Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ - Pdf 10

LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đưa
tới một sự đột biến trong tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia và đưa xã hội
loài người bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của nền văn minh trí
tuệ. Trong bối cảnh ấy xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá là đòi hỏi tất
yếu đối với tất cả mọi quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không thể là
một ngoại lệ. Hoà vào xu hướng hội nhập ấy, để có thể tiến nhanh, tiến kịp
thời đại thì Việt Nam cần phải phát huy những lợi thế vốn có của mình. Là
một quốc gia có dân số khoảng trên 80 triệu, thu nhập bình quân đầu người
thấp thì lợi thế lớn nhất đối với Việt Nam là có một lực lượng lao động dồi
dào với giá nhân công rẻ. Bởi vậy, phát triển công nghiệp dệt may trong giai
đoạn đầu của qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước có vai trò đặc
biệt quan trọng đối với Việt Nam. Ngoài việc sản xuất hàng tiêu dùng thiết
yếu cho nhân dân, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động trong
xã hội, xuất khẩu hàng dệt may còn góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu
của quốc gia. Hàng dệt may hiện đang đứng thứ hai trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam, sau dầu thô. Trong năm 2003, hàng dệt may xuất
khẩu tăng 30,8%, kim ngạch tăng khoảng 850 triệu USD đưa hàng dệt may
trở thành một trong số những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn nhất của Việt
Nam. Trước mắt việc xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ còn gặp
nhiều khó khăn như chất lượng hàng hoá chưa ổn định cộng với việc chưa
am hiểu luật pháp kinh doanh cũng như phong tục, tập quán của thị trường
Mỹ của các doanh nghiệp Việt Nam nhưng trở ngại lớn nhất vẫn là việc
hàng dệt may của Việt Nam chưa được hưởng quy chế tối huệ quốc của Mỹ.
Nhưng dù sao hiệp định thương mại Việt-Mỹ được ký kết vào tháng 7/2000
là một cơ hội mới, to lớn cho ngành dệt may nước ta vì đây là một thị trường
nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới. Do vậy, việc đẩy mạnh xuất khẩu
hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ được xem là một trong những
ưu tiên hàng đầu để phát triển sản xuất, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, tạo
công ăn việc làm cho người dân và ổn định xã hội.

Chương III: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị
trường Mỹ.
Chương IV: Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
vào thị trường Mỹ.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Do còn có những hạn chế trong việc cập nhật thông tin cùng với những
hạn chế kiến thức của bản thân, nên trong đề tài không thể tránh khỏi những
thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
và các bạn để đề tài này được hoàn thiện.
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Th.S Nguyễn Anh
Tuấn cùng các thầy cô ở khoa Thương Mại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc
Dân đã giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài đúng thời hạn.

Nhóm thực hiện

Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA
VIỆT NAM
I. Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng hoá .
I.Khái niệm chung về xuất khẩu hàng hoá
1.Khái niệm hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu là một bộ phận cấu thành quan trọng cuả hoạt động ngoại
thương, trong đó hàng hoá dịch vụ được bán cho nước ngoài nhằm thu ngoại
tệ.
Nếu xem xét dưới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất
khẩu là hình thức cơ bản đầu tiên của doanh nghiệp khi bước vào kinh doanh
quốc tế. Mỗi công ty luôn hướng tới xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ
của mình ra nước ngoài. Xuất khẩu còn tồn tại ngay cả khi công ty đã tiến
hành các hình thức cao hơn trong kinh doanh quốc tế. Các lý do để một công

sản xuất đó, họ phải nhập khẩu từ nước ngoài và để bù đắp nguồn vốn bị
thiếu hụt họ sẽ lấy từ xuất khẩu.
Ở các nước kém phát triển vật ngăn cản chính đối với nền kinh tế là
thiếu tiềm lực về vốn trong quá trình phát triển. Nguồn vốn huy động từ
nước ngoài được coi là cở chính nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ
nước ngoài thấy được khả năng xuất khẩu của đất nước đó, vì đây là nguồn
chính để đảm bảo nước này có thể trả nợ.
c Đẩy mạnh xuất khẩu được xem như một yếu tố quan trọng kích thích
sự tăng trưởng kinh tế
Việc đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, nhiều
ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu, gây phản ứng dây chuyền
giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển theo, dẫn đến kết quả tăng tổng
sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh.
s Xuất khẩu có ích lợi kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghiệp
sản xuất
Để có thể đáp ứng được nhu cầu cao của thế giới về qui cách phẩm chất
sản phẩm thì một sản phẩm sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công nghệ,
mặt khác người lao động phải năng cao tay nghề, học hỏi những kinh
nghiệm sản xuất tiên tiến.
* Đẩy mạnh xuất khẩu có ích lợi đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành
theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối
của đất nước
Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ,cung cấp đầu vào
cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước.
Xuất khẩu tạo những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao
năng lực sản xuất trong nước. Điều này có ý nghĩa là xuất khẩu là phưong
tiện quan trọng tạo vốn, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài
vào trong nước nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nước, tạo ra năng lực
sản xuất mới.
Thông qua xuất khẩu, hàng hoá trong nước sẽ tham gia vào cuộc cạnh

Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở
rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ sở
hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời phân tán và chia
sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín
kinh doanh của doanh nghiệp.
Xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh doanh của
doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đâu tư, nghiên cứu và phát triển các
hoạt động sản xuất, marketing…,cũng như sự phân phối và mở rộng trong
việc cấp giấy phép.
3.Nhiệm vụ của xuất khẩu
Xuất phát từ mục tiêu chung của xuất khẩu là xuất khẩu để nhập khẩu
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Nhu cầu của nền kinh tế đa dạng:phục vụ
cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, cho tiêu dùng, cho xuất khẩu và tạo
thêm công ăn viềc làm. Xuất khẩu là để nhập khẩu. Phải xuất phát từ nhu
cầu thị trường để xác định phương hướng, tổ chức hàng nhập khẩu thích
hợp. Để thực hiện tốt mục tiêu trên, hoạt động xuất khẩu cần hướng vào thực
hiện các nhiệm vụ sau:
Phải ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước (đất đai,
tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất). Nâng cao nâng lực sản xuất hàng hoá
xuất khẩu tăng nhanh khối lượng và kim ngạch xuất khẩu.
Tạo hiệu quả những mặt hàng(nhóm hàng) xuất khẩu chủ lực đáp ứng
những đòi hỏi của thị trường thế giới và của khu vực về chất lượng, số
lượng, có sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao.
Năng lực cạnh tranh của những sản phẩm "made in Việt Nam" chia làm
ba nhóm:
- Nhóm có khả năng cạnh tranh và cạnh tranh coa hiệu quả.
- Nhóm có khả năng có điều kiện.
- Nhóm có khả năng thấp.
4. Nội dung của hoạt động xuất khẩu
4.1.Nghiên cứu thị trường

Đây là một khâu quan trọng trong kinh doanh xuất khẩu, vì nó quyết
định đến tính khả thi hay không khả thi của kế hoạch kinh doanh của doanh
nghiệp. Kết quả của đàm phán sẽ là hợp đồng được ký kết. Đàm phán có thể
thông qua thư tín, điện tín và trực tiếp. Tiếp theo công việc đàm phán, các
bên tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, trong đó qui định ngươi bán có
nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua, con người mua có
nghĩa vụ trả cho người bán một khoản tiền ngang giá trị theo các phương
tiện thanh toán quốc tế.
4.3.Thực hiện hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán
Sau khi đã ký kết hợp đồng hai bên thực hiện những gì mình đã cam kết
trong hợp đồng. Với tư cách là nhà xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ thực hiện
những công việc sau :
*Giục mở L/C và kiểm tra L/C đó :
Trong hoạt động buôn bán quốc tế hiện nay, việc sứ dụng L/C đã trở
thành phổ biến hơn cả, do lợi ich của nó mang lại. Sau khi người nhập khẩu
mở L/C, người xuất khẩu phải kiểm tra cẩn thận, chi tiết các điều kiện trong
L/C xme có phù hợp với những điều kiện của hợp đồng hay không. Nếu
không phù hợp hoặc có sai sót thì cần phải thông báo cho người nhập khẩu
biết để sửa chữa kịp thời còn nếu khong thấy có sai sót thì thông báo cho
bên nhậo khẩu biết và tiến hành chuyển bị giao hàng hoá.
*Xin giấy phép xuất khẩu
Trong một số trường hợp, mặy hàng xuất khẩu thuộc danh mục Nhà
nước quản lý, doanh nghiệp cần phải tiến hành xin giấy phép xuất khẩu do
phòng cấp giấy phép xuất khẩu của Bộ Thương Mại quản lý
*Chuẩn bị hàng xuất khẩu
Đối với những doanh nghiệp sau khi thu mua nguyên phụ liệu sản xuất
ra sản phẩm, cần phải lựa chọn, kiểm tra, đóng gói bao bì hàng hoá xuất
khẩu, kẻ ký mã hiệu sao cho phù hợp với hợp đồng đã ký và luật pháp của
nước nhập khẩu
*Kiểm định hàng hoá

