Tài liệu TIỂU LUẬN: Vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm ngành may mặc cần được quan tâm nghiên cứu và giải quyết doc - Pdf 10

TIỂU LUẬN:

Vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng
sản phẩm ngành may mặc cần được quan
tâm nghiên cứu và giải quyết
Lời nói đầu

Trong thời kì bao cấp chất lượng sản phẩm không phải là vấn đề quyết định vì
sản phẩm sản xuất ra đã có nhà nước tiêu thụ, vì vậy mà các doanh nghiệp chỉ quan tâm
đến việc chạy đua tăng năng suất để vượt mức kế hoạch, còn chất lượng sản phẩm thì bị
lơi lỏng bỏ quên. Nhưng ngày nay trong cơ chế thi trường có sự quản lý của nhà nước,
trong xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên
quyết liệt thì chất lượng sản phẩm và dịch vụ, sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng, sự
hợp lí về giá cả đảm bảo đúng thời gian giao hàng sẽ là những nhân tố quyết định sự
thành bại của doanh nghiệp. Vì vậy ngày nay chất lượng sản phẩm là một trong ngững
mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Đặc biệt là ngành may mặc, một ngành sản
xuất hàng hoá tiêu dùng có tính thời vụ thì chất lượng sản phẩm càng trở thành một vấn
đề quan trọng. Với tính chất quan trọng của chất lượng sản phẩm và đặc điểm của
ngàmh may mặc thì ta thấy rằng vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm

thì họ cho rằng chất lượng sản phẩm là sự phù hợp và đạt được của một sản phẩm so với
một tập hợp các yêu cầu và hệ thống tiêu chuẩn đã được thiết kế từ trước

Quan niệm chất lượng theo thị trường cho rằng chất lượng sản phẩm là sự phù
hợp với mục đích và yêu cầu của người sử dụng (xuất phát từ nhu cầu của thị trường)

+ Xuất phát từ giá cả (mối quan hệ giữa lợi ích của sản phẩm với chi phí phải
bỏ ra ) chất lượng là cung cấp những sản phẩm dịch vụ ở mức giá mà khách hàng có thể
chấp nhận được

+ Xuất phát từ cạnh tranh ta lại có định nghĩa : chất lượng đó là cung
cấpnhững đặc điểm của sản phẩm và dịch vụ mà đối thủ cạnh tranh không có .

Mỗi định nghĩa trên đều xuất phát từ một khía cạnh nhất định vì vậy tuy ở
mỗi cách đêù có những ưu điểm nhất định song cũng đều không tránh khỏi những hạn
chế nhất định để đưa ra một định nghĩa dễ hiểu, loại bỏ được những hạn chế trên thì tổ
chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) có định nghĩa trong ISO 9000 như sau: ” chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của sản phẩm có khả năng thoả mãn những nhu
cầu đã nêu ra hoạc tiềm ẩn”

1.2 Các yếu tố cấu thành chất lượng sản phẩm

Trong một sản phẩm có nhiều nhóm thuộc tính thể hiện chất lượng sản phẩm
như:

- Các thuộc tính phản ánh chức năng tác dụng của sản phẩm thể hiện khả
năng của sản phẩm có thể thực hiện chức năng hoạt động như mong muốn


hoá của sản phẩm
- Chất lượng có ý nghĩa tương đối có nghĩa là chất lượng thường xuyên thay
đổi theo không gian và thời gian.

Có thể ở giai đoạn này sản phẩm có chất lượng được đánh giá là cao nhưng ở
giai đoạn sau thì không chắc đã cao do khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển và nhu cầu
của con người cũng ngày càng cao hơn. Vì vậy chất lượng chỉ được đánh giá theo từng
thời điểm. Các nhà sản xuất phải nắm chắc đặc điểm này để luôn luôn đổi mới và cải
tiến công nghệ để ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm để ngày càng đáp ứng tốt
hơn nhu cầu của thị trường .

