Tài liệu TIỂU LUẬN: Nâng cao năng lực cạnh tranh của thuỷ sản Việt Nam trên thị trường Mỹ - Pdf 10


TIỂU LUẬN:

Nâng cao năng lực cạnh tranh
của thuỷ sản Việt Nam trên
thị trường Mỹ
LỜI MỞ ĐẦU
Thủy sản là một ngành mũi nhọn của kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Thủy
sản đóng vai trò lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ, Nhật Bản,
EU, Trong tương lai thủy sản Việt Nam đang hướng tới giữ vững các thị trường
truyền thống này và mở rộng các thị trường mới như: Nam Phi, Trung Quốc,
Từ khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO ngày 7/11/2006, thủy sản
Việt Nam có cơ hội tiếp cận với rất nhiều thị trường và được đối xử công bằng hơn
theo Luật Quốc tế. Nhưng Thủy sản cũng gặp phải khó khăn rất lớn đó là sự cạnh
tranh gay gắt với các thị trường nước ngoài. Do đó phải nâng cao năng lực cạnh
tranh với các thị trường quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, dựa trên những tìm hiểu, thu
thập tài liệu cá nhân em đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của
thuỷ sản Việt Nam trên thị trường Mỹ” làm đề án môn học Kinh Tế Thương Mại.
Mục tiêu của đề tài nhằm phân tích rõ ràng năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt
Nam trên thị trường Mỹ, qua đó nêu lên một số giải pháp để nhằm đa dạng hóa cơ
cấu sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng uy tín, thương hiệu, cạnh
tranh vững mạnh trên thị trường Mỹ.
mới , như vậy mới gia tăng được thị phần của doanh nghiêp. Những doanh nghiệp có
lợi nhuận cao và thị phần lớn trên thị trường rõ ràng sẽ được đánh giá là có khả năng
cạnh tranh cao trên thị trường .
Trên đây là những quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh hay khả năng
cạnh trạnh của doanh nghiệp.Tuy rằng khái niệm chung nhất còn nhiều tranh cãi song
sự phong phú về các quan điểm sẽ giúp chúng ta tiếp cận phạm trù được dễ dàng
hơn.

Từ các quan điểm trên ta có thể rút ra một khái niệm chung nhất như sau:
Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng , năng lực mà doanh
nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh ,
đảm bảo thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ
cho các mục tiêu của doanh nghiệp , đồng thời thực hiện các mục tiêu mà doanh
nghiệp đề ra.
Tăng khả năng cạnh tranh là một điều tất yếu của mỗi doanh nghiệp hoạt động
trong cơ chế thỉ trường.
1.2.Tính tất yếu phải nâng cao năng lực cạnh tranh.
1.2.1. Nâng cao năng lực cạnh tranh quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của các doanh nghiệp.
Hoạt động trong cơ chế thị trường mọi doanh nghiệp đều phải chịu sự chi
phối của qui luật cạnh tranh nhưng luôn có sự điều tiết, quản lý của nhà nước. Cạnh
tranh với vai trò làm động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển song nó cũng đồng
thời đào thải không thương tiếc những doanh nghiệp yếu thế, không có đủ khả năng
cạnh tranh.
Ngày nay giữa số lượng rất lớn các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dich vụ
đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của người tiêu dùng, khách hàng sẽ có vô số sự lựa
chọn khác nhau về hình thức, mẫu mã và kiểu dáng hay chất lượng sản phẩm. Họ còn
được tiếp cận với nhiều thương hiệu sản phẩm nổi tiếng trong và ngoài nước. Vậy
khách hàng, họ sẽ chọn mua của doanh nghiệp nào? Đó là điều mà các doanh nghiệp
phải suy nghĩ để tìm ra hướng đi cho doanh nghiệp, thu hút khách hàng nhiều hơn so

triển. Do đó nó mang theo ưu thế về kỹ thuật, công nghệ, tài chính cũng kinh nghiệm
quản lý kinh doanh đã thực sự đặt doanh nghiệp của nhà nước đang phát triển và
kém phát triển vào trước một sức cạnh tranh lớn. Và nếu doanh nghiệp của các nươc
sở tại không phát huy được năng lực cạnh tranh cho mình thì sẽ thua ngay trên sân
nhà, chấp nhận làm thuê cho doanh nghiệp các nước phát triển .
Cụ thể, khi Việt Nam gia nhập các tổ chức như APEC, ASEAN, ASEM,

