TIỂU LUẬN:
Quá trình hình thành, phát triển và
cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần
May Thăng long
Lời mở đầu
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới của đất nước từ một nước với
nền kinh tế bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, nền kinh Việt Nam đã có
những bước phát triển nhất định. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang trong giai
đoạn hội nhập với nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã là thành viên chính thức của
các tổ chức như ASEAN, APTA… và Việt Nam đang xúc tiến để trở thành thành
viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO. Đổi mới nền kinh tế trong
nước và hội nhập với nền kinh tế thế giới một mặt nó mở ra các cơ hội kinh
Tên giao dịch tiếng anh:
Tên viết tắt:
Trụ sở chính:
Điện thoại:
E-Mail:
Công ty cổ phần may Thăng Long
Công ty may Thăng Long
Thanglong garment joint stock company
Thaloga
250 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
(84-4) 8623372 Fax: (84-4) 8623374
Công ty cổ phần may Thăng Long, tiền thân là công ty may Thăng Long
thuộc tổng công ty dệt may Việt Nam, được thành lập vào ngày 08/05/1958 theo
quyết định của Bộ ngoại thương. Khi mới thành lập Công ty mang tên Công ty
may mặc xuất khẩu, thuộc tổng công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm, đóng tại số nhà
15 phố Cao Bá Quát- Hà Nội. Ban đầu, Công ty có khoảng 2000 công nhân và
1700 máy may công nghiệp. Mặc dù trong những năm đầu hoạt động công ty gặp
rất nhiều khó khăn như mặt bằng sản xuất phân tán, công nghệ, tiêu chuẩn kỹ
thuật còn thấp, nhưng công ty đã hoàn thành và vượt mức kế hoạch do nhà nước
giao. Đến ngày 15/12/1958 Công ty đã hoàn thành kế hoạch năm với tổng sản
lượng là 391.129 sản phẩm đạt 112,8% chỉ tiêu. Đến năm 1959 kế hoạch Công ty
được giao tăng gấp 3 lần năm 1958 nhưng Công ty vẫn hoàn thành và đạt 102%
kế hoạch. Trong những năm này Công ty đã mở rộng mối quan hệ với các khách
hàng nước ngoài như Liên Xô, Đức, Mông Cổ, Tiệp Khắc.
Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965) Công ty đã có
một số thay đổi lớn. Vào tháng 7 năm 1961, Công ty chuyển địa điểm làm việc
thu hẹp dần. Đứng trước những khó khăn này, lãnh đạo của Công ty may Thăng
Long đã quyết định tổ chức lại sản xuất, đầu tư hơn 20 tỷ đồng để thay thế toàn
bộ hệ thống thiết bị cũ của Cộng hoà dân chủ Đức (TEXTIMA) trước đây bằng
thiết bị mới của Cộng hoà liên bang Đức (FAAP), Nhật Bản (JUKI). Đồng thời
Công ty hết sức chú trọng đến việc tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Công ty đã ký nhiều hợp đồng xuất khẩu với các Công ty ở Pháp, Đức, Thuỵ
Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Với những sự thay đổi hiệu quả trên, năm 1991 xí nghiệp may Thăng
Long là đơn vị đầu tiên trong toàn ngành may được Nhà nước cấp giấy phép xuất
nhập khẩu trực tiếp. Công ty được trực tiếp ký hợp đồng và tiếp cận với khách
hàng đã giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Thực hiện việc sắp
xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước và địa phương trong thời kỳ đổi mới, tháng
6-1992, xí nghiệp được Bộ Công nghiệp nhẹ (nay là Bộ công nghiệp) cho phép
được chuyển đổi tổ chức từ xí nghiệp thành Công ty và giữ nguyên tên Thăng
Long theo quyết định số 218 TC/LĐ- CNN. Công ty may Thăng Long ra đời,
đồng thời là mô hình Công ty đầu tiên trong các xí nghiệp may mặc phía Bắc
được tổ chức theo cơ chế đổi mới. Nắm bắt được xu thế phát triển của toàn ngành
năm 1993 Công ty đã mạnh dạn đầu tư hơn 3 tỷ đồng mua 16.000 m
2
đất tại Hải
Phòng, thu hút gần 200 lao động. Công ty đã mở thêm nhiều thị trường mới và
trở thành bạn hàng của nhiều Công ty nước ngoài ở thị trường EU, Nhật Bản,
Mỹ… Ngoài thị trường xuất khẩu Công ty đã chú trọng thị trường nội địa, năm
1993, Công ty đã thành lập Trung tâm thương mại và giới thiệu sản phẩm tại 39
Ngô Quyền, Hà Nội với diện tích trên 300 m
2
. Nhờ sự phát triển đó, Công ty là
chuyền sản xuất hiện đại và gần 4000 cán bộ công nhân viên, năng lực sản xuất
đạt trên 12 triệu sản phẩm/năm với nhiều chủng loại hàng hoá như: sơ mi, dệt
kim, Jacket, đồ jeans…
1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần may Thăng Long
1.2.1.Chức năng và nhiệm vụ của công ty:
1. Chức năng của công ty:
Khai thác và sử dụng có hiệu quả tài sản và nguồn vốn, lao động để phát triển
sản xuất, tìm nhiều mặt hàng, đồng thời nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật
để phát triển sản xuất, mở rộng thị trường.
