tự tỡm kiếm khỏch hàng mà chỉ cú khỏch hàng tự tỡm đến
doanh nghiệp. Chính điều đó đó khụng tạo được động lực cho doanh
nghiệp phát triển. Sau khi kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
(1986) nước ta đó chuyển sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn,
nền kinh tế thị trường được hỡnh thành thỡ vấn đề cạnh tranh xuất hiện và
có vai trũ đặc biệt quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà cũn đối
với người tiêu dùng cũng như nền kinh tế quốc dân nói chung.
2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
Đối với nền kinh, tế cạnh không chỉ là môi trường và động lực của
sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng
năng suất lao động mà cũn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoỏ quan
hệ xó hội, cạnh tranh cũn là điều kiện giáo dục tính năng động của các
doanh nghiệp. Bên cạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu
mới của xó hội thụng qua sự xuất hiện của nhứng sản phẩm mới. Điều đó
chứng tỏ đời sống của con người ngày càng được nâng cao về chính trị,
về kinh tế và văn hoá. Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xó hội ngày càng phỏt triển sõu
và rộng. Tuy nhiờn bờn cạnh những lợi ớch to lớn mà cạnh tranh đem lại
thỡ nú vẫn cũn mang lại những mặt hạn chế như cạnh tranh không lành
mạnh tạo sự phân hoá giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn
đến có những manh mối làm ăn vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế,
lậu hàng giả, buôn bán trái phép những mặt hàng mà Nhà nước và pháp
luật nghiêm cấm.
2.2. Đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt
động kinh doanh trên thị trường thỡ đều muốn doanh nghiệp mỡnh tồn tại
và đứng vững. Để tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những
chiến lược cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi
mô và vĩ mô. Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mỡnh, cạnh
tranh để giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm
mô hoạt động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đứng ở
tầm vĩ mô hay vi mô thỡ khụng thể thiếu sự cú mặt và vai trũ của yếu tố
cạnh tranh .
2.4 Đối với sản phẩm.
Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng
cao về chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mó và kớch cỡ. Giỳp
cho lợi ớch của người tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng
nhiều hơn. Ngày nay các sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp
ứng nhu cầu trong nước mà cũn cung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài.
Qua những ý nghĩa trờn ta thấy rằng cạnh tranh khụng thể thiếu sút ở bất
cứ một lĩnh vực nào của nền kinh tế. Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo
ra những nhà doanh nghiệp giỏi và đồng thời là động lực thúc đẩy nền
kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xó hội. Bởi vậy cạnh tranh là một
yếu tố rất cần cú sự hỗ trợ và quản lý của nhà nước để phát huy những
mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnh tranh không lành
mạnh dẫn đến độc quyền và gây lũng loạn, xáo trộn thị trường.
Cỏc hỡnh thức cạnh tranh
Cạnh tranh được phân loại theo các hỡnh thức khỏc nhau:
3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh
Cạnh tranh được chia thàn ba loại:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh
diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi
ích của mỡnh. Người bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi
nhuận cũn người mua muốn mua với giá thấp nhưng chất lượng vẫn được
đảm bảo và mức giá cuối cùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên.
- C nh tranh gi a ng i mua v ng i muaà : L cu c c nh tranhà *
tr n c s quy lu t cung c u, khi tr n th tr ng m c cung nh h n ( 7 " D L (
m c c u. L c n y h ng húa tr n th tr ng s khan hi m, ng i mua à à? ; = $ H , 2
t c nhu c u mong mu n c a m nh h s s n s ng mua v i m cà ; ) / : - H Y + ?
gi cao h n do v y m c c nh tranh s di n ra gay g t h n gi a ( " L 1 Z [ O ( !
mua sản phẩm của mỡnh với giỏ rất cao và những người này có thể làm
thay đổi giá cả thị trường. Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc
quyền bán và độc quyền mua. Độc quyền bán tức là trên thị trường có ít
người bán và nhiều người mua, lúc này người bán có thể tăng giá hoặc ép
giá khách hàng nếu họ muốn lợi nhuận thu được là tối đa, cũn độc quyền
mua tức là trên thị trường có ít người mua và nhiều người bán khi đó
khách hàng được coi là thượng đế, được chăm sóc tận tỡnh và chu đáo
nếu không những người bán sẽ không lôi kéo được khách hàng về phỡa
mỡnh. Trong thực tế cú tỡnh trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản
phẩm nào thay thế , tạo ra sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền
liên kết với nhau gây trở ngại cho quá trỡnh phỏt triển sản xuất và làm tổn
hại đến người tiêu dùng. Vỡ vậy phải cú một đạo luật chống độc quyền
nhằm chống lại liên minh độc quyền của một số nhà kinh doanh.