AFTA, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO,thì đã có
sự đan xen, gắn bó, và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia và nền kinh
tế thế giới. Khi gia nhập các tổ chức như đã nói ở trên ta từng bước xoa bỏ từng phần
rào cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hoá kinh tế.
Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có những đổi mới để nâng
cao sức cạnh tranh trên thương trường, khơi thông các dòng chảy nguồ lực trong và
ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và các kinh
nghiệm quản lý.Và khi kí các hiệp định thương mại song phương như hiệp định
thương mại Việt - Mỹ,thì hàng hóa của các nước khi vào Việt Nam sẽ phải chịu một
mức thuế nhập khẩu rất thấp thậm chí đôi khi không phải chịu thuế, nên hàng hóa của
họ đã phong phú đa dạng lại lại còn rẻ. Điều này đã khiến các doanh nghiệp phải
không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm tạo ra các ưu thế về các mặt hàng,
về mặt giá cả, giá trị sử dụng, chất lượng, uy tín của sản phẩm, của doanh nghiệp để
đạt được những ưu thế tươn đối trong cạnh tranh, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ. Mặt
khác, doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư cho hoạt động marketing nhằm nghiên
cứu nhu cầu, tìm ra kẽ hở thị trường và bằng mọi cách xâm nhập , chiếm lĩnh thị
trường mới, tránh tình trạng không đủ năng lực cạnh tranh đã trở nên điêu đứng ,
thua lỗ liên tụcdần dần bị phá sản, giải thể.
Tóm lại nâng cao năng lực cạnh tranh là xu thế tất yếu của các doanh nghiệp
trong quá trình hội nhập kinh tế giữa các quốc gia trên toàn thế giới.
1.3.Những chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
1.3.1. Cạnh tranh bằng sản phẩm.
Chữ tín của sản phẩm quyết định chữ tín của doanh nghiệp và tạo lợi thếcó tính quyết

sau:
- Kinh doanh với chi phí thấp.
- Bán với mức giá hạ và mức giá thấp.

Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Nếu như chênh lệch về giá
giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chêch lệch về giá trị sử dụng sản
phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại lợi ích
cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh Vì lẽ đó sản phẩm của doanh
nghiệp sẽ ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và cũng có nghĩa là sản
phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh ngày càng cao.
Để đạt được mức giá thấp doanh nghiệp cần phải xem xét khả năng hạ giá sản phẩm
của đơn vị mình. Có càng nhiều khả năng hạ giá phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Chi phí về kinh tế thấp.
- Khả năng bán hàng tốt, do đó có khối lượng bán lớn.
- Khả năng về tài chính tốt.
Như trên đã trình bầy, hạ giá là phương pháp cuối cùng mà doanh nghiệp sẽ
thực hiện trong cạnh tranh bởi hạ giá ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần phải lựa chọn thời điểm thích hợp để tiến hành sử
dụng giá cả làm vũ khí cạnh tranh. Như thế doanh nghiệp cần phải kết hợp nhuần
nhuyễn giữa giá cả và các bộ phận về chiết khấu với những phương pháp thanh toán ,
với xu thế, trào lưu của người tiêu dùng. Đồng thời, do đặc điểm ở từng vùng thị
trường khác nhau là khác nhau nên doanh nghiệp cũng cần phải có những chính sách
giá hợp lý ở từng vùng thị trường. Một chính sách giá cả là phải biết kết hợp giữa giá
cả của sản phẩm với chu kỳ sống của sản phẩm đó. Việc kết hợp này sẽ cho phép
doanh nghiệp khai thác được tối đa khả năng tiêu thụ của sản phẩm, cũng như không
bị mắc vào những lỗi lầm trong việc khai thác chu kỳ sống , đặc biệt là với những
sanr phẩm đang đứng trước sự suy thoái.
1.3.3. Cạnh tranh về phân phối và bán hàng.
Cạnh tranh về phân phối và bán hàng được thể hiện qua các nội dung chủ yếu
sau đây:

điều kiện để có công nghệ bán hàng đơn giản, hợp lý. Nắm được phản hồi của khách
hàng nhanh nhất và hợp lý nhất.
- Bảo đảm lợi ích của người bán và người mua. người tiêu dùng tốt nhất và
công bằng nhất. Thường xuyên cung cấp những dịch vụ sau khi bán hàng người sử
dụng, đặc biệt là những sản phẩm có bảo hành hoặc hết thời hạn bảo hành. Hình
thành mạng lưới dịch vụ rộng khắp ở những địa bàn dan cư.