- Chất lượng chỉ phù hợp ở từng thị trường cụ thể do nhu cầu và sở thích của
người dân ở mỗi vùng là khác nhau .Vì vậy khi đưa sản phẩm mới vào thi trường thì
doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ thị trường đó.

- Chất lượng vừa mang tính trừu tượng vừa mang tính cụ thể . Tính trừu
tượng thông qua sự phù hợp, nó phản ánh mặt chủ quan của sản phẩm và phụ thuộc vào
nhận thức của khách hàng. Nâng cao chất lượng loại này sẽ có tác dụng tăng khả năng
hấp dẫn thu hút khách hàng nhờ đó tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm. Chất lượng phải
thông qua các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật, cụ thể được thể hiện thông qua chất lượng tuân
thủ thiết kế, thông qua tính khách quan của sản phẩm. Nâng cao chất lượng loại này làm
giảm chi phí và tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng thực hiện chính sách giá cả
linh hoạt.

- Chất lượng sản phẩm chỉ thể hiện đúng trong điều kiện tiêu dùng cụ thể,
phù hợp với mục đích sử dụng nhất định.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

doanh nghiệp là người trực tiếp tạo ra sản phẩm vì vậy tất cả khâu các giai đoạn
của quá trình sản xuất các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất đều có tác động đến
chất lượng sản phẩm. Nói đến các nhân tố bên trong doanh nghiệp tác động đến chất
lượng sản phẩm người ta thường nghĩ đến nguyên tắc 4M
-Con người(Men): con người là chủ thể của mọi hoạt động, của quá trình san xuất vì
vậy con người là yếu tố quan trọng trong việc quản lý để nâng cao chất lượng sản phẩm
thông qua: tay nghề, lòng nhiệt tình, tính sáng tạo… - Máy móc thiết bị (Machinezy): là công cụ phương tiện để tạo ra sản phẩm vì vậy
chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào trình độ kĩ thuật và tính đồng bộ của máy móc thiết
bị của doanh nghiệp
- Nguyên vật liệu(Materials): là thứ cấu thành sản phẩm nên chất lượng sản phẩm
phụ thuộc vào chất lượng nguên vật liệu, thời gian cung ứng nguyên vật liệu, bảo quản
nguyên vật liệu …
- Quản lý( Management): trong doanh nghiệp nếu có 3 điều kiện trên đã tốt mà
khâu quản lý kém, sự kết hợp giữa các khâu không tốt thì chất lượng sản phẩm cũng
không cao. Vì vậy khâu quản lý cũng có vai trò quyết định đến chất lượng sản phẩm .
1.5. Vai trò của chất lượng sản phẩm .
Chất lượng sản phẩm có vai trò quyết định sự sống còn của doanh nghiệp, nó thể
hiện ở
- Chất lượng sản phẩm thể hiện sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Sản
phẩm có sức cạnh tranh lớn sẽ được tiêu thụ nhiều làm tăng thu nhập cho doanh nghiệp
- Chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản vô hình (uy tín) của
doanh nghiệp trên thị trường…
2.Quản lý chất lượng sản phẩm
2.1. Các quan điểm về quản lý chất lượng (hay sự đóng góp của các chuyên gia hàng đầu
về chất lượng )
Trong mỗi giai đoạn mỗi thời kì phát triển của sản xuất công nghiệp người ta lại có
những quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng và ở mỗi thời kì lại nổi lên những tên