Trong bước này doanh nghiệp cần tiến hành các công việc sau:
- Lập bản đăng ký hàng chuyên chở.
- Xuất trình bản đăng ký cho người vận tải để lấy hồ sơ xếp hàng.
- Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng
- Bố trí phương tiện vận tải đưa hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu
- Lấy biên lai thuyền phó, sau đó đổi biên lai, sau đó biên lai thuyền phó
lấy vận đơn đường biển hoàn hảo và chuyển nhượng được, sau đó lập bộ
chứng từ thanh toán
*Thanh toán
Thanh toán là bước cuối cùng của việc thực hiện hợp đồng nếu không có
sự tranh chấp khiêú nại. Trong buôn bán quốc tế, có rất nhiều phương thức
thanh toán khác nhau:
- Phương thức chuyển tiền
- Phương thức thanh toán mở tài khoản
- Phương thức thanh toán nhờ thu
- Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Đối với nhà xuất khẩu về phương tiện thanh toán cần phải xem xét
những vấn đề sau:
- Người bán muốn bảo đảm rằng, người mua có các phương tiện tài chính
để trả tiền mua hàng theo đúng hợp đồng đã ký
- Người bán muốn việc thanh toán được thực hiện đúng hạn
Trên bình diện quốc tế, hai phương tiện thanh toán là nhờ thu (D/P và
D/A) và thư tín dụng ( chủ yếu là L/C không huỷ ngang) được áp dụng phổ
biến hơn cả.
Đến đây nếu không có sựe tranh chấp và khiếu nại, một thương vụ xuất
khẩu coi như đã kết thúc và doanh nghiệp lại tiến hành một thương vụ mới
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua bán hàng hoá
quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng cho phép các nhà kinh
doanh thấy được những gì họ sẽ phải đối mặt và đứng trước tinh thế đó thì

phẩm ở nước xuất khẩu rẻ hơn so với nước nhập khẩu. Còn đối với nước
nhập khẩu thì cầu về hàng nhập khẩu sẽ tăng lên do phải mất chi phí lớn hơn
để sản xuất hàng hoá ở trong nước. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho
các nước xuất khẩu tăng nhanh được các mặt hàng xuất khẩu của mình, do
đó có thể tăng được lượng dự trữ ngoại hối .
Tương tự, tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu cũng như: “Một chiếc gậy vô
hình ” đã làm thay đổi, chuyển hướng giữa các mặt hàng, các phương án
kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu.
5.1.2.Mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế
Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì chính phủ có
thể đưa ra các chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu. Chẳng
hạn chiến lược phát triển kinh tế theo hướng CNH- HĐH đòi hỏi xuất khẩu
để thu ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu cac trang thiết bị máy móc phục
vụ sản xuất, mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước đưa ra các chính sách
khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng…
5.1.3.Thuế quan, hạn nghạch và trợ cấp xuất khẩu
*Thuế quan
Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị
hàng xuất khẩu. Việc đánh thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằm
quản lý xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước
và mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại. Tuy nhiên, thuế quan cũng gây ra
một khoản chi phí xã hội do sản xuất trong nước tăng lên không có hiệu quả
và mức tiêu dùng trong nước lại giảm xuống. Nhìn chung công cụ này
thường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng nhằm hạn chế số lượng xuất
khẩu và bổ sung cho nguồn thu ngân sách.
*Hạn ngạch
Được coi là một công cụ chủ yếu cho hàng rào phi thuế quan, nó được
hiểu như qui định của Nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hay
của một nhóm hàng được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất định
thông qua việc cấp giấy phép. Sở dĩ có công cụ này vì không phải lúc nào