+ Độc quyền tập đoàn: Hỡnh thức cạnh tranh này tồn tại trong
một số ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất. Lúc này
cạnh tranh sẽ xảy ra giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp. Do vậy
mọi doanh nghiệp phải nhận thức rằng giỏ cả cỏc sản phẩm của mỡnh
khụng chỉ phụ thuộc vào số lượng mà cũn phụ thuộc vào hoạt động của
những đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường. Một sự thay đổi về giá của
doanh nghiệp cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng đến nhu cầu cân đối với
các sản phẩm của doanh nghiệp khác. Những doanh nghiệp tham gia thị
trường này là những người có tiềm lực kinh tế mạnh, vốn đầu tư lớn. Do
vậy việc thâm nhập vào thị trường của các đối thủ cạnh tranh thường là
rất khó.
3.3. Căn cứ vào phạm vi kinh tế
- Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại
sản phẩm. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh
nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ
thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá
theo một khuân mẫu cứng nhắc nào. Dưới đâylà một số công cụ cạnh
tranh tiêu biểu và quan trọng mà các doanh nghiệp thương mại thường
phải dùng đến chúng.
4.1. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của
sản phẩm thể hiện mức độ thoả món nhu cầu trong những điều kiện tiêu
dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm. Nếu như
trước kia giá cả được coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thỡ ngày nay
nú phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Khi có cùng
một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả
món được nhu cầu của người tiêu dùng thỡ họ sẵn sàng mua với mức giỏ
cao hơn. Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của
sản xuất, thu nhập của người lao động ngày càng được nâng cao, họ có đủ
điều kiện để thoả món nhu cầu của mỡnh, cỏi mà họ cần là chất lượng và
lợi ích sản phẩm đem lại. Nếu nói rằng giá cả là yếu tố mà khách hàng
không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cả cũng là một trong
những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp với mức
thu nhập của mỡnh. Điều mong muốn của khách hàng và của bất cứ ai có
nhu cầu mua hay bán là đảm bảo được hài hoà giữa chất lượng và giá cả.
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng
ở hiện tại và trong tương lai thỡ nõng cao chất lượng sản phẩm là điều
cần thiết. Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm
hoặc thay đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá
trỡnh tiờu dựng và sau khi tiờu dựng. Hay núi cỏch khỏc nõng cao chất
lượng sản phẩm là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mó,
bền hơn và tốt hơn. Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ
thu được ngày càng tăng lên khi duy trỡ tiờu dựng sản phẩm của doang
nghiệp. Làm tăng lũng tin và sự trung thành của khỏch hàng đối với
doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống cũn đối với
giá mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ
tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều hơn.
Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường: chính sách này được
áp dụng khi cơ số sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu
hồi vốn và lời nhanh. Không ít doanh nghiệp đó thành cụng khi ỏp dụng
chớnh sỏch định giá thấp. Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến
lúc có thể để sau này chiếm được cả thị trường rộng lớn, với khả năng
tiêu thụ tiềm tàng. Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một
chỗ đứng nhất định để định vị vị trí của mỡnh từ đó thâu tóm khách hàng
và mở rộng thị trường.
Với chính sách định giá cao hơn giá thị trường: là ấn định giá bán
sản phẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà
lần đầu tiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ
hội để so sánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ
chính là đánh vào tâm lý của người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá
cao thỡ cú chất lượng cao hơn các hàng hoá khác. Doanh nghiệp thường
áp dụng chính sách này khi nhu cầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi
doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, hoặc khi bán những
mặt hàng quý hiếm cao cấp ớt cú sự nhạy cảm về giỏ.
Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và
thành công khi sử dụng nó thỡ doanh nghiệp cần cõn nhắc và xem xét kỹ
lưỡng xem mỡnh đang ở tỡnh thế nào thuận lợi hay khụng thuận lợi, nhất
là nghiờn cứu xu hướng tiêu dùng và tâm lý của khỏch hàng cũng như cần
phải xem xét các chiến lược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng.
4.3. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối.
Phõn phối sản phẩm hợp lý là một trong những cụng cụ cạnh tranh
đắc lực bởi nó hạn chế được tỡnh trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng.
Để hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra thông suốt, thường
xuyên và đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối
nghiên cứu các đặc trưng của thị trường, của khách hàng. Từ đó có các
trong khi bán và sau khi bán.
