Phần mở đầu
Bớc sang giai đoạn mới - giai đoạn hội nhập và phát triển, nền kinh tế đất n-
ớc ta đã và đang có sự chuyển đổi lớn - mang diện mạo của một cơ chế mở, tự do
cạnh tranh. Nền kinh tế thị trờng đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động trong
quá trình sản xuất kinh doanh của mình, nâng cao năng lực cạnh tranh ở phạm vi
ngành, phạm vi quốc gia và trên trờng quốc tế. Cạnh tranh là xu thế tất yếu của
nền kinh tế hội nhập, là cơ chế tự đào thải và là động lực cho sự phát triển của lĩnh
vực kinh tế nói riêng. Hơn bao giờ hết, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành đ-
ợc quan tâm và chú trọng từ nhà nớc cũng nh các doanh nghiệp ngành dệt may
Việt Nam gia nhập thị trờng Mỹ là một trong những ngành nh vậy giàu tiềm năng,
và rất có u thế của đất nớc ta. Tuy nhiên so với nhiều quốc gia trong khu vực, năng
lực cạnh tranh của ngành còn cha cao, cần có giải pháp phát triển, cải thiện theo
phơng hớng hiệu quả nhất, đó cũng là lý do tôi chọn đề tài:
" Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam vào thị trờng
Mỹ". Kết cấu của đề tài gồm 3 phần:
- Phần lý luận
I. Khái niệm cạnh tranh
II. Những nhân tố ảnh hởng đến cạnh tranh ngành
- Phần nội dung
I. Thực trạng ngành dệt may Việt Nam - những thuận lợi và khó khăn
khi sản xuất vào thị trờng Mỹ.
II. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may vào thị tr-
ờng Mỹ.
- Phần kết luận.
1
Phần lý luận
I. Khái niệm cạnh tranh
Khi nói đến cạnh tranh, có rất nhiều quan niệm khác nhau và theo xu thế
phát triển, quan niệm đó cũng đợc nhìn nhận từ nhiều góc độ, mới mẻ hơn rất
nhiều.
1. Nhìn nhận cạnh tranh theo quan điểm kinh tế học
2. Nhìn nhận cạnh tranh dựa trên mô hình năm lực lợng của Michael
Porter.
Theo phơng pháp" năm lực lợng", cấu trúc cạnh tranh trong một ngành có
thể đợc mô tả bằng "năm lực lợng chính".
2.1. Khách hàng
Đối với mỗi một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì sự tín
nhiệm của khách hàng có thể đợc coi là một trong những tài sản vô giá của doanh
nghiệp. Sự tín nhiệm đó có đợc là do doanh nghiệp đã cung cấp những sản phẩm
dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Khi khách hàng có u thế có
thể làm giảm lợi nhuận của ngành bằng cách ép giá, bằng cách đòi hỏi chất lợng
sản phẩm cao hơn hoặc bằng cách đòi hỏi có nhiều dịch vụ đi kèm hơn khi tiêu thụ
sản phẩm. Khách hàng sẽ có u thế. Đối với doanh nghiệp khi mà khách hàng mua
một lợng hàng lớn của doanh nghiệp, khi mà việc chuyển sang ngời bán khác
không có gì khó khăn cả, khi có sự thay đổi chất lợng sản phẩm của doanh nghiệp
không có ảnh hởng gì tới khách hàng. Trong trờng hợp nhà cung cấp giữ vị trí độc
quyền thì khách hàng lệ thuộc hoàn toàn vào nhà cung cấp. Chính vì vậy trong nền
kinh tế thị trờng, chúng ta cần có luật chống độc quyền.
2.2. Các đối thủ cạnh tranh theo ngành
Mức độ căng thẳng của sự cạnh tranh giữa các đối thủ không phải là một
biến số dễ dàng đo đợc. Trong một số ngành cạnh tranh có thể gọi là " bóp nghẹt",
trong khi đó ở một số ngành khác mối quan hệ giữa các doanh nghiệp lại đợc coi
3
là "lịch sử" hay " có trật tự", các yếu tố xác định mức độ cạnh tranh giành: Tăng
trởng của ngành, chi phí cố định hoặc chi phí lu kho, sự vợt công suất không liên
tục, những khác biệt về sản phẩm, sự xác định của nhãn hàng và chi phí chuyển
của khách hàng, số các doanh nghiệp và quy mô tơng đối của chúng, sự đa dạng
của các đối thủ cạnh tranh, lợi ích của Công ty, hàng rào rút khơi cao. Trong thực
tế các nhà đầu t đặc biệt không thích các cuộc chiến cạnh tranh thông qua giá cả vì
nó sẽ làm giảm lợi nhuận cho cả ngành.