*K. Ishikawa: ông là người đề xuất việc sử dụng sơ đồ nhân quả (sơ đồ xương cá)
trong quản lý chất lượng và ông cũng là người đề xuất cũng như trực tiếp tổ chức nhóm
chất lượng trong các doanh nghiệp .
* Theo tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế(ISO)” Quản lý chất lượng là hệ thống các
hoạt động. Các biện pháp, phương pháp và qui định hành chính, kinh tế kĩ thuật tổ chức
… dựa trên những thành tựu khoa học kĩ thuật, nhằn sử dụng tối ưu các tiếm năng trong
kinh doanh để bảo đảm duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm (thiết kế ,
sản xuất ,tiêu thụ và tiêu dùng ), thoả mãn nhu cầu của xã hội.” (định nghĩa về quản lý
chất lượng trong ISO 9000).
2.2 Các giai đoạn phát triển của quản lý chất lượng
Cho đến nay quản lý chất lượng đã chải qua ba giai đoạn phát triển khácnhau
*Giai đoạn 1 (từ đầu thập kỉ 20 dến 1939) :đây là quá trình hình thành và phát triển
của quản lý chất lượng. ở giai đoạn này chưa có khái niện về quản lý chất lượng mà chỉ
có khái niệm kiểm tra chất lượng .Đây là giai đoạn mà người ta đòng nghĩa quản lý chất
lượng và kiểm tra chất lượng, quản lý chất lượng được hiểu theo nghĩa hẹp vì vậy chức
năng chủ yếu là kiểm tra chất lượng .
Mục đích của quản lý chất lượng ở giai đoạn này là phát hiện sản phẩm không đạt
tiêu chuẩn ,tách ra khỏi những sản phẩm tốt để đảm bảo sản phẩm cuối cùng khi xuất
xưởng luôn đạt tiêu chuẩn.
Xuất phát từ mục đích quản lý chất lượng ở giai đoạn này mà nhiệm vụ quản lý chất
lượng được giao cho các cán bộ kĩ thuật, bộ phận kiểm tra chất lượng được tăng cường
củng cố, với những doanh nghiệp lớn thường thành lập phòng kiểm tra chất lượng riêng
Vì phương pháp thực hiện quản lý chất lượng ở giai doạn này là kiểm tra chất lượng
nên ở giai đoạn này quản lý chất lượng kém hiệu quả, chỉ thực hiện trong khâu sản xuất
Cho đến cuối giai đoạn này một số doanh nghiệp đã bước đầu sử dụng công cụ
thống kê đơn giản trong quản lý chất lượng .
*Giai đoan 2 (từ 1947 đến cuối những năm 60) ở giai đoạn này quản lý chất lượng

+Vai trò trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo cấp cao trong doanh nghiệp về vấn đề
chất lượng
+ Quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị bộ phận trong doanh nghiệp
+ Mối quan hệ giữa các đơn vị bộ phận trong việc thực hiện các nhiệm vụ được đặt
ra .
+ Các qui trình thủ tục cho việc đảm bảo cải tiến chất lượng trong doanh nghiệp
- Chính sách chất lượng của doanh nghiệp: do ban lãnh đạo cấp cao của doanh
nghiệp ban hành ,nó phải được công bố rộng rãi trước toàn bộ nhân viên. Giám đốc cam
kết thực hiện bằng văn bản . Nội dung của văn bản là viết những gì sẽ làm và cam kết
phải làm những gì đã viết. - Mục tiêu chất lượng : đó là một cáI đích mà doanh nghiệp phải đạt được trong một
thời gian nhất định (bao gồm mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể)
- Kế hoạch chất lượng là một tài liệu đề cập đến từng hoạt động sản xuất, cung cấp
ra sản phẩm, dịch vụ. Trong đó chỉ ra những hoạt động cụ thể cần thiết để đảm bảo về
chất lượng sản phẩm, dịch vụ đó.
- Hệ thống tài liệu chất lượng là một hệ thống tài liệu gồm có: sổ tay chất lượng,
quá trình thủ tục, các hướng dãn công việc. Cụ thể
+ Sổ tay chất lượng là bản mô tả về chính sách chất lượng, những điều lệ về chất
lượng thuộc doanh nghiệp .
+ Qui trình thủ tục là sự mô tả về toàn bộ qui trình hoạt động của một công việc nào
đó cần thực hiện
+ Các hướng dẫn công việc là bản hướng dẫn được dùng để thực hiện những công
việc phức tạp: bản vẽ kĩ thuật, hướng dẫn kĩ thuật…
*Những hệ thống quản lý chất lượng đang được áp dụng
- QS 9000 là hệ thống quản lý chất lượng áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất ô