Như vậy chính sách maketing đó xuyờn suốt vào quỏ trỡnh hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và vừa có
tác dụng phụ để hỗ trợ các chính sách khác. Do vậy chính sách maketing
không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động của doanh nghiệp.
5. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh.
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. ở
đâu có nền kinh tế thị trường thỡ ở đó có nền kinh tế cạnh tranh. Bất kỳ
một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị
trường muốn doanh nghiệp mỡnh tồn tại và đứng vững thỡ phải chấp
nhận cạnh tranh. Trong giai đoạn hiện nay do tác động của khoa học kỹ
thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, nhu
cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều.Con
người không chỉ cần có nhu cầu “ăn chắc mặc bền” như trước kia mà cũn
cần “ăn ngon mặc đẹp”. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp
phải không ngừng điều tra nghiên cứu thị trường, tỡm hiểu nhu cầu của
khỏch hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thỡ
sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Chớnh vỡ vậy cạnh tranh là rất cần thiết,
nú giỳp cho doanh nghiệp:
- Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi
trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu
khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp
mỡnh là tốt nhất, phự hợp với thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng nhất.
Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thỡ doanh
nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
- Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển
Ng y nay trong n n kinh t th tr ng, c nh tranh l m t i uà à , $ *
ki n v l m t y u t k ch th ch kinh doanh. Quy lu t c nh tranh là à à * , ) + +
ng l c th c y h t tri n s n xu t, s n xu t h ng ho ng y c ngà à à* = # 2
ph t tri n, h ng ho s n xu t ra nhi u, s l ng ng i cung ng ng yà à 2 ) ?
d ch v c tr c khi b n, trong khi b n v d ch v sau khi b n h ng hoà à$ % + $ %
cho kh ch h ng nh ng kh ch h ng ú l nh ng kh ch h ng truy nà à à à 2
th ng c a doanh nghi p, ch nh h l nh ng nhõn t quan tr ng trong sà) / + - ) -
t n t i v ph t tri n c a doanh nghi p.àJ 2 /
- Doanh nghiệp phải cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu
Bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt
động kinh doanh đều có những mục tiêu nhất định. Tuỳ thuộc vào từng
giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà doanh nghiệp đặt ra cho mỡnh
những mục tiờu khỏc nhau. Trong giai đoạn đầu khi mới thực hiện hoạt
động kinh doanh thỡ mục tiờu của doanh nghiệp là muốn khai thỏc thị
trường nhằm tăng lượng khách hàng truyền thống và tiềm năng, giai đoạn
này doanh nghiệp thu hút được càng nhiều khách hàng càng tốt. Cũn ở
giai đoạn trưởng thành và phát triển thỡ mục tiờu của doanh nghiệp là
tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và giảm chi phí, giảm bớt những chi phí
được coi là không cần thiết, để lợi nhuận thu được là tối đa, uy tín của
doanh nghiệp và niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp là cao
nhất. Đến giai đoạn gần như bóo hoà thỡ mục tiờu chủ yếu của doanh
nghiệp là gõy dựng lại hỡnh ảnh đối với khách hàng bằng cách thực hiện
trách nhiệm đối với Nhà nước, đối với cộng đồng, củng cố lại thêm niềm
tin cho của khách hàng đối với doanh nghiệp. Để đạt được các mục tiêu
doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh thỡ doanh nghiệp
mới bằng mọi giỏ tỡm ra phương cách, biện pháp tối ưu để sáng tạo, tạo
ra những sản phẩm đạt chất lượng cao hơn, cung ứng những dịch vụ tốt
hơn đối thủ cạnh tranh, thỏa món nhu cầu khỏch hàng ngày càng tăng.
Chỉ có cạnh tranh thỡ doanh nghiệp mới cú thể tồn tại và phát triển.
II. kh n ng c nh tranh c a doanh nghi p
Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế
những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lóng phớ nguồn lực của xó
hội bằng cỏc doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của xó hội, thỳc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển. Tuy nhiên để
quan, hàng rào phi thuế quan, hạn chế nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái.
Nhóm 2: Nhóm các chỉ số liên quan đến vai trũ và hoạt động của
chính phủ bao gồm mức độ can thiệp của Nhà nước, năng lực của Chính
phủ, thuế và mức độ trốn thuế, chính sách tài khoá.
Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính bao gồm các nội dung về khả năng
thực hiện các hoạt động trung gian tài chính, hiệu quả và cạnh tranh, rủi ro
tài chính đầy đủ và tiết kiệm.
Nhóm 4: Các yếu tố về công nghệ bao gồm năng lực phát triển công
nghệ trong nước, khai thác công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài,
phát triển công nghệ thông qua các kênh chuyển giao công nghệ khác.
