TIỂU LUẬN:
Mặt trái của chuyển giao
công nghệ và giải pháp
Lời nói đầu
Phát triển kinh tế ở mỗi nước là kết quả của việc sử dụng một cách đúng đắn,
hợp lý các nguồn nhân tài – vật lực và tài nguyên thiên nhiên. Trong công cuộc đổi
mới kinh tế Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương “Giải phóng mọi năng lực sản
xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả
sự giúp đỡ quốc tế để phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với củng cố quan hệ sản
xuất Xã hội chủ nghĩa…”, đó là một phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế xã
hội trong giai đoạn hiện nay. Để giải quyết nhiệm vụ này không thể thiếu vai trò của
công nghệ như là một phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành hàng hoá tiêu
dùng và các yếu tố sản xuất có giá trị. Trước kia trong nền kinh tế quan liêu bao cấp
công nghệ đưa vào nước ta chủ yếu bằng con đường viện trợ không hoàn lại trên tinh
thần giúp đỡ ít dựa vào cơ sở thương mại công nghệ. Với tâm lý và quản lý của nền
kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ và lạc hậu chúng ta đón nhận công nghệ một cách
liệu chuyên môn nghiệp vụ liên quan, toàn bộ thông tin đặc biệt là bí quyết liên quan,
máy móc trang thiết bị, kinh nghiệm trong việc tổ chức khai thác điều hành và quản
lý công nghệ. Trên thế giới có hai thái cực đối lập nhau, một bên là các nước phát
triển nơi trình độ khoa học phát triển rực rỡ có nhiều công nghệ đã được áp dụng và
khai thác, đến giai đoạn và thời điểm nhất định nó đã trở nên lỗi thời, lạc hậu; một
bên là các nước đang phát triển có trình độ khoa học phát triển ở mức thấp, họ rất
cần đến công nghệ để giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt của đời sống kinh
tế xã hội, để phát triển và tăng trưởng bền vững. Do đó, luồng chuyển giao công
nghệ chủ yếu hiện nay là từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển trên
nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Cụ thể là:
Đối với bên công nghệ chuyển giao do có công nghệ chuyển giao mà hoàn
thiện công nghệ bởi môi trường ở các nước được chuyển giao như dân trí, trình độ,
điều kiện tự nhiên… làm bộc lộ yếu kém cả về phương pháp, nguyên tắc, nguyên lý
công nghệ lẫn máy móc trang thiết bị công nghệ. Đó là cơ hội để tích cực đầu tư
nghiên cứu hoàn thiện công nghệ đó, mở rộng chuyển giao sang các nước láng giềng.
Hơn nữa do có chuyển giao công nghệ mà các nước phát triển có được nguồn thu
nhập lớn đó là khoản thu trực tiếp từ việc bán công nghệ và khoản thu gián tiếp
thông qua nhỏ giọt bí quyết công nghệ, cung cấp tài liệu có liên quan…
Chuyển giao công nghệ tạo điều kiện cho các nước phát triển mở rộng thị
trường, mở rộng được khu vực ảnh hưởng mà bằng các biện pháp khác như: bao vây,
cấm vận, chính trị, quân sự… đều không thực hiện được. Hơn nữa các nước phát
triển có khả năng độc quyền thị trường ở các nước nhận công nghệ, tận dụng được
nguồn tài nguyên, nguồn lao động dồi dào, rẻ mạt ở các nước này và có thể tận dụng
được những điều khoản có lợi trong hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Về phía bên tiếp nhận do tiếp nhận công nghệ mà đốt cháy được giai đoạn vì
thế trong thời điểm này phải có sự tiếp thu nhanh chóng những thành công và hạn
chế thất bại tiếp thu có phê phán, tránh tiếp thu một cách ồ ạt nhằm đạt hiệu quả cao
nghiệp dễ làm và giá chuyển giao không trung thực. Điều này dẫn đến sự lệ thộc về
kĩ thuật, tài chính dẫn đến sự lệ thuộc về văn hoá-xã hộivà các mặt khác ở các nước
tiếp nhận công nghệ đối với các nước có công nghệ chuyển giao. Mặt khác các nước
phát triển tiến hành xây dựng các xí nghiệp với quy trình không hoàn chỉnh ở các
nước đang phát triển khác nhau để duy trì ưu thế công nghệ, chuyển giao công nghệ
không đầy đủ tạo ra sụ cạnh tranh giã các nước đang phát triển thông qua cơ chế đầu
tư nhằm tạo lơị thế về đầu tư và chuyển giao công nghệ, các nước đang phát triển
buộc phải thoả hiệp với các nước phát triển để nhận đầu tư với những bất lợi về
nhiều mặt như: giá nhân công rẻ mạt, đặc quyền cho bên nước ngoài, giảm thuế để
tăng lợi nhuận cho các nhà đầu tư.