2. Nhiệm vụ của công ty:
Xây dựng và thực hiện đầy đủ các kế hoạch xuất kinh doanh, đáp nhu cầu may
mặc của mọi tầng lớp trong xã hội đồng thồi hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước,
tổ chức tốt chức tốt đời sống cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
1.2.2. Bộ máy quản lý của doanh nghiệp và quy trình công nghể sản xuất sản
phẩm của công ty.
1. Bộ máy quản lý doanh nghiệp:
Cấp công ty:
+ Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của công ty Cổ phần may
Thăng long, được bầu để chỉ đạo quản lý mọi hoạt động của công ty.
+ Hội đồng của công ty gồm 07 thàng viên, 1 chủ tịch hội đồng quản trị, 1
phó chủ tịch hội đồng quạn trị và 5 uỷ viên do đại hộ cổ đông bầu hoặc bãi miễn.
+ Tổng giám đốc: là người điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
hàng ngày của công ty. Tổng giám đốc do hội đồng quản trị bổ nhiểm hoặc bải
miễn.
+ Tổng giám đốc chịu trách nhiểm trước hội đồng quản trị về việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ được giao.
+ Giúp việc cho tổng giám đốc có các phó tổng giám đốc do hội đồng
cầu của thị trường, thị hiếu của khách hàng để xây dựng các chiến lược tìm kiếm
thị trường.
+ Trung tâm thương mại và giới thiệu sản phẩm: Trưng bày, giới thiệu và
bán sản phẩm của công ty, đồng thời cũng la nơi tiếp nhận các ý kiến đóng góp
phản hồi tư người tiêu dùng.
+ Phòng kinh doanh nội địa: Tổ chức tiêu thụ hàng hoá nội địa, quản lý hệ
thống các đại lý bán hàng cho công ty và tổng hợp số liệu theo dỏi báo cáo tình
hình, kết quả sản xuất kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá của các hệ thống cửa hàng
đại lý.
Cấp xí nghiệp: ở các xí nghiệp thành viên có ban giám đốc xí
nghiệp bao gồm giám đốc và phó giám đốc xí nghiệp. Ngoài ra còn có các tổ
trưởng sản xuất, nhân viên tiền lương, cấp phát, thống kê, cấp phát nguyên vật
liệu… Dưới các trung tâm và cửa hàng có các cửa hàng trưởng, các nhân viên…
Mô hình bộ máy tổ chức quản lý công ty được thể hiện ở sơ đồ sau:
Tổng giám đốc
P. tổng giám đốc điều
hành sản xuất
P. tổng giám đốc điều
hành nội chính
Phòng
kỹ
thuật
chất
lượng
Phòng
kinh
doanh
dịch
vụ đời
sống
Giám đốc các xí nghiệp
thành viên
Của hàng
trưởng
Nhân viên thông
kê các XN
Nhân viên thông
kê PX
XN
I
XN
II
XN
III
Kho
ngoại
quan
Xưởng
sản xuât
nhụa
XN
may Hà
Nam
XN
may
Nam
phẩm
May
2. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm:
Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty cổ phần may Thăng Long
là một quy trình liên tục được thực hiện trên quy trình công nghệ hiện đại liên tục
đồng bộ và khép kín từ khâu nguyên liệu đưa vào là vải được đưa đến bộ phận
cắt sau đó đến bộ phận may (nếu sản phẩm nào phải in, thêu thì phải qua công
đoạn in thêu rồi mới đến công đoạn may) sau khi may hoàn thành sản phẩm được
đưa tới bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) để kiểm tra các mặt hàng bị
lỗi, bị sai quy cách, mẫu mã không ? sau đó đến bộ phận kiểm tra thành phẩm,
sau khi kiểm tra thành phẩm được đêm đi là, ủi và hoàn thành sản phẩm được
đóng gói và đưa vào nhập kho. 11
Mỗi công đoạn của quy trình sản xuất sản phẩm của công ty đều có mức
độ quan trọng nhất định song công đoạn quan trọng nhất vẩn là công đoạn cắt vì
12
Kế toán vật tư:
Có trách nhiệm hạch toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo
phương pháp ghi thẻ song song, cuối tháng tổng hợp số liệu, lập bảng kê, theo
dỏi nhập xuất và nộp báo cáo cho bộ phân kế toán tính giá giá nguyên vật liệu.