Nhóm 5: Các yếu tố và kết cấu hạ tầng như giao thông liên lạc và kết
cấu hạ tầng khác.
Nhóm 6: Quản trị bao gồm các chỉ số và quản trị nguồn nhân lực và
các yếu tố quản trị không liên quan đến nguồn nhân lực.
Nhóm 7: Các yếu tố về lao động bao gồm các chỉ số về trỡnh độ tay
nghề và năng suất lao động, độ linh hoạt của thị trường lao động, hiệu quả
của các chương trỡnh xó hội , quan hệ lao động trong một ngành.
Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế gồm các yếu tố về chất lượng, các thể
chế về pháp lý, cỏc luật và văn bản pháp quy khác.
Dựa vào các nhóm chỉ số này có thể đánh giá, xem xét để rút ra kết
luận về việc định liệu các chính sách, biện pháp đó được sử dụng ở một
Quốc gia có thực sự nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế không. Chẳng
hạn những năm qua chính phủ Việt Nam đó đưa ra chủ trương khuyến khích
phát triển các loại hỡnh doanh nghiệp hợp tỏc liờn doanh, liờn kết với nước
ngoài nhằm học hỏi kinh nghiệm chuyển giao công nghệ và tăng trưởng
kinh tế. Thế nhưng hiệu quả kinh tế đem lại không lấy gỡ làm chắc chắn.
+ Cách tiếp cận dựa trên quan điểm của M.Poter về chỉ số năng suất
Ông cho rằng chỉ có chỉ số năng suất là có ý nghĩa cho khái niệm về
năng lực cạnh tranh quốc gia bởi vỡ đây là yếu tố cơ bản cho việc nâng cao
sức sống của một đất nước. Xét về dài hạn chỉ số năng suất này phụ thuộc
xây dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh cạnh tranh phù hợp với trong
giai đoạn, thời kỳ phát triển thời kỳ phát triển của nền kinh tế.
+ Quan điểm tân cổ điển về khả năng cạnh tranh của một sản
phẩm
Quan điểm này dựa trờn lý thuyết thương mại truyền thống, đó xem
xộtkhả năng cạnh tranh của một sản phẩm thông qua lợi thế so sánh về chi
phí sản xuất và năng suất. Như vậy khả năng cạnh tranh của một ngành,
công ty được đánh giá cao hay thấp tuỳ thuộc vào chi phí sản xuất cú giảm
bớt hay khụng vỡ chi phớ cỏc yếu tố sản xuất thấp vẫn được coi là điều kiện
cơ bản của lợi thế cạnh tranh
+ Quan điểm tổng hợp của VarDwer, E.Martin và R.Westgren
VarDwer, E.martin và R.Westgren là những đồng tác giả của cuốn
“Assessing the competiviveness of Canada’s agrifood Industry”- 1991. Theo
cỏc tỏc giả này thỡ khả năng cạnh tranh của một ngành, của công ty được
thể hiện ở việc tạo ra và duy trỡ lợi nhuận, thị phần trờn cỏc thị trường trong
nước và nước ngoài. Như vậy lợi nhuận và thị phần, hai chỉ tiêu đánh giá
khả năng cạnh tranh của công ty. Chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận, lợi
nhuận và thị phần càng lớn thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
càng cao. Ngược lại, lợi nhuận và thị phần giảm hoặc nhỏ phán ánh năng lực
cạnh tranh của công ty bị hạn chế hoặc chưa cao. Tuy nhiên chúng chỉ là
những chỉ số tổng hợp bao gồm chỉ số thành phần khác nhau như:
- Chỉ số về năng suất bao gồm năng suất lao động và tổng năng suất
các yếu tố sản xuất
- Chỉ số về công nghệ bao gồm các chỉ số về chi phí cho nghiên cứu
và triển khai
- Sản phẩm bao gồm các chỉ số về chất lượng, sự khác biệt
- Đầu vào và các chi phí khác: giá cả đầu vào và hệ số chi phí các
nguồn lực.
Núi túm l i cú r t nhi u quan i m, kh i ni m kh c nhau v kh C
n ng c nh tranh. Song b i vi t n y kh ng nh m m c ch phõn t ch uà à , % % + +
doanh nghiệp có một mảng thị trường lớn thỡ chỉ số trờn đạt mức cao nhất
và ấn định cho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường. Nếu doanh
nghiệp có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thỡ chỉ số trờn ở mức thấp, phản
ỏnh tỡnh trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh.
Bằng chỉ tiêu thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm
lĩnh thị trường so với toàn ngành.
