Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Dệt may là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, với
kim nghạch xuất khẩu lớn tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong số
các thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam , Hoa Kỳ là thị trường có vai
trò rất quan trọng. Tổng kim nghạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam thì
Hoa Kỳ chiếm 57%. Tuy nhiên xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam nói chung
và xuất khẩu dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ nói riêng còn nhiều hạn chế cần
giải quyết.
Bài luận văn của em nói về “Giải pháp thúc đẩy hàng dệt may Việt
Nam sang thị trường Hoa Kỳ ”
Nổi bật tầm quan trọng của thị trường Hoa Kỳ đối với hoạt động xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam cũng như những thành công và hạn chế, thuận
lợi và khó khăn trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị
trường Hoa Kỳ .
Từ đó, đề xuất các giải pháp cụ thể thúc thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt
may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong thời gian tới.
Với kiến thức chuyên ngành thương mại trong thời gian học tập tại
nhà trường cũng như được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS NGUYẾN
ANH TUẤN.
Em đã hoàn thành báo cáo thực tập trong 3 chương chính:
Chương I: Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hóa
Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ
Chương III: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị
trường Mỹ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA
1.1. Lý luận chung về thương mại quốc tế
1.1.1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối Adam- Smith ( 1723 -1790 )
Adam Smith là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở Anh và trên
Thế giới. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối có tính hệ thống đầu tiên về thương mại
Cà phê 15 5 20
Khi thương mại quốc tế được tiến hành trên cơ sở chuyên môn hóa sản
xuất theo quan điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối, lượng lao động ở mỗi
nước sẽ được phân bổ lại. Cụ thể 60 lao động ở Mỹ chuyên sản xuất thép và
60 lao động Việt Nam chuyên sản xuất cà phê. Những thay đổi về sản lượng
của mỗi quốc gia như sau.
Bảng 3: Mô hình giản đơn về lợi thế tuyệt đối thay đổi do chuyên môn hóa
Việt Nam Mỹ Tổng số
Thép 0 20 20
Cà phê 30 0 30
Như vậy thông qua chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi , sản lượng
của toàn thế giới tăng lên lớn hơn mức sản xuất của mỗi nước như trong
trường hợp tự cung tự cấp. Vì vậy, mỗi nước đều có thể tự tiêu dùng nhiều
hơn lượng mà họ có thể sản xuất ra được trong điều kiện không có khả năng
trao đổi quốc tế. Mở rộng khả năng tiêu dùng vượt ra khỏi danh giới của
đường giới hạn khả năng sản xuất trong điều kiện tự cấp tự túc chính là động
lực của trao đổi thương mại quốc tế.
1.1.1.2. Ưu nhược điểm và khả năng áp dụng
Theo lợi thế tuyệt đối của Adam Smith thì sư khác biệt về lợi ích tuyệt
đối giữa hai quốc gia là nguồn gốc của trao đổi thương mại quốc tế. Lý thuyết
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lợi thế tuyệt đối không chỉ giúp mô tả hướng chuyên môn hóa sản xuất và trao
đổi giữa các quốc gia, mà còn là công cụ để các quốc gia gia tăng phúc lợi.
Mô hình thương mại này có thể giúp giải thích được một phần của thương
mại quốc tế, tuy nhiên vẫn chưa giải thích được lý do của thương mại quốc tế
trong mọi trường hợp.
1.1.2. Lý thuyết lợi thế so sánh Dvid Ricardo ( 1772 -1823 )
David Ricardo sau khi nghiên cứu khoa học tự nhiên ( toán học, vật lý
học, địa chất học...) ông chuyển sang nghiên cứu kinh tế chính trị từ năm
1807. Năm 1817, nhà kinh tế học người Anh, D.Ricardo đã đưa ra lý thuyết
Việt Nam Mỹ
Thép ( 1 đơn vị ) 2,5 cà phê 0,5 cà phê
Thép ( 1 đơn vị ) 0,4 thép 2 thép
Trong mô hình này, Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về cả 2 mặt hàng,
nhưng do mức lợi thế về sản xuất cà phê lớn hơn mức lợi thế về sản xuất thép,
thể hiện trên bất đẳng thức 2/12 < 5/6 ( hay giá cà phê ở Việt Nam rẻ hơn một
cách tương đối ), cho nên nước này có lợi thế tương đối về mặt hàng cà phê.