1.3.4. Cạnh tranh về thời cơ thị trường:
Doanh nghiệp nào dự báo được thời cơ thị trường và nắm được thời cơ thị trường
sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Thời cơ thị trường thường xuất hiện so các yếu tố
sau:
- Do sự thay đổi của môi trường công nghệ.
- Do sự thay đổi của yếu tố dân cư, điều kiện tự nhiên.
- Do các quan hệ tạo lập được của từng doanh nghiệp.
Cạnh tranh về thời cơ thị trường thể hiện ở chỗ doanh nghiệp dự báo được những
thay đổi của thị trường. Từ đó có các chính sách khai thác thị trường hợp lý và sớm
hơn các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, cạnh tranh về thời cơ thị trường cũng còn thể
hiện ở chỗ doanh nghiệp tìm ra được những lợi thế kinh doanh sớm và đi vào khai
thác thị trường và một loạt sản phẩm của doanh nghiệp cũng sẽ sớm bị lão hoá. Yêu
cầu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thích ứng với những thay đổi đó.
1.3.5. Cạnh tranh về không gian và thời gian.
Loại cạnh tranh này xuất hiện những vấn đề về chính sách sản phẩm và chính
sách giá cả của sản phẩm. Gía cả của các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường
chênh lệnh là không lớn, chất lượng sản phẩm là tương đối ổn định. Trong trường
hợp như vậy thời cơ và thời gian có vai trò quan trọng và nó quyết định về việc buôn
bán . Những doanh nghiệp nào có quá trình buôn bán thuận tiện nhất, nhanh nhất sẽ

chiến thắng trong cạnh tranh. Để thực hiện được việc bán hàng nhanh nhất và thuận
tiện nhất phải sử dụng một loạt các biện pháp sau:
- Ký kết hợp đồng nhanh và thuận tiện.

Khả năng tài chính khẳng định chính đáng sức mạnh cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường. Khả năng tài chính được hiểu là quy mô tài chính của doanh
nghiệp và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm như hệ số thu hồi vốn,
khả năng thanh toán. Nếu như một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt , khả năng
huy động vốn là lớn sẽ cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới
công nghệ và máy móc thiết bị đồng thời khả năng hợp tác đầu tư vốn liên doanh
liên kết. Tình hính sử dụng vốn cũng sẽ quyết định ci phí về vốn của doanh nghiệp so
với đối thủ cạnh tranh.
1.4.1.4Hoạt động Marketing.
Nên kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi mỗi doanhg nghiệp
không thể không có hoạt động Marketinh. Bộ phận quản lý Marketinh phân tích các
nhu cầu thị hiếu, sở thích của thị trường và hoạch định với các chiến lược hữu hiệu
về sản phẩm, giá cả, giao tiếp và phân phối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp
tạo ra những sản phẩm phù hợp với những thị hiếu của người tiêu dùng với mức giá
linh hoạt trước những biến động của thị trường, tạo ra mạng lưới phân phối với số
lượng, phạm vi và mức độ kiểm soát phù hợp đưa sản phẩm được đến tay người tiêu
dùng nhanh nhất Marketinh kích thích tiêu thụ sản phẩm bằng nhiều hình thức khác
nhau như quảng cáo, khuyến mại, dịch vụ sau khi bán hàng và hướng dẫn sử dụng
cho khách hàng. Như vậy công tác Marketinh luôn ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường.
1.4.1.5.Công nghệ và nguồn lực vật chất.
Tình trạng trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cách
mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan trọng

bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của một doanh nghiệp và tác động trực tiếp đến
chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm cho doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị máy móc hiện đại, công nghệ sản xuất tiên
tiến thì sản phẩm của doanh nghiệp đó nhất định sẽ có chất lượng cao, mẫu mã đặc
sắc,năng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm và ngược lại.
1.4.1.6.Giá cả.