Doanh thu c a doanh
Tæng doanh thu toµn ngµnh
Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các
đối thủ ta dùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu
của công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất để từ đó có thể biết được
những mặt mạnh hay những điểm cũn hạn chế so với đối thủ. Ưu điểm của
chỉ tiêu này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt
được chính xác số liệu cụ thể và sát thực của đôí thủ.
2.2. Năng suất lao động
N ng su t lao ng l nhõn t cú nh h ng r t l n n hi u quà * ) > + ,
s n xu t kinh v kh n ng c nh tranh c a doanh nghi p. B i th ng quaà / > %
n ng su t lao ng ta cú th nh gi c tr nh qu n lý, tr nh R 1 & 1 C & 1
lao ng v tr nh c ng ngh c a doanh nghi p.à* : * % /
2.3. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đó trừ đi các chi
phí dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận được coi là một chỉ
tiêu tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi vỡ nếu
doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao chắc chắn doanh nghiệp có doanh thu
cao và chi phí thấp. Căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp có thể
đánh giá được khả năng cạnh tranh của mỡnh so với đối thủ. Nếu lợi nhuận
cao thỡ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao và được đánh giá hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp rất khả quan.
Nếu xét về tỷ suất lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận =
cao, đội ngũ nhân viên giỏi về tay nghề và kỹ năng làm việc, họ là những
con người có trách nhiệm và nhiệt tỡnh trong cụng việc, biết khơi dậy nhu
cầu của khách hàng.
Trong nền kinh tế thị trường yếu tố nổi bật nhất để đánh giá khả năng
cạnh tranh, uy tín của doanh nghiệp đó là nhón hiệu sản phẩm
- Thiết kế nhón hiệu sản phẩm: Khi xây dựng một sản phẩm, các nhà
quản trị sẽ lưu tâm đến rất nhiều đến nhón hiệu sản phẩm, một nhón hiệu
sản phẩm hay và ấn tượng góp phần không nhỏ vào sự thành công của sản
phẩm, nó giúp phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh
khác và là cộng cụ để doanh nghiệp định vị sản phẩm trên thị trường mục
tiêu. Khi thiết kế nhón hiệu doanh nghiệp phải xem xột đến các thành phần
gồm: đặt tên sản phẩm, xây dựng biểu tượng(logo), khẩu hiệu và hỡnh ảnh
cho nhón. Đồng thời phải có chiến lược về nhón hiệu đối với sản phẩm của
doanh nghiệp.
- Cỏc giỏ trị tài sản nhón hiệu: Tài sản nhón hiệu là giỏ trị của một
nhón hiệu của sản phẩm do uy tớn của nhón hiệu sản phẩm đó đem lại.
Quản trị giá trị nhón là một trong cỏc công việc mang tính chiến lược quan
trọng nhất, nó được xem là một trong những dạng tầm tiềm năng có giá trị
cao. Trong những năm gần đây, khi các nhón hiệu sản phẩm của cỏc doanh
nghiệp cạnh tranh mạnh mẽ trờn thị trường, hỡnh thức khuyến mại định
hướng vào gớa là hỡnh thức phổ biến được nhiều doanh nghiệp áp dụng,
điều này làm tổn thương nhiều doanh nghiệp.
2.5. Năng lực quản trị
Năng lực của nhà quản trị được thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược,
hoạch định hướng đi cho doanh nghiệp. Nhà quản trị giỏi phải là người giỏi
về trỡnh độ, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, biết nhỡn
nhận và giải quyết cỏc cụng việc mộ cỏch linh hoạt và nhạy bộn, cú khả
năng thuyết phục để người khác phục tùng mệnh lệnh của mỡnh một cỏch tự
nguyện và nhiệt tỡnh.Biết quan tõm, động viên, khuyến khích cấp dưới làm
việc có tinh thần trách nhiệm. Điều đó sẽ tạo nên sự đoàn kết giữa các thành
thành và phỏt triển.
3.1.2. Nguồn lực và vật chất kỹ thuật
Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp
đối với thủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có được tận dụng và khai thác
trong quỏ trỡnh hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Bởi vỡ:
Trỡnh độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có hệ thống trang
thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thỡ cỏc sản phẩm của doanh nghiệp
nhất định sẽ được bảo toàn về chất lượng khi đến tay người tiêu dùng. Có hệ
thống máy móc hiện đại sẽ thúc đẩy nhanh qua trỡnh tiờu thụ hàng hoỏ, tăng
nhanh vũng quay về vốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng
hoá có được bảo đảm hay không. Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh
hưởng đến giá thành của sản phẩm và như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá bán của