Phụ trách tài khoản 152, tài khoản 153 . khi có yêu cầu của bộ phận kế toán và
các bộ phận chức năng khác tiến hành kiểm kê lại kho vật tư, đối chiếu với sổ kế
toán nếu có sự thiếu hụt thì tìm ra nguyên nhân và biện pháp xử lý ghi trong bản
kiểm kê.
Kế toán tài sản cố định và nguồn vốn:
Quản lý các tài khoản 211, 121, .213, 214, 411, 412, 415, 416, 441. Phân loại
tài sản cố định hiện có của công ty, theo dỏi tình hình tăng hay giảm , tính khấu
hao, theo phương pháp tuyến tính, theo dõi các nguồn vốn và các quỷ của công
ty, cuối tháng lập bảng phân bổ số 3, nhật ký chứng từ số 9.
Kế toán tiền lương và các khoản BHXH:
Quản lý tài khoản 334, 338, 627, 641, 642. Hàng tháng căn cứ vào sản lượng
của xí nghiệp và đơn giá lương của xí nghiệp và hế số lương gián tiếp, đồng thời
nhận các bảng thanh toán lương do các nhân viên phòng kế toán gửi lên, tổng
hợp số liệu, lập bảng tổng hợp thanh toán lương của công ty, lập bảng phân bổ số
1.
Kế toán công nợ:
Theo dõi các khoản phải thu, phải trả trong công ty và giữa công ty với khách
hàng. Phụ trách tài khoản 131, 136, 138, 141, 331, 333. Ghi sổ kế toán chi tiết
cho từng đối tượng, cuối tháng lập nhật ký chứng từ số 5, số 10 và bảng tổng
hợp số 11.
Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm:
Theo dõi tình hình xuất nhập, tồn kho thành phẩm thành phẩm, giá trị hàng
hoá xuất nhập, ghi sổ chi tiết tài khoản 155, cuối tháng lập bảng kê số 8 và số 11,
ghi vào sổ cái các tài khoản có liên quan.
Thủ quỹ:
Hình thức kế toán
Công ty đăng ký sử dụng hầu hết các chứng từ và tài khoản trong hệ thống
chứng từ kế toán và hệ thống tài khoản kế toán thống nhất do ban tổ chức phát
hành.
Hiện nay công ty đang áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên trong
hạch toán hàng tồn kho, nhờ đó kế toán theo dõi phản ánh một cách thường
xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất tồn kho trên cơ sở sổ sách kế
toán và có thể xác định vào bất kỳ thời điểm nào .
K
ế toán tr
ư
ởng
Phó phòng kế
toán
Kế
toán
vốn
bằng
tiền
Kế
toán
vật tư
Kế
toán
TSCĐ
và vốn
Kế
toán
tiền
Kế toán khấu hao TSCĐ theo phương pháp khấu hao tuyến tính, kế toán chi phí
nguyên vật liệu và TSCĐ là phương pháp ghi thẻ song song.
Công ty đang áp dụng hình thức sổ kế toán nhật ký chứng từ với hệ thống ghi sổ
tương đối phù hợp với công tác kế toán của công ty, nội dung theo đúng chế độ
quy định, đảm bảo công tác kế toán được tiến hành thường xuyên, liên tục. Đây
là hình thức kết hợp giữa việc ghi chép theo thứ tự thời gian và việc ghi chép sổ
theo hệ thống, giữa việc ghi chép theo thứ tự thời gian với việc tổng hợp số liệu
báo cáo cuối kỳ, cuối tháng.