Tác động đến môi trường kinh doanh theo các hướng khác nhau chúng có thể
tạo ra lợi thế, trợ ngại thấm chí rủi ro cho các doanh nghiệp. Một thể chế chính trị ,
pháp luật rõ ràng rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi bình đẳng cho
các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệu quả.
1.4.2.3. Nhân tố khoa học công nghệ.
Có vai trò quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất nên khả năng cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trường trên thị trường đó là chất lượng và giá bán. Ap dụng khoa
học kỹ thuật hiện đại sẽ nâng cao năng suất lao động , giảm chi phí cá biệt của doanh
nghiệp qua đó tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm nói riêng và của doanh
nghiệp nói chung. Hiện nay, các sản phẩm được người tiêu dùng đánh giá cao là
những sản phẩm chứa hàm lượng khoa học công nghệ cao. Đó là những sản phẩm
độc đáo về chất lượng, mẫu mã và mang lại tính tiện dụng cho người tiêu dùng cho
người tiêu dùng với một mức giá phù hợp.
1.4.2.4. Nhân tố văn hóa xã hội.
Mỗi vùng địa phương khác nhau trong nước hay các quốc gía khác nhau thì
đều có những phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng khác nhau. Do đó tạo ra cơ cấu
nhu cầu tiêu dùng trên thị trường khác nhau, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chính
sách sản phẩm và chính sách tiêu thụ phù hợp. Tuy nhiên việc phân đoạn thị trường
và áp dụng các chính sách cạnh tranh khác nhau này đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra
một lượng chi phí lớn vì vậy nó làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

1.4.2.5. Nhân tố tự nhiên.
Nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên đất nước vị trí địa lý là việc phân
bố địa lý của các tổ chức kinh doanh các nhân tố này tạo ra những điều kiện thuận lợi và
khó khăn ban đầu cho quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp. Nếu tài nguyên thiên
nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm được chi
phí mua nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển. Do đó tăng khả năng cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
1.4.3.Các nhân tố thuộc môi trường ngành .
Môi trường ngành là môi trường phức tạp nhất và cũng ảnh hưởng nhiều nhất

1.4.3.2.Sức ép của khách hàng.
Khách hàng cũng tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhưng
khách hàng mua sản phẩm của một ngành nào đó có thể làm giảm lợi nhuận của
ngành đó bằng các yêu cầu chất lượng sản phẩm cao hơn hoặc dịch vụ sau khi bán
hàng nhiều hơn hoặc có thể dùng doanh nghiệp này chống lại doanh nghiệp kia. Trên
thực tế khách hàng thường có quyền lực trong các trường hợp sau:
- Khách hàng được tập trung hóa hoặc mua một khối lượng lớn so với toàn bộ
doanh thu của ngành thì khi đó có quyền nhất định về giá cả.
-Những sản phẩm mà khách hàng mua của doanh nghiệp là những sản phẩm
tiêu chuẩn và không có sự khác biệt nhiều so với sản phẩm cùng loại của các doanh
nghiệp khác.
- Khách hàng có đầy đủ thông tin về nhu cầu, giá cả thị trường giá thành của
nhà cung cấp.
1.4.3.3. Sức ép của nhà cung cấp .
Với vai trò là người cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất kinh
doanh của một doanh nghiệp, các nhà cung cấp có quyền nhất định trong cuộc định
giá nguyên vật liệu đầu vào cho doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp phụ thuộc quá
nhiều vào nhà cung cấp sẽ rất dễ bị họ ép mua với giá cao khi giá cả nguyên vật liệu
trên thị trường có biến động. Vì vậy doanh nghiệp cần quan hệ tốt với nhà cung ứng,
cần chủ động trong quan hệ và luôn sẵn sàng có thể tìm ra người cung cấp thay thế,
đồng thời cần dự trữ nguyên vật liệu phù hợp.
Tuy nhiên trong trường hợp trên thị trường có nhiều nhà cung ứng họ sẽ phải
cạnh tranh với nhau và vì vậy, doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí đầu vào nguyên
vầt liệu , do đó nâng cao được khả năng cạnh tranh do hạ được giá thành sản phẩm.

Hay trong trườn hợp nhà cung ứng ở trong cùng một tổ chức với sản xuất thì tính liên
kết nội bộ được phát huy sẽ tạo cho các nhà sản xuất có điều kiện thực hiện cạnh
tranh bằng giá
1.4.3.4.Các đối thủ cạnh tranh sẽ ra nhập.
Các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường tiếp tục làm tăng tính chất và