- Hệ thống quản lý chất lượng tổng hợp (TQM)
- Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000

trong việc đảm bảo sự thống nhất giữa chính sách chất lượng chung của doanh nghiệp
với các bộ phận phân tán 2.3.2. Nội dung của quản lý chất lượng theo hệ thống quản lý chất lượng.
* Nâng cao mức thoả mãn của khách hàng trên cơ sở tiết kiệm chi phí (Vấn đề đẩm
bảo chất lượng và cải tiến chất lượng)
Đó là toàn bộ những hoạt động nhằm đưa chất lượng sản phẩm lên mức cao hơn
trước, giảm dần khoảng cách giữa những mong muốn của khách hàng và thực tế chất
lượng đạt được thoả mãn nhu cầu của khách hàng ở mức cao hơn
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5200-90, đảm bảo chất lượng chia ra làm hai phần: - Đảm bảo chất lượng nội bộ
Xem xét đánh giá các vấn đề về chất lượng trong mối quan hệ với các yếu tố khác
của hoạt động quản lý chất lượng. Là các hoạt động đảm bảo lòng tin cho lãnh đạo của
doanh nghiệp rằng các sản phẩm, dịch vụ đã đạt chất lượng mong muốn, đúng tiêu chuẩn
thiết kế.
Để đảm bảo chất lượng nội bộ doanh nghiệp phải có một tổ chức hợp lý, phải có
ban lãnh đạo đủ tài năng, có mục tiêu chất lượng, chính sách chất lượng rõ ràng, có các
kế hoạch chi tiết để thực hiện mục tiêu chất lượng và chính sách chất lượng đó, phải quản
lý tốt chất lượng ở các khâu marketing, thiết kế, sản xuất thử nghiệm, bao gói, bảo quản,
vận chuyển bán và mua, quản lý tốt chất lượng các nguồn lực, quản lý tốt chi phí, áp
dụng linh hoạt các biện pháp quản lý chất lượng, đặc biệt áp dụngcác biện pháp phòng
ngừa.
- Đảm bảo chất lượng với bên ngoài
Là các hoạt động đảm bảo cho người mua và người đặt hàng tin rằng hệ thống chất
lượngcủa người cung cấp chắc chắn đảm bảo cho sản phẩmvà dịch vụ phù hợp với các
yêu cầu chất lượng. Để đảm bảo chất lượng với bên ngoài doanh nghiệpphải thỉa thuận
với người mua các yếu tố sau: hệ thống bảo đảm chất lượngcủa người cung cấp để người

Chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, tinh thần
trách nhiệm, ý thức tự giác, lòng nhiệt tình và khả năng trang bị kiến thức, phương tiện
quản lý chất lượng. Lấy phòng ngừa là chính, với phương châm làm đúng ngay từ đầu,
sản phẩm không có phế phẩm.
Không ngừng nâng cao chất lượng của hệ thống và các quá trình từ thiết kế sản
phẩmđến sản phẩm và tiêu dùng sản phẩm. * Quản lý chất lượng được thực hiện trong tất cảmọi khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh. Khác với quản lý chất lượng chỉ kiểm tra ở khâu cuối của quá trình sản xuất.
Quản lý chất lượng thuộc hệ thống quản lý chất lượng nhằm giảm thiểu sản phẩm hỏng
dẫn đén giảm chi phí bằng cáchkiểm tra chất lượngở tất cả các khâu của quá trình sản
xuất nhằm không để sai hỏng xảy ra chứ không bị động biết hỏng rối mới sửa. Việc thực
hiện được bắt đầu từ khâu thiết kế sản phẩm, mua nguyên vật liệu, quá trình bảo quản
cũng như cung cấp nguyên vật liệu, quá trình gia công sản xuất tạo ra sản phẩm.
* Quản lý chất lượng là quá trình thực hiện chức năng của quản lý theo vòng tròn
chất lượng:hoạch định chất lượng –thực hiện chất lượng –kiểm tra chất lượng -điều chỉnh
cải tiến chất lượng.hoạt động quản lý chất lượng là hoạt động quản lý chứ không đơn
thuần thuầ