Hình thức hách toán này được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Chú ý: Ghi hàng ngày:
24.354.375.006
3.Hàng tồn kho 30.276.324.204
36.754.739.206
4.TàI sản lưu động khác 1.195.764.337
1.280.400.059
B_ TSCĐ và đầu tư dàI hạn
49.508.246.859
56.236.641.729
1. TàI sản cố định 47.114.576.122
44.229.082.472
2.Các khoản đầu tư tàI chính dàI hạn -
1.000.000.000
3. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 2.393.670.737
11.007.559.257
Tổng cộng tàI sản 107.182.724.768
Tổng cộng nguồn vốn 107.182.724.768
119.578.355.374
(Nguồn: Phòng Tài chính kế toán)
Từ bảng cân đối cho thấy tổng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn tăng lên.
Năm 2004 là 63,341 tỷ so với năm 2003 chỉ là 57,674 tỷ. Tổng TSLĐ tăng lên
chủ yếu là do tiền dự trữ của Công ty tăng lên đáng kể.
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn của năm 2004 cũng tăng so với năm 2003
khoảng hơn 6 tỷ. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là mức tăng của chi
phí xây dựng cơ bản dở dang (tăng gần 9 tỷ) lớn hơn mức giảm của TSCĐ (giảm
khoảng 3 tỷ).
Cả 2 chỉ tiêu TSLĐ và TSCĐ đều tăng, năm sau cao hơn năm trước. Chính vì
vậy, tổng tài sản của năm 2004 tăng hơn so với năm 2003. Nợ phải trả của công ty năm 2004 so với năm 2003 cũng tăng lên hơn 8 tỷ. Điều
này có nguyên nhân chủ yếu là nợ ngắn hạn tăng lên khá lớn, năm 2003 chỉ có
56,970 tỷ nhưng sang đến năm 2004 đã là 70,705 tỷ. Trong năm 2004, Công ty
đã thực hiện rất nhiều hợp đồng mới, điều này làm cho nợ ngắn hạn của Công ty
tăng lên khá nhiều.
Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty tăng lên đáng kể từ 18,168 tỷ tăng lên 21,154
tỷ. Nguồn vốn CSH tăng do nguồn vốn được tăng cường đầu tư từ nhiều nguồn
khác nhau. Như vậy, tổng nguồn vốn của công ty năm 2004 tăng lên so với năm
trước.
2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá cơ cấu về tài sản và nguồn vốn
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2003 Năm 2004
1-Bố trí cơ cấu tài sản
-Tài sản cố định /Tổng tài sản % 46 47
Tổng doanh thu
109.456.623.268
116.328.197.522
128.539.949.338
Các khoản giảm trừ 0
0
0
Doanh thu thuần
109.456.623.268
116.328.197.522
128.539.949.338
Giá vốn hàng bán 92.294.593.219
97.585.612.128
104.674.964.742
Lợi nhuận gộp
17.162.030.049
18.742.585.394
Chi phí hoạt động tài chính 3.324.165.857
4.264.127.941
6.180.520.687
Lợi nhuận từ hoạt động tàI
chính
-3.289.808.816
-4.115.033.450
-6.175.473.213
Các khoản thu nhập khác 0
0
25.000.000
Chi phí khác 11.498.912
10.623.640
0
Lợi nhuận khác -11.498.912
là1.102,350 triệu. Như vậy, lợi nhuận sau thuế của công ty đạt được rất khả quan,
năm sau lợi nhuận cao hơn năm trước.
Một vấn đề rất khả quan của công ty nữa là tổng lợi nhuận của công ty
đều có sự tăng trưởng vượt bậc. Tổng lợi nhuận của công ty năm 2005 là
1.102.350.585 tăng hơn rất nhiều so với năm 2003 chỉ có 696.743.959. Bên cạnh
đó, chất lượng hàng hoá, dịch vụ của công ty cung cấp, bán ra thị trường rất cao
do giá trị các khoản giảm trừ trong cả ba năm đều bằng không.