độ tổ chức sản xuất, trình độ tổ chức quản lý. Nếu máy móc thiết bị được trang bị
hiện đại, trình độ tay nghề của công nhân cao phù hợp với trình độ máy móc thiết bị
và có trình độ tổ chức, quản lý tốt thì công việc quản lý kinh doanh sẽ suôn sẻ, tạo ra
được nhiều lợi thế so với đối thủ cạnh tranh, khẳng định năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường. Để đạt được điều đó cần phải kết hợp nhuần nhuyễn cả
ba yếu tố trên. Thiếu một trong ba yếu tố: máy mócthiết bị, lao động và tổ chức quản
lý thì khó đạt được một sức cạnh tranh có thế chiến thắng trên thương trường. 1.4.6. Lợi thế về chi phí và khả năng hạ giá thành sản phẩm.
Giá thành là yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định đến lợi nhuận của doanh
nghiệp trong trường hợp cạnh tranh. Nếu chênh lệch giữa giá bán và giá thành cá biệt
của doanh nghiệp càng cao so với đối thủ thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
càng lớn. Đây cũng là vũ khí lợi hại trên thương trường cạnh tranh về giá.
1.4.7 Chất lượng sản phẩm, dịch vụ.
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng tác động trực tiếp đến
người tiêu dùng nên nó quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thương trường. Nó đảm bảo cho doanh nghiệp mở rộng được thị phần thị trường, tiêu
thụ sản phẩm nhiều hơn đảm bảo thu hồi vốn nhanh để sản xuất.
1.4.8 Kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường.

Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh hiện nay các doanh nghiệp phải có
kinh nghiệm, chiến thuật thủ pháp để tận dụng những cơ hội có thể đem lại lợi nhuận
cho doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt được thông tin
trong môi trường kinh doanh từ đó tìm ra những cơ hội kinh doanh hiệu quả cho
doanh nghiệp mình. Có kinh nghiệm trên thương trường mới duy trì và phát huy khả
năng hiện có của doanh nghiệp. Những thông tin này có thể thu thập từ thị trường, từ
người tiêu dùng, hay từ phía các đối thủ cạnh tranh.
1.4.9 Sự linh hoạt.
Yếu tố này biểu hiện sự nhạy bén của lãnh đạo doanh nghiệp. Muốn thành

phần có hiệu quả vào tăng trưởng GDP của cả nước.Trong thời gian vừa qua ngành
thủy sản đã trải qua thời gian tương đối khó khăn, nuôi trồng thủy sản đã phát triển
cả về chiều rộng và chiều sâu trên khắp đất nước. Nuôi trồng thủy sản được xác định
là nguồn chính cung ứng nguyên liệu cho xuất khẩu. Từ năm 2000 trở lại đây thủy
sản đã có những bước phát triển mạnh cả về diên tích, quy mô nuôi đến phương thức
và đối tượng nuôi. Diện tích năm 2002 là 1,7 triệu ha, diện tích các loại mặt nước đã
sử dụng là 995000 ha, chiếm 56,2% diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy
sản tăng 52,8 % so với năm 1998. Bên cạnh đó thì nhiều phương thức nuôi, nhiều đối
tượng nuôi được mở rộng như nuôi bè, nuôi xen canh tôm –lúa…đối tượng nuôi như
tôm sú, tôm hùm, cá basa, cá tra…nhưng chủ yếu là các đối tượng cho xuất khẩu.
Cùng với đó là sự phát triển của các hình thức dịch vụ như dịch vụ cung ứng
giống, cung cấp thức ăn ngày một phổ biến hơn, các loại thuốc bảo vệ cho thủy sản
phát triển tốt, việc tổ chức hướng dẫn cho người nuôi về chăm sóc, kĩ thuật nuôi
trồng cũng được chú trọng.
Ngành thủy sản đang hướng phát triển là hạn chế khai thác ven bờ, mở rộng
khai thác xa bờ nhằm tái tạo và bảo vệ nguồn lợi hải sản ven bờ. Chủ yếu là khai thác
bằng loại tàu thuyền có công suất trên 90 CV. Bên cạnh đó việc bảo quản sau thu
hoạch ngày càng được chú trọng bằng việc trang bị thêm máy móc thiết bị bảo quản
thủy sản…
Để đưa sản phẩm vào thị trường với hiệu quả cao nhất thì công tác chế biến có

thể nói là khâu quan trọng nhất để quyết định chất lượng sản phẩm . Đến năm 2002
cả nước có khoảng 235 nhà máy chế biến đông lạnh với tổng công suất là 3147 tấn
/ngày, năm 2003 có khoảng gần 300 cơ sở, năm 2005 có trên 407 nhà máy, trong đó
khoảng 60% cơ sở chế biến đạt tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu
cầu cao của thị trường lớn như Mỹ, EU…đến 7/2004 Ủy ban Châu Âu EU đã bổ
sung vào danh sách tổng số là có 53 doanh nghiệp, 6 vùng thu hoạch nhuyễn thể 2
mảnh vỏ được phép xuất khẩu vào thị trường này, tính đến 2005 có 155 nhà máy đạt
code xuất khẩu vào EU.
Qua quá trình phát triển thì tổ chức sản xuất kinh doanh trong ngành thủy sản