chính phủ tham gia vào các tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới
cũng như các thông lệ quốc tế:
- Các qui định của luật pháp đối với hoạt động xuất khẩu(thuế, thủ tục
qui định về mặt hàng xuất khẩu,qui định quản lý về ngoại tệ..)
- Các hiệp ước, hiệp định thương mại mà quốc gia có doanh nghiệp
xuất khẩu tham gia
- Các qui địmh nhập khẩu của các quốc gia mà doanh nghiệp có quan
hệ làm ăn.
- Các vấn đề về pháp lý và tập quán quốc tế có liên quan đến việc xuất
khẩu(công ước viên 1980, Incoterm 2000…)
- Qui định về giao dịch hợp đồng, về bảo hộ quyền tác giả, quyền sở
hữu trí tuệ
- Qui định về lao động, tiền lương, thời gian lao động, nghỉ ngơi, đình
công, bãi công
- Qui định về cạnh tranh độc quyền, về các loại thuế.
- Qui định về vấn đề bảo về môi trường, tiêu chuẩn chất lượng, giao
hàng, thực hiện hợp đồng.
- Qui định về quảng cáo hướng dẫn sử dụng.
Ngoài những vấn đề nói trên chính phủ còn thực hiện các chính sách
ngoại thương khác như :Hàng rào phi thuế quan, ưu đãi thuế quan....
Chính sách ngoại thương của chính phủ trong mỗi thời kỳ có sự thay
đổi. Sự thay đổi đó là một trong những rủi ro lớn đối với nhà làm kinh doanh
xuất khẩu. Vì vậy họ phải nắm bắt được chiến lược phát triển kinh tế của đất
nước để biết được xu hướng vận động của nền kinh tế và sự can thiệp của
Nhà nước.
5.4. Các yếu tố về tự nhiên và công nghệ
- Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải, tới
thới gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy, nó ảnh
hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường, mặt hàng xuất
khẩu…

nước. Lĩnh vực xuất khẩu hơn bất cứ một hoạt động nào khác bị chi phối
mạnh mẽ nhất, ở đây cũng do một phần tác động của các mối quan hệ kinh
tế quốc tế. Khi xuất khẩu hàng hoá từ nước này sang nước khác, người xuất
khẩu phải đỗi mặt với các hàng rào thuế quan, phi thuế quan. Mức độ lỏng
lẻo hay chặt chẽ của các hàng rào này phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ kinh tế
song phương giữa hai nước nhập khẩu và xuất khẩu.
Ngày nay, đã và đang hình thành rất nhiều liên minh kinh tế ở các mức
độ khác nhau, nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương được ký
kết với mục tiêu đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế. Nếu quốc gia nào
tham gia vào các liên minh kinh tế này hoặc ký kết các hiệp định thương mại
thì sẽ có nhiều thuận lợi trong hoạt động xuất khẩu của mình. Ngược lại, đó
chính là rào cản trong việc thâm nhập vào thị trường khu vực đó.
5.7.Nhu cầu của thị trường nước ngoài
Do khả năng sản xuất của nước nhập khẩu không đủ để đáp ứng được
nhu cầu tiêu dung trong nước, hoặc do các mặt hàng trong nước sản xuất
không đa dạng nên không thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng, nên
cũng là một trong những nhân tố để thúc đẩy xuất khẩu của các nước có khả
năng đáp ứng được nhu cầu trong nước và cả nhu cầu của nước ngoài.
5.8. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp .
5.8.1.Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông
qua khối lượng ( nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh
doanh, khả năng phân phối ( đầu tư ) có hiệu quả các nguồn vốn. Khả năng
quản lý có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh cuả doanh nghiệp thể
hiện qua các chỉ tiêu:
- Vốn chủ sở hữu
- Vốn huy động
- Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận
- Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn
- Các tỷ lệ về khả năng sinh lợi

tập trung vào những mối liên hệ tương tác của tất cả các bộ phận tạo thành
tổng thể tạo nên sức mạnh thực sự cho doanh nghiệp.
5.8.6.Trình độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ, bí quyết công nghệ của
doanh nghiệp
Ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí, gía thành và chất lượng
hàng hoá được đưa ra đáp ứng khách hàng trong và ngoài nước.
5.8.7. Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định doanh nghiệp có
thể huy động vào kinh doanh: thiết bị , nhà xưởng…Nếu doanh nghiệp có cơ
sở vật chất kỹ thuật càng đầy đủ và hiện đại thì khả năng nắm bắt thông tin
cũng như việc thực hiện các hoạt động kinh doanh xuất khẩu càng thuận tiện
và có hiệu quả.
5.9. Yếu tố cạnh tranh
Cạnh tranh, một mặt thúc đẩy cho doanh nghiệp đầu tư máy móc thiết
bị, nâng cấp chất lượng và hạ giá thành sản phẩm…Nhưng một mặt nó dễ
dàng đẩy lùi các doanh nghiệp không có khả năng phản ứng hoặc chậm phản
ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Các yếu tố cạnh tranh được
thể hiện qua mô hình sau:

Mô hình: Sức mạnh của Michael Porter

Đối thủ mới tiềm
năng
Nhà cung
cấp
Các mặt hàng và các
dịch vụ thay thế
Người
mua
Cạnh tranh giữa các

doanh nghiệp . Vì thế hoạt động xuất khẩu có nguy cơ gián đoạn.
- Sức ép người tiêu dùng : Trong cơ chế thị trường, khách hàng được
coi là "thượng đế". Khách hàng có khả năng làm thu hẹp hay mở rộng qui
mô chất lượng sản phẩm mà không được nâng giá bán sản phẩm. Một khi
nhu cầu của khách hàng thay đổi thì hoạt động sản xuất kinh doanh nói
chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng cũng phải thay đổi theo sao cho phù
hợp.
-Các yếu tố cạnh tranh trong nội bộ ngành: khi hoạt động trên thị trường
quốc tế, các doanh nghiệp thường hiếm khi có cơ hội dành được vị trí
độc tôn trên thị trường mà thường bị chính các doanh nghiệp sản xuất
và cung cấp các loại sản phẩm tương tự cạnh tranh gay gắt. Các doanh
nghiệp này có thể là doanh nghiệp của quốc gia nước sở tại, quốc gia chủ
nhà hoặc một nước thứ ba cùng tham gia xuất khẩu mặt hàng đó. Trong
một số trường hợp các doanh nghiệp sở tại này lại được chính phủ bảo
hộ do đó doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh được với họ.
II. Khái quát chung về xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.
1.Vị trí của ngành Dệt-May Việt Nam trong chiến lược tăng trưởng hướng
về xuất khẩu
Nghị quyết của Đảng đã chỉ ra hướng phát triển của Việt Nam đó là tăng
trưởng hướng về xuất khẩu. Thực tế cho thấy con đường phát triển nhanh,
bền vững không phải qua việc chuyên môn hoá ngày càng sâu để sản xuất
những sản phẩm sơ chế, mà là thông qua việc mở rộng các ngành sản xuất,
chế tạo hướng về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong
nước sản xuất hiệu quả hơn để khai thác tốt lợi thế so sánh về nguồn nhân
lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn kỹ thuật, công nghệ, thị trường cho sự phát
triển.
Cơ sở lý luận của chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu bắt nguồn từ
nguyên lý tổng cầu là yếu tố quyết định mức sản xuất. Tư tưởng cơ bản của
chiến lược tăng trưởng hướng về xuất khẩu là nhằm phát huy lợi thế so sánh
và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế , mở rộng phân công lao động quốc