2.4. Một số chỉ tiêu tài chính căn bản khác
Công thức tính khả năng thanh toán:
Tài sản lưu động
Khả năng thanh toán hiện thời =
Nợ ngắn hạn
TSLĐ - Hàng tồn kho
Khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2004 Năm 2005
Tỷ suất lợi nhuận -Tỷ suất lợi nhuận sau thuế / doanh thu % 0,8 0,85
-Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/ Tổng TS % 0,9 0,92
-Tỷ suất lợi nhận sau thuế/Nguồn vốn CSH % 5,01 5,21
Khả năng thanh toán
-Khả năng thanh toán hiện thời Lần 1,01 0,9
-Khả năng thanh toán nhanh Lần 0,48 0,37
(Nguồn từ phòng Tài chính kế toán)
Nhìn vào bảng ta thấy năm 2004 cứ 1đ nợ thì có 0,48 đ để thanh toán
ngay, năm 2005 cứ 1 đ nợ thì có 0,37 đ dể thanh toán ngay. Khả năng thanh toán
chưa đạt yêu cầu, công đoàn đều có những giải pháp, kiến nghị thoả đáng .
Tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất ở các xí nghiệp thành viên.
các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ.
Công ty thực hiện trả lương theo sản phẩm. Do đặc thù của loại hình sản
xuất gia công, công ty thực hiện chế độ khoản quỹ lương theo tỉ lệ % trên doanh
thu. Quỹ lương của toàn doanh nghiệp được phân chia cho từng bộ phận sản
xuất trực tiếp theo mức khoán và cho bộ phận sản xuất gián tiếp theo hệ số
lương. Đối với bộ phận trực tiếp sản xuất thì hiện nay công ty qui định chế độ
khoán tiền lương với mức khoán là 42,25% giá trị sản phẩm hoàn thành.
Hàng tháng, căn cứ vào phiếu nhập kho thành phẩm, căn cứ vào tỷ giá
bình quân trên thị trường liên ngân hàng giữaVNĐ và USD ( tỷ giá này được
doanh nghiệp căn cứ vào tỷ lệ % mà xí nghiệp được hưởng 42,25%), nhân viên
hạch toán ở các xí nghiệp tính ra quỹ lương ở từng xí nghiệp và lập bảng lương.
Toàn bộ tiền lương tính trên doanh thu mà xí nghiệp nhận được phân chia
theo qui chế chia lương do bộ phận lao động tiền lương của công ty xây dựng.
Cụ thể số người và mức lương bình quân của người lao động trong những năm
qua:
Năm 2003:1.000.000 đ/người/tháng. Có 2517 người lao động.
Năm 2004: 1.100.000 đ/người /tháng. Có 3166 người lao động.
Năm 2005: 1.150.000 đ/người/tháng. Có 4000 người lao động. Để đạt được những thành tích trên Công ty luôn có ý thức đề cao nhân tố
con người, đào tạo bồi dưỡng kiến thức năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, bồi dưỡng tay nghề, kỹ thuật cho công nhân.Năm 2003 đã cử 50 cán bộ
nghiệp vụ đi học các lớp quản lý ngắn hạn, mở lớp đào tạo thực hành cho 40
công nhân, cử 15 công nhân tham dự các lớp học tại chức.
Hàng năm Công ty tổ chức cho cán bộ công nhân viên thăm quan nghỉ
mát , khám sức khoẻ định kỳ. Đặc biệt chăm lo tới đời sống của nữ công nhân lao
động. Về “Vận đông nữ công nhân trong tình hình mới “ 70% đến 80% chị em
Nhật Bản , Mỹ…
- Bên cạnh đó Công ty đã nhận thấy rằng, nhu cầu tiềm năng sản xuất
hàng nội địa là rất lớn, nên đã kịp thời điều chỉnh kế hoạch sản xuất. Đưa chỉ
tiêu sản xuất hàng nội địa thành tiêu chí phấn đấu thực hiện lớn trong các năm và
trên thực tế, giá trị tăng trưởng của Công ty có phần đóng góp to lớn từ hàng hoá
nội địa.
- Đối với hàng nội địa, kết hợp quảng cáo thông qua các cuộc trình diễn
thời trang giới thiệu sản phẩm tới đông đảo khách hàng vào dịp hội chợ triển lãm,
lễ hội và mở rộng mạng lưới đại lý ở Hà Nội, nhiều tỉnh khác.