Hơn nữa, các nước phát triển còn tìm mọi cách để ngăn chặn các khả năng
phát triển công nghệ nội sinh của các nước đang phát triển bằng cách tạo ra các nhu
cầu về nhập công nghệ làm nản chí các nhà khoa học, các cán bộ nghiên cứu, triển
khai của các nước đang phát triển và lái các nhà đầu tư trong nước đi theo hướng
nhập khẩu, tiếp nhận công nghệ để gia công sản xuất và xuất khẩu những nguyên liệu
thô sang các nước có công nghệ cao hơn.
Các nước đang phát triển nếu như tiếp nhận công nghệ không tính toán, cân
nhắc kỹ lưỡng thì sẽ có nguy cơ tiếp nhận những công nghệ không phù hợp gây nên
sự lãng phí rất lớn về sức người, sức của, thậm chí còn làm xói mòn niềm tin. Tiếp
nhận công nghệ con gây nên sự phát triển không hài hoà cân đối giữa các vùng, khu
vực kinh tế địa lý tạo nên mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Điều này ảnh hưởng rất
lớn đến tiến trình xây dựng và phát triển đất nước
III.Tình hình chuyển giao công nghệ và thực trạng ở nước ta và những giải
pháp
Trong những năm gần đây thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đẩy nhanh tiến trình hội nhập và
phát triển với các nước trong khu vực chúng ta cũng đã tích cực tham gia vào các
chống cát bay cát nhảy tại ven biển Trung Bộ, công nghệ nhận dạng lũ thượng du
sông Hồng dã dược thử nghiệm và đưa vao xử dụng để dự báo và điều khiển lũ , tích
nước tăng cường khả năng sản xuất điện,… Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng
chuyển giao công nghệ cũng đem lại không ít những khó khăn cho kinh tế xã hội
Việt Nam trong những năm vừa qua. Là một nước có 80% lao động làm nông
nghiệp, trình độ thấp việc nhập khẩu công nghệ mới hiện đại đã làm cho vấn đề việc
làm trở nên rất khó tháo gỡ đó là thực trạng một số lượng lớn lao động không đủ
trình độ tiếp xúc với công nghệ mới thì dư thừa nhưng vẫn thiếu rất nhiều lao động
có tay nghề cao hiểu biết về khoa học công nghệ để tham gia vào sản xuất với những
máy móc hiện đại được nhập khẩu. Một vấn đề cũng gây ra những khó khăn và thiệt
hại rất lớn cho nền kinh tế Việt nam trong thời điểm hiện nay đó là về phía các nhà
quản lý những người trực tiếp quyết định những hợp đồng chuyển giao công nghệ từ
phía các đối tác nước ngoài. Theo nhận định của những nhà chuyên môn cho thấy có
tới 25% số thiết bị công nghệ nhập từ nước ngoài là các thiết bị đã qua sử dụng, được
tân trang lại và nâng cấp, không những thế một số công nghệ nhập về còn mang tính
cơ khí hoá thấp, dùng nhiều lao động thủ công. Những hợp đồng chuyển giao công
nghệ do không được cân nhắc kỹ lưỡng đến những điều bất cập mà chỉ chú trọng đến
việc nhập được công nghệ dẫn đến những điều khoản có lợi cho bên đối tác làm thiệt
hại đến lợi ích của nền kinh tế nước nhà. Còn nhiều vấn đề vẫn còn chưa được cân
nhắc đến khi tiến hành chuyển giao công nghệ đó là hầu hết các hợp đồng được ký
để giải quyết các vấn đề trước mắt như tăng năng suất, chất lượng mà không được
xem xét đến những hậu quả lâu dài của nó như làm hạn chế sự phát triển nghiên cứu
công nghệ trong nước. Chẳng hạn từ trước năm 1995 lúa giống sản xuất trong nước
hầu hết là từ các cơ quan nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp, sau năm 1995 một số
giống lúa có nguồn gốc từ Trung Quốc đã được nhập khẩu cho năng suất cao, chất
lượng hạt tốt nên làm cho giống trong nước không có cơ hội phát triển. Hơn nữa,
chuyển giao công nghệ còn làm cho tăng tỷ lệ nhập siêu, dẫn đến thâm hụt cán cân