2.3.3. Sự khác nhau giữa quản lý chất lượng trước kia và ngày nay
Sự khác nhau này được thể hiện thông qua các phương diện sau:
- Về tính chất : quản lý chất lượng trước kia mang tính chất kĩ thuật đơn thuần vì
vậy vấn đè quản lý chất lượng thuộc phạm vi trách nhiệm của cán bộ kĩ thuật. Còn ngày
nay vấn đè quản lý chất lượng không đơn thuần là vấn đề kĩ thuật mà nó thuộc lĩnh vực
quản lý. Khi nó được coi là vấn đề quản lý thì những mục tiêu về chất lượng bao giờ
cũng được thực hiện một cách tốt nhất.
- Xét trên phương diện quan niệm về sản phẩm. Trước kia cho rằng tất cả những
gì mà doanh nghiệp bán ra ngoài thị trường mới là sản phẩm. Còn ngày nay người ta cho
rằng tất cả những gì là kết quả của doanh nghiẹp tạo ra có thể tiêu dùng nội bộ hoạc bán

Phần II . Quản lý chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp ngành
may Việt Nam

1.Thực trạng về chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm ngành may
1.1 Ngành may ngày càng nâng cao mức thoả mãn của khách hàng trên cơ sở tiết kiệm
chi phí
Trong một vài năm gần đây ngành may đã không ngừng nâng cao chất lượng sản
phẩm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước, dần
chiếm lại thị trường nội địa, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, có được những
thành tựu trên là do đa số những doanh nghiệp may mặc Việt Nam những năm gần đây
đã thường xuyên đầu tư đổi mới công nghệ. Nhưng theo thống kê và đánh giá của các
chuyên gia, thiết bị công nghệ ngành may, tuy đã đổi mới 90-95% thiết bị nhưng trình độ
tự động hoá quá trình sản xuất cũng chỉ ở mức trung bình, công nghệ lạc hậu hơn các
nước tiên tiến trong khu vực khoảng 5 năm. Năng lực thiết kế thời trang, nhất là thời
trang cuộc sống của người tiêu dùng trong nước tuy đã có những bước tiến đáng kể song
vẫn còn yếu. Ngoài ra, chất lượng dịch vụ trong ngành may mặc như hệ thống thông tin,
giao dịch, khả năng giao hàng đúng tiến độ cũng như khả năng tổ chức thực hiện các đơn
đặt hàng nhỏ của các doanh nghiệp nước ta cũng có một khoảng cách so với các nước
trong khu vực.
Giá cả là yếu tố hạn chế lớn nhất của hàng may mặc nước ta, với mức giá thường
cao hơn mức giá sản phẩm cùng loại của các nước ASEAN khoảng 10-15%, cao hơn
hàng Trung Quốc hơn 20%. Để giảm giá thành sản phẩm, các doanh nghiệp cần xúc tiến
ngay việc cải tiến hệ thống quản lý, tổ chức dây truyền sản xuất, nâng cao tay nghề, kỹ
năng vận hành và xử lý công việccủa người lao động nhằm tăng nhanh năng suất (hiện
năng suất lao động chỉ bằng 50-70% của Singapo, Malaysia, Thái Lan). Đồng thời, áp
dụng các biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất, hạn chế những lãng phí lớn về thời gian và
sức người, vốn ít được để tâm tới.