khác vươn lên chiếm thứ hạng cao trong danh sách các mặt hàng chủ lực.
Trong những năm qua, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
châu á , suy thoái kinh tế kéo dài ở Nhật và sự kiện ngày 11/9 đã làm cho tốc
độ tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chậm lại song tốc độ tăng trưởng
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vẫn không ngừng tăng lên. Từ một ngành
không có tên tuổi trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam trong những năm đầu thập niên 90, thậm chí có dấu hiệu suy sụp vào
những năm 1992, đến năm 1995 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may mà chủ
yếu là may sẵn đã đứng thứ hai trong danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam và dự kiến năm 2004 sẽ tăng 4250 triệu USD tức là so với
năm 2003 tăng 18,1% . Điều đó chứng tỏ sự lớn mạnh vượt bậc của ngành
công nghiệp Dệt-May Việt Nam, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong
việc mạnh dạn xây dựng ngành dệt may thành một ngành xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam.
2. Cơ cấu các mặt hàng trong xuất khẩu.
Tuy hiện nay sản phẩm dệt , may đã đa dạng và phong phú song hầu hết
các sản phẩm hướng vào các thị trường mới chỉ là những sản phẩm đơn giản
như khăn bông, găng tay...Sợi bông cao cấp, có chải kỹ cho mặt hàng sơ mi
và cho sản phẩm dệt kim mặt ngoài có xử lý hoàn tất cao cấp chưa nhiều sợi
OE nhằm giảm giá nguyên liệu đầu vào phục vụ hàng dệt kim. Hàng khăn
bông xuất khẩu có thị trường rất lớn thì tỷ trọng còn quá bé. Các mặt hàng
quần áo dệt kim thể thao hoặc vải Jean thun từ nguyên liệu đàn tính cao (sợi
lycra, spandex) còn rất ít.Các mặt hàng Jacket mật độ cao, sử dụng sợi kéo
từ microfiber chưa có. Các nguyên liệu tổng hợp biến tính Acrylic pha len
để sản xuất các mặt hàng Complet chưa có.
Đặc biệt về khâu thiết kế mẫu sản phẩm của ta còn rất yếu do chưa được
coi trọng về đầu tư cơ sở mode, thông tin và tiếp cận thị trường. Hầu hết
việc thiết kế đều do Viện mẫu thời trang Việt Nam đảm nhận song việc
nghiên cứu lại thực sự bị hạn chế do chưa xây dựng được đội ngũ nghiên
cứu thiết kế, sản xuất thử mặt hàng từ các cơ sở sản xuất kinh doanh đến

chiếc, đạt trị giá khoảng 360 triệu USD, tăng gấp 3 lần mức xuất khẩu năm
1993.

Biểu đồ 1 - Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào EU
giai đoạn 1994-2002
(đơn vị: triệu USD)
298
350
420
450
602
620
700
745
720
0
100
200
300
400
500
600
700
800
1994 1996 1998 2000 2002
Tuy nhiên, xuất khẩu hàng dệt may sang EU vẫn còn rất nhiều khó khăn
như:
-Thiếu bạn hàng tiêu thụ trực tiếp, không ký hợp đồng trực tiếp được với
các bạn hàng của EU mà phải qua trung gian nên gần 80% hàng may xuất
sang EU phải thông qua nước thứ ba, hiệu quả kinh tế thấp. Phần gia công

chúng ta có thể tiếp cận và bán trực tiếp các sản phẩm của mình trực tiếp cho
các khách hàng EU.
3.2 .Thị trường phi hạn ngạch
Thị trường Nhật Bản
Thị trường xuất khẩu hàng dệt may không hạn ngạch của Việt Nam lớn
nhất là Nhật Bản. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này tăng nhanh qua
các năm. Năm 1995 lần đầu tiên Việt Nam lọt vào danh sách 10 nước xuất
khẩu hàng dệt may lớn nhất vào Nhật Bản, đến năm 1997 đã vượt lên vị trí
thứ 7. Trong khi xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật của hầu hết các nước
năm 1997 giảm mạnh thì xuất khẩu của Việt Nam tăng cả về kim ngạch lẫn
thị phần.
Hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản không chỉ
tăng nhanh về kim ngạch mà còn đa dạng về chủng loại và tăng mạnh về
khối lượng. Các loại áo khoác gió nam, quần áo cho người lái xe tải, áo sơ
mi, quần âu... là những mặt hàng chủ yếu của Việt Nam xuất sang thị trường
Nhật Bản.
Hàng dệt may Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản được hưởng thuế
ưu đãi theo hệ thống GSP của Nhật Bản. Đây là thuận lợi lớn cho ngành may
xuất khẩu của Việt Nam.
Tuy nhiên, hàng dệt may xuất khẩu sang Nhật Bản phải cạnh tranh quyết
liệt với hàng dệt của nhiều nước, đặc biệt là Trung Quốc và các nước
ASEAN khác. Năm 1998 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính-tiền tệ
khu vực, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật bị giảm mạnh, trên
dưới 180 triệu USD.
Nhật Bản cũng là thị trường đòi hỏi rất khắt khe về tiêu chuẩn chất
lượng, từ nguyên phụ liệu đến quy trình sản xuất đều phải tuân thủ nghiêm
ngặt theo tiêu chuẩn chất lượng JIS ( Japan Industrial Standard ) cũng như
các điều luật , các quy định ứng dụng với sản xuất và nhập khẩu hàng hoá.
Mặc dù do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng khu vực, nền kinh tế suy
thoái, sức mua giảm , tồn kho cao và sự mất giá của đồng Yên Nhật làm tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status