2.3. Các nhà cung cấp
ờng quan trọng tạo ra giới hạn đối với các mức giá mà các doanh nghiệp đã đặt ra.
Tầm quan trọng của mối đe doạ này phụ thuộc vào 3 yếu tố: Giá và công dụng của
các sản phẩm thay thế, chi phí chuyển đổi với khách hàng, khuynh hớng thay thế
của ngời mua, khả năng sản phẩm thay thế tăng lên cùng sự già cõi, sự lạc hậu của
sản phẩm trong khu vực (khu vực đang trong giai đoạn suy thoái) bên cạnh đó do
tiến bộ của khoa học công nghệ, suất hiện sản phẩm mới đáp ứng tốt hơn nhu cầu
và thị hiếu của khách hàng.
3. Thực tế cạnh tranh và tính hai mặt của cạnh tranh
3.1. Thực tế cạnh tranh
Môi trờng thờng xuyên biến động của thực tiễn hoạt động sản xuất kinh
doanh đã cho thấy không có một môi trờng nào ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo
hoặc hoàn toàn độc quyền, nó chỉ có ý nghĩa tơng đối vì năng lực thực tế, điều
kiện chủ quan và kể cả " cơ may" của các doanh nghiệp không thể đồng nhất. Mọi
nền kinh tế thị trờng đều có trạng thái cạnh tranh không hoàn hảo, ở đâu đó giữa
hai cực này. Cả hai loại lực lợng độc quyền và cạnh tranh kết hợp với nhau trong
việc xác định phần lớn giá cả.Vì thế càng khẳng định rõ hơn: Xác định một nền
kinh tế là có tính cạnh tranh hay độc quyền trở nên có ý nghĩa tơng đối. Tuy
nhiên cũng không phải là vì tính tơng đối và sự phức tạp của vấn đề mà không thể
phân biệt rạch ròi giữa tình trạng độc quyền và tính cạnh tranh về nguyên tắc, ngời
ta có thể coi một nền kinh tế có nhiều yếu tố cản trở sự cạnh tranh là một nền kinh
tế thiếu tính cạnh tranh và ngợc lại.
Cạnh tranh là hiện tợng gắn liền với kinh tế thị trờng, do đó cạnh tranh chỉ
xuất hiện dới những tiền đề kinh tế và pháp lý cụ thể. Ngày nay, nền kinh tế thị tr-
5
ờng đợc khẳng định là một sự phát triển tất yếu là động lực phát triển nội tại của
nền kinh tế thị trờng. Cạnh tranh cũng chỉ thực sự diễn ra khi pháp luật thừa nhận
và bảo hộ tính đa dạng của các loại hình sở hữu, khi tự do thơng mại và theo đó là
tự do kinh doanh. Cạnh tranh cũng chỉ diễn ra khi không có bất kỳ một quy định
hay hành vi nào ngăn cản sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng - những
doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập thị trờng.
hạ. Vì vậy, cạnh tranh là cơ hội bắt buộc các doanh nghiệp phải áp dụng công
nghệ mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật, cạnh tranh là nguồn gốc động lực để phát
triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao. Các doanh nghiệp phải thờng xuyên cải
tiến công cụ lao động, hợp lý hoá sản xuất, nhanh chóng ứng dụng những thành
tựu khoa học kỹ thuật vào quản lý hiện đại vào trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Mặt khác vì cạnh tranh luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút về mình ngày
càng nhiều khách hàng nền nó buộc các doanh nghiệp phải sản xuất sản phẩm chất
lợng giá thành hạ. Trong kinh doanh để cạnh tranh về giá, một số doanh nghiệp
chấp nhận lời ít, bán giá thấp nhng dùng số nhiều để thu lại. Phơng thức phục vụ
và thanh toán trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tính độc đáo của sản
phẩm giữ lòng tin với khách hàng giúp cho quá trình buôn bán diễn ra nhanh
chóng, tiện lợi. Trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhà nớc với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh thì doanh nghiệp ngoài quốc doanh thờng linh hoạt hơn
so với doanh nghiệp nhà nớc.