chính sách tạo điều kiện để các doanh nghiệp nghiên cứu và áp dụng các phương pháp
quản lý chất lượng mới. Song vẫn còn nhiều nguyên nhân (cả về phía doanh nghiệp, cả
về phía môi trường) đã ngăn cản các doanh nghiệp nghiên cứu và áp dụng các phương pháp quản lý chất lượng mới đó. Ngành may mặc cũng không phải là ngoại lệ. Vì vậy
cho đến nay tỷ lệ doanh nghiệp ngành dệt may đã được cấp chứng chỉ tiêu chuẩn quản lý
chất lượng ISO 9000 chiếm chỉ khoảng 5% trong tổng số các doanh nghiệp của ngành.
Số còn lại vẫn tiếp tục thực hiện quản lý chất lượng theo kiểu kiểm tra chất lượng. Tức là
vẫn coi quản lý chất lượng là hoạt động thuộc lĩnh vực kỹ thuật và trách nhiệm quản lý
chất lượng thuộc về cán bộ kỹ thuật, thông qua việc kiểm tra chất lượng sản phẩm trước
khi đưa ra thi trường bằng các chỉ tiêu chất lượng. Cho nên bị động trong việc kiểm soát
chất lượng sản phẩm-kiểm tra, phát hiện để sửa chữa những lỗi sai- chứ không phải là
chủ động kiểm tra ở tất cả các khâu, các công đoạn, các loại nguyên vật liệu… có như
vậy mới hạn chế được sự sai hỏng, kém chất lượng ở mức tối thiểu. Vì vậy mà chất
lượng sản phẩm còn thấp hơn so với các nước trong khu vực, tỷ lệ phế phẩm cao nên chi
phí sản xuất lớn dẫn đến giá thành sản phẩm cao. Làm cho sản phẩm kém sức cạnh tranh
trên thị trường…

2.Những điều gặp phải khi áp dụng ISO 9000 cho ngành may mặc
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để tăng chất lượng sản phẩm các doanh
nghiệp ngành may mặc đã và đang tiếp tục áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO
9000. Trong quá trình này các doanh nghiệp đã có những điều kiện thuận lợi song
cũng gặp không ít những khó khăn, vẫn còn nhiều điều vướng mắc từ đó đã nảy sinh
những quan niệm sai lầm về chứng chỉ ISO 9000 .
2.1. Những thuận lợi
-Thuận lợi đàu tiên mà ta dễ dàng nhận thấy đó là sự tạo điều kiện thuận lợi, sự
giúp đỡ của các cấp các ngành đối với các doanh nghiệp. Điều đó được thể hiện
thông qua việc các cấp các ngành ở nhiều địa phương đã thành lập ban chỉ đạo trương
trình triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 hoạc giúp đỡ bằng

bật.
- Chi phí áp dụng ISO 9000 là một trong những vấn đề băn khoăn nhất,
bởi lẽ chi phí cho tư vấn giúp cho xây dựng hệ thống chất lượng,đánh giá, cấp chứng
chỉ ISO 9000 là một con số không nhỏ, chưa kể chi phí phát sinh trong quá trình triển khai hệ thống quản lý chất lượng (đầu tư, trang bị thêm, cải tạo nhà xưởng…) thường
phải cân nhắc-nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.3 Những quan đIểm sai lầm về chứng chỉ chất lượng ISO 9000
2.3.1. Ngộ nhận khi xây dựng hệ thống chất lượng
-Trình độ công nghệ không nhất thiết phảI có công nghệ thật tiên tiến mới phấn đấu
có hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 và được chứng nhận ISO 9000
- Chất lượng sản phẩm
Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm có chất lượng chưa cao nhưng ổn định và
được khách hàng chấp nhận đặt mua vì phù hợp với yêu cácầu sử dụng của họ, mặc dù
đoi khi các sản phẩm này không hoàn toàn đáp ứng đúng yêu cầu tiêu chuẩn kĩ thuật
quốc tế hay quốc gia nhưng vẫn đảm bảo các yếu tố an toàn, vệ sinh sức khoẻ và môi
trường, vẫn có thể xây dựng hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn của ISO 9000. Điều
quan trọng là sự phù hợp của sản phẩm với tiêu chuẩn mà xí nghiệp đã được khách hàng
chấp nhận.
ở Nam Phi dù nhân viên không biết chữ, một xí nghiệp vẫn đạt được chứng chỉ ISO
9001 mặc dù các qui trình và chỉ dẫn công việc đều được trình bày dưới dạng hình vẽ !
ISO 9000 không đòi hỏi mọi nhân viên sản xuất phải có học vấn cao, mà chỉ đòi hỏi họ
được đào tạo và đạt đến sự thành thạo theo yêu cầu cho công việc.
2.3.2 Ngộ nhận và vướng mắc trong khi xây dựng hệ thống
- Các tiêu chuẩn ISO 9000 không đề cập đến khía cạnh tài chính như quản lý tài sản
cấu trúc hành chính. Do khi đó xây dựng ISO 9000 xí nghiệp không cần đề cập mọi
phạm vi tài chính kế toán trong hệ thống văn bản chất lượng .Người tư vấn và đánh giá
viên bên ngoài không có quyền xem xét hay đề cập đến vấn đề tài chính kế toán .
- Tổ chức nhân sự