Đối với Mỹ, mặc dù có bất lợi tuyệt đối về cả 2 mặt hàng, nhưng do mức bất
lợi trong sản xuất thép nhỏ hơn mức bất lợi trong sản xuất cà phê nên Mỹ có
lợi thế tương đối về thép, thể hiện qua bất đẳng thức 6/5 <12/2 ( hay giá thép
của Mỹ rẻ hơn một cách tương đối ).Nếu như chỉ căn cứ vào lợi thế tuyệt đối
thì Việt Nam có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả 2 mặt hàng, nhưng nếu so
sánh tương quan giữa cà phê và thép ở Mỹ và Việt Nam thì Mỹ có lợi thế so
sánh về sản xuất thép còn Việt Nam có lợi thế so sánh về cà phê. Như vậy
theo lý thuyết lợi thế tương đối nếu Mỹ và Việt Nam thực hiện chuyên môn
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hóa hoàn toàn vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và trao đổi
cho nhau thì cả hai quốc gia sẽ thu được lợi ích từ thương mại.
1.1.2.2. Ưu nhược điểm và khả năng áp dụng
Mô hình thương mại quốc tế dựa trên lợi thế so sánh của D.Ricardo là
một công cụ hữu ích để giải thích nguyên nhân của thương mại quốc tế và nó
đem lại lợi ích cho 2 quốc gia như thế nào? Đây cũng là ưu điểm so với mô
hình lợi thế tuyệt đối của A.Smith. Tuy nhiên, bên cạnh đó mô hình của
D.Ricardo vẫn còn chứa đựng hạn chế nhất định như: Đã dự đoán chuyên
môn hóa hoàn toàn,tức là mỗi nước sẽ tập chung vào một mặt hàng mà mình
có lợi thế. Nhưng trên thực tế mỗi nước không chỉ có một mà còn nhiều mặt
hàng trong đó có cả những mặt hàng cạnh tranh với hàng nhập khẩu.
1.1.3. Lý thuyết tương quan nhân tố ( H – O )
Trong khi các lý thuyết cổ điển cho rằng sự khác biệt về năng suất lao
động là nguyên nhân dẫn đến lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh của một
thiết bị đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động phức tạp và là nơi diễn ra các quan
hệ giao dịch, buôn bán giữa những người có quốc tịch khác nhau trên một thị
trường rộng lớn. Hàng hóa được vận chuyển ra khỏi biên giới quốc gia trong
đó đồng tiền thanh toán là ngoại tệ ddược quy định giữa người xuất khẩu và
người nhập khẩu. Đồng thời các hoạt động giao dịch này phải tuân theo
những tập quán, thông lệ của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ cũng như luật lệ
quốc tế.
Hoạt động xuất khẩu được thực hiện với nhiều nghiệp vụ phức tạp từ
việc nghiên cứu thị trường, lựa chọn mặt hàng xuất khẩu giao dịch và đàm
phán, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng cho đến khi hàng hóa chuyển giao
quyền sở hữu cho người mua và hoàn thành các thủ tục thanh toán.
1.2.1. Các hình thức xuất khẩu
1.2.1.1. Xuất khẩu trực tiếp
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Xuất khẩu trực tiếp là các nhà sản xuất và kinh doanh bán hàng trực
tiếp cho người nước ngoài. Ưu điểm của hình thức này là đơn vị xuất khẩu
được tiếp cận với thị trường quốc tế, đạt được hiệu quả kinh doaanh cao hơn
các hình thức khác. Nếu làm tốt thì uy tín của đơn vị ngày càng được nâng
cao trên thị trường quốc tế. Nhờ đó đội ngũ cán bộ được rèn luyện qua thực
tiễn, năng động sáng tạo và thích ứng với kinh tế thị trường ngày một tốt hơn.
Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi phải có số vốn lớn để thực hiên những hợp
đồng có giá trị và có thể gặp rủi ro khi đồng tiền nước đó tăng giá so với đồng
tiền ngoại tệ trong hợp đồng đã ký kết hoặc hàng bị trả lại do chất lượng
không đạt tiêu chuẩn, không đảm bảo thời gian giao hàng.
1.2.1.2. Xuất khẩu gián tiếp
Trong hình thức này, các đơn vị xuất khẩu đứng ra với vai trò trung
gian xuất khẩu làm thủ tục cần thiết để xuất khẩu và được hưởng tỷ lệ nhất
định phí ủy thác theo giá trị hàng hóa xuất khẩu ( thường từ 1- 3 % giá trị lô
hàng ).
Khi đã nắm được quy luật của thị trường , doanh nghiệp sẽ biết đến được khả
năng nhu cầu tiêu thụ thị trường, thái độ cũng như thị hiếu của người tiêu
dùng. Bên cạnh đó điều quan trọng hơn là phải nắm bắt được xu thế phát triển
của thị trường. Khi nghiên cứu nhân tố thị trường ảnh hưởng đến xuất khẩu
cần nghiên cứu vấn đề dung lượng thị trường của từng loại hàng hóa, đó là
khối lượng của một loại hàng hóa nào đó được giao dịch trên thị trường trong
khoảng một thời gian nhất định. Qua thực tế cho thấy chỉ khi nào nghiên cứu
tốt thị trường xuất khẩu thì doanh nghiệp mới có các giải pháp tích cực để mở
rộng khả năng tiêu thụ hàng hóa xuất khẩu và nâng cao kỹ năng tiếp cận thị
trường cũng như phát triển sản xuất phù hợp với yêu cầu đòi hỏi thị trường.
1.2.2.2. Nhân tố sản xuất
Để có thể xuất khẩu thì một quốc gia phải có nền sản xuất phát triển
nhất định bởi vì xuất khẩu chỉ có thể được đẩy mạnh trên cơ sở sự phát triển
của sản xuất. Nhân tố sản xuất ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu trên những
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
khía cạnh sau: sản lượng hàng hóa, chất lượng hàng hóa, chất lượng hàng hóa,
nhu cầu thị trường quốc tế về mặt hàng đó. Tất cả những điều đó đòi hỏi sản
xuất trong nước phải gắn với thị trường Thế giới tức là phải xuất phát từ nhu
cầu thị trường Thế giới để định hướng, tổ chức sản xuất. Nhìn chung mỗi
quốc gia cũng như từng địa phương đều tập chung sản xuất các mặt hàng xuất
khẩu chủ lực trên cơ sở tiềm năng và thế mạnh của mình. Một mặt hàng xuất
khẩu chủ lực cần thỏa mãn ba yếu tố sau đây: Có thị trường tiêu thụ tương đối
ổn định và luôn cạnh tranh được trên thị trường đó. Yếu tố thứ hai là có
nguồn lực để tổ chức sản xuất và sản xuất với chi phí thấp để tăng được sức
cạnh tranh và thu được lợi nhuận khi xuất khẩu. Và cuối cùng mặt hàng đó
phải chiếm được tỷ trọng lớn trong trong tổng kim nghạch xuất khẩu. Ngoài
ra mặt hàng xuất khẩu chủ lực không nhất thiết phải cố định mà cần phải thay
đổi tùy theo xu hướng tiêu dùng của thị trường.
1.2.2.3. Hợp đồng và ký kết hợp đồng
Hợp đồng mua bán ngoại thương là thỏa thuận bằng văn bản được ký
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với kinh
tế phát triển Thế giới là tất yếu đối với nước ta.
Tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
+ Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt
quá nhu cầu nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát
triển như nước ta, sản xuất về cơ bản vẫn chưa đủ tiêu dùng nếu chỉ thụ động
chờ sự “ thừa ra “ của sản xuất thì xuất khẩu sẽ nhỏ bé và tăng trưởng thấp.
Từ đó sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp.
+ Coi thị trường đặc biệt là thị trường Thế giới là hướng quan trọng để
tổ chức sản xuất. Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu của thị trường Thế giới
để ddịnh hướng sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động đó thể hiện ở những
điểm sau:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các nghành có cơ hội phát triển thuận lợi
.Ví dụ , khi phát triển nghành dệt may xuất khẩu sẽ tạo điệu kiện sản xuất
nguyên liệu như : bông ,sợi hay thuốc nhuộm ,công nghiệp tạo mẫu…. sự
phát triển của nghành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu ,dầu thực
vât, chè… có thể sẽ kéo theo sự phát triển của nghành công nghiệp chế tạo
thiết bị phục vụ cho nó.
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho
sự phát triển cho sự sản xuất phát triển và đi vào ổn định.
- Xuất khẩu tạo điều kiện khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀO
THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
2.1. Vài nét liên minh với Mỹ và quan hệ kinh tế thương mại Việt – Hoa Kỳ
tất cả các quốc gia có tòa đại sứ tại Washington và nhiều lãnh sứ quán khắp
đất nước. Tương tự, gần như tất cả các quốc gia đều có các sứ bộ ngoại giao
Mỹ.
2.1.2. Quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam – Hoa Kỳ
Nhìn chung quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ ngày càng phát triển theo
hướng tích cực đặc biệt về kinh tế và thương mại phù hợp với lợi ích và chiến
lược của nước ta, góp phần tạo thế cân bằng với các đối tác khác. Chính sách
của Mỹ với Việt Nam nằm trong chính sách các nước đang phát triển, hợp tác
trong khuân khổ Việt Nam là thành viên của ASEAN và 11-1-2007 Việt Nam
gia nhập WTO. Khi gia nhập WTO Việt Nam đã được Mỹ tạo điều kiện cho
nền kinh tế phát triển hơn. Cụ thể là Việt Nam xuất khẩu hàng may mặc sang
Mỹ chiếm 57% tổng kim nghạch xuất khẩu hàng may mặc.
2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội của Hoa Kỳ
2.2.1. Quy mô thị trường
Về dân số Hoa Kỳ đứng thứ 3 trên toàn thế giới. Hoa Kỳ là một quốc
gia đa dạng chủng tộc nhất Thế giới do các cuộc di dân từ các quốc gia khác
trên Thế giới ( xem bảng 8: phần trăm các chủng tộc sống ở Hoa Kỳ ) Đã
có nhiều tầng lớp dân cư,nên cơ cấu chủng loại hàng hóa của Hoa Kỳ cũng rất
phong phú. Từ các mặt hàng cao cấp đến các mặt hàng thứ cấp, mặt hàng nào
cũng có thể tiêu thụ được ở thị trường này
Dệt may cũng không phải là ngoại lệ. Có thể nói thị trường dệt may
Hoa Kỳ cũng vô cùng phong phú, đa dạng về mẫu mã, chủng loại về giá cả.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Có rất nhiều chủng loại hàng hóa dệt may được tiêu thụ tại thị trường
này.Hơn nữa người Hoa Kỳ cũng không phải là những người cầu kỳ và kiểu
cách như dân Châu Âu và Nhật Bản. Từ những thuận lợi trên Mỹ chắc chắn
là một thị trường lý tưởng cho các nhà xuất khẩu trong đó có các doanh
nghiệp xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam .
2.2.2. Tập quán và thị hiếu người tiêu dùng
Hoa Kỳ là một đất nước có rất nhiều tầng lớp dân cư sinh sống, đó