* Trong điều kiện của cơ chế thị trờng khi mức độ cạnh tranh đã trở nên gay
gắt thì các doanh nghiệp vì sự tồn tại của mình luôn phải toán tính để vợt lên trên
các đối thủ của mình vì cạnh tranh là một quy luật trong nền kinh tế thị trờng mà
ở đó các chủ thể kinh tế tìm mọi biện pháp - cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục
tiêu kinh tế của mình. Với nghĩa đó, cạnh tranh bao hàm cả những thủ đoạn trong
hoạt động kinh doanh nh dùng tài chính để thao túng đối với doanh nghiệp có
tiềm năng tài chính lớn: bằng cách bán phá giá loại đối phơng ra khỏi cuộc chơi.
Mặt khác dù doanh nghiệp còn dùng thủ đoạn: sử dụng sự liên kết để thao túng thị
trờng, khống chế thị trờng, thu lợi nhuận độc quyền cao nh liên kết về giá nhằm
bóp chẹt ngời tiêu dùng, liên kết về vùng tiêu thụ, cùng nhau phân chia thị trờng,
7
cùng nhau giảm chất lợng hàng hoá, không cung cấp hàng hoá cho một số tổ chức
thơng mại nào đó nhằm gây áp lực về giá bán. Ngoài ra hiện tợng mắc ngoặc với
quan chức nhà nớc để lũng đoạn thị trờng, tìm kiếm những cơ hội đầu t tạo những
điều kiện "đặc biệt" thuận lợi trong sản xuất kinh doanh thông qua mua chuộc,
hối lộ các quan chức nhà nớc, lợi dụng kẽ hở luật pháp đã đợc nhiều doanh nghiệp
kinh tế là nhân tố tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của từng doanh
nghiệp. Các chính sách đầu t, chính sách phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu... sẽ
tạo ra sự u tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành, tác động trực tiếp đến
kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thuộc ngành kinh tế nhất định.
Trình độ kỹ thuật công nghệ, nhân tố văn hoá xã hội, nhân tố tự nhiên ảnh hởng
rất lớn, đòi hỏi phải nghiên cứu, ứng dụng phù hợp nhất.
3. Tác động của môi trờng bên trong doanh nghiệp
* Thứ nhất phải đề cập đến chất lợng của hoạt động Marketing nhằm xác
định cầu của khách hàng, thị hiếu của khách hàng để trên cơ sở đó hoạch định các
chính sách về sản phẩm, giá cả, các chính sách phân phối cũng nh các chính sách
kích thích tiêu thụ. Chất lợng hoạt động Marketing của doanh nghiệp càng cao,
phạm vi càng rộng thì càng góp phần giúp cho doanh nghiệp có lợi thế hơn trong
cạnh tranh.
* Thứ hai đó là khả năng sản xuất nghiên cứu và phát triển khả năng này
thể hiện ở việc doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm chất lợng cao hơn, giá
thành thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Khả năng nghiên cứu và phát triển
của doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, nó có thể giúp cho doanh nghiệp vẫn
giữ đợc vị trí hàng đầu trong khu vực cạnh tranh hoặc có thể làm cho doanh
nghiệp tụt hậu trong khu vực.
* Thứ ba đó là nguồn nhân lực: là năng lực trình độ cán bộ quản lý, trình độ
tay nghề đạo đức của ngời lao động, giá trị của các mối quan hệ lao động trong
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
* Thứ t là tình hình tài chính: điều kiện tài chính thờng đợc xem là phơng
pháp đánh giá vị trí cạnh tranh tốt nhất của doanh nghiệp so với các đối thủ và
9
điều kiện tài chính của doanh nghiệp thờng đợc đánh giá thông qua các chỉ tiêu
nh khả năng thanh toán của doanh nghiệp, cán nợ, vốn luân chuyển, lợng tiền mặt,
tỷ suất lợi nhuận...
* Thứ năm là cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp : quản trị doanh nghiệp tác
động mạnh mẽ đến hoạt động lao động sáng tạo của đội ngũ lao động, đến sự đảm