2.3.4 Ngộ nhận về chứng chỉ ISO
Một hệ thống chất lượng chỉ thực sự được thừa nhận phù hợp tiêu chuẩn sau khi nhận
được chứng chỉ .Tiếp đó, doanh nghiệp cần từ 3 đến 5 năm để phát huy toàn bộ lợi ích
của hệ thống chất lượng Cứ 6 tháng hoạc 1 năm các chuyên gia lại được cử đến thực hiện
việc đánh giá định kì nhằm duy trì hiệu năng của hệ thống. Mỗi lần đánh giá tiếp theo,
chuyên gia càng đào sâu thêm và khắt khe hơn trước những thiếu sót của doanh nghiệp, và vì vậy chương trình chất lượng sẽ không thể dừng lại và ngày càng hoàn thiện hơn.
Chứng chỉ ISO 9000 là chứng chỉ từ một tổ chức có tín nhiệm của thi trường, nhưng sự
thừa nhận cuối cùng phải là sự thừa nhận của người tiêu thụ sản phẩm .Vì vậy chất lượng
sản phẩm, chất lượng dich vụ … phải không ngừng được cải tiến và nâng cao mới đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng .Duy trì hệ thống chất lượng chỉ để bảo
vệ chứng chỉ mà quên sự cam kết đầu tư vào việc cải tiến chất lượng sản phẩm liên tục
giảm phế phẩm, tăng năng suất nhằm đáp ứng mỗi ngày một hữu hiệu cho nhu cầu và
mong muốn của khách hàng, có thể đưa doanh nghiệp đến bại sản vì tăng phí tổn, hướng
nội xa thực tế… Phần III. Những giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình áp dụng phương pháp
quản lý chất lượng bằng tiêu chuẩn ISO 9000 vào ngành may Việt Nam.

định cụ thể, mức đọ xử phạt tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại do sai phạm gây ra…

Kết luận

Ngày nay chất lượng sản phẩm có vai trò quyết định đối với sự sống còn của mỗi
doanh nghiệp. Vì vậy mọi doanh nghiệp đều tìm mọi cách nâng cao chất lượng sản
phẩm với chi phí hợp lí nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường. Các
doanh nghiệp ngành may mặc cũng không ngoài qui luật trên. Tuy rằng so với các
nước trong khu vực và trên thế giới thì chất lượng sản phẩm của ngành còn thấp hơn rất
nhiều song đó cũng đã là một sự đột phá lớn của ngành may Việt Nam trong những
năm vừa qua. Để đạt được những thành tựu như vậy, đó là nhờ vào việc áp dụng các hệ
thống quản lý chất lượng. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay tỷ lệ các doanh nghiệp may
mặc đã áp dụng và được cấp chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng còn nhỏ. Vì vậy
Nhà nước và các cơ quan chức năng cần có những biên pháp, chính sách thích hợp
nhằm thúc đẩy quá trình nghiên cứu và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng vào tất
cả các doanh nghiệp may mặc. Để may măc xứng đáng là ngành mũi nhọn hàng đầu về
sản xuất hàng xuất khẩu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status