2.3.1. Những thuận lợi.
Việt Nam có hơn 3260 km bờ biển , 12 cửa sông với hơn 2 triêu km vuông
thềm lục địa, hơn 1 triệu mặt nước. Diện tích mặt nước chiếm tỷ lệ cao trong diện
tích đất tự nhiên đó là lợi thế về tự nhiên một lợi thế mà ta có thể làm nâng cao năng
lực của thủy sản trên thị trường. Từ năm 1990 đến nay ngành ngư nghiệp đã phát
triển mạnh. Hàng năm Việt Nam đánh bắt từ 1,2 triệu đến 1,7 tấn hải sản trong đó
công suất đánh bắt những loại hải sản có giá trị cao trên thị trường như tôm có thể
đạt 50-60 ngàn tấn / năm.Mực các loại từ 30-40 ngàn tấn, chưa kể hơn 100 ngàn tấn
các loại trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế rất cao. Nguồn lợi thủy sản có sự đa
dạng sinh học thủy sản cao nhiều thủy sản đặc sản quý được ưa chuộng tạo khả
năng khai thác để cung ứng nguyên liệu dồi dào cho phát triển công nghiệp chế biến
thủy sản xuất khẩu vào các thị trường quốc tế năng cao năng lực cạnh tranh. Theo
đánh giá mới nhất trong toàn vùng biển Việt Nam, trữ lượng và khả năng khai thác
đối với từng loại thủy sản như sau:
+ Trữ lượng cá biển là 4,2 triệu tấn với khoảng trên 2000 loài cá trong đó sản
lượng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn/ năm, bao gồm 850 nghìn cá đánh, 700
nghìn tấn cá lớn nhỏ, 120 nghìn tấn cá nổi đại dương .+ Có trên 1600 loài giáp xác,

sản lượng cho phép khai thác 50-60 nghìn tấn / năm, trong đó có giá trị cao là tôm
biển, tôm hùm, cua ghe,
+ Có khoảng 2500 loại động vật thân mền, trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất
là mực và bach tuộc.
Bên cạnh nguồn thủy sản biển Việt Nam cũng có nguồn lợi thủy sản tự nhiên,
nội điạ khá phong phú, cá nước ngọt có 544 loài trong 18 bộ, 57 họ, 228 giống với
thành phần giống loài phong phú và sự đa dạng sinh học cao. Trong 544 loài có nhiều
loài có giá trị kinh tế cao. Cá nước lợ mặn có 186 loài chủ yếu. Một số loài có giá trị
kinh tế như: cá song, cá hồng, cá tráp, cá vược, cá bống, cá đồi, Tôm có 16 loài chủ
yếu có giá trị kinh tế như tôm sú ,tôm rảo, tôm hùm, tôm càng xanh, Nhuyễn thể có
một số loài chủ yếu như: Trai, nghêu, so, ốc,
Lợi thế của thủy sản Việt Nam còn là nguồn lao động trong ngành thủy sản

tranh với một số nước châu Á., Mỹ la tinh cùng có mặt trên thị trường Mỹ cụ thể như
10 tháng đẩu năm 2006, cá da trơn nhập vào Mỹ là 21 147 tấn, kim 75,8 triệu USD,
tăng 139,6 % về lượng và 202% về giá trị so với cùng kỳ năm 2005. Việt Nam cung
cấp lớn nhất cho thị trường Mỹ là 58,1 % tương đương với 14000 tấn, kim 40,1
triệu USD. Xuất khẩu cá tra đến thị trườngMỹ : Việt Nam là 67,3% tương đương với
14035 tấn, điều đó chứng tỏ năng lực cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường
Mỹ là rất cao.
* Cá đông lạnh: Gồm các loại như : Mú chim, hồng, , thu, cá ngừ, cá bống
tượng. Họ cá thu, cá ngừ có sản lượng và giá trị xuất khẩu cao trong loại cá biển và
có khả năng cạnh tranh cao.
Nhuyến thể: Sự tăng trưởng của xuất khẩu nhuyễn thể chân đầu ngày càng thể
hiện rõ nét sự có mặt hàng này trên thị trường Mỹ làm phong phú đa dạng các mặt
hàng thủy sản.
2.3.3. Hình thức cạnh tranh của thủy sản trên thị trường Mỹ.

Trích đoạn Giải pháp về đầu tư khai thác thị trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status