Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ - Pdf 23

LỜI NÓI ĐẦU
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đưa tới
một sự đột biến trong tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia và đưa xã hội loài
người bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của nền văn minh trí tuệ. Trong
bối cảnh ấy xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá là đòi hỏi tất yếu đối với tất cả
mọi quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không thể là một ngoại lệ. Hoà vào xu
hướng hội nhập ấy, để có thể tiến nhanh, tiến kịp thời đại thì Việt Nam cần phải
phát huy những lợi thế vốn có của mình. Là một quốc gia có dân số khoảng trên 80
triệu, thu nhập bình quân đầu người thấp thì lợi thế lớn nhất đối với Việt Nam là có
một lực lượng lao động dồi dào với giá nhân công rẻ. Bởi vậy, phát triển công
nghiệp dệt may trong giai đoạn đầu của qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Ngoài việc sản xuất hàng
tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người lao
động trong xã hội, xuất khẩu hàng dệt may còn góp phần làm tăng kim ngạch xuất
khẩu của quốc gia. Hàng dệt may hiện đang đứng thứ hai trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam, sau dầu thô. Trong năm 2003, hàng dệt may xuất khẩu
tăng 30,8%, kim ngạch tăng khoảng 850 triệu USD đưa hàng dệt may trở thành một
trong số những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn nhất của Việt Nam. Trước mắt
việc xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ còn gặp nhiều khó khăn như chất
lượng hàng hoá chưa ổn định cộng với việc chưa am hiểu luật pháp kinh doanh
cũng như phong tục, tập quán của thị trường Mỹ của các doanh nghiệp Việt Nam
nhưng trở ngại lớn nhất vẫn là việc hàng dệt may của Việt Nam chưa được hưởng
quy chế tối huệ quốc của Mỹ. Nhưng dù sao hiệp định thương mại Việt - Mỹ được
ký kết vào tháng 7/2000 là một cơ hội mới, to lớn cho ngành dệt may nước ta vì
đây là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới. Do vậy, việc đẩy
mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ được xem là một trong
1
những ưu tiên hàng đầu để phát triển sản xuất, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, tạo
công ăn việc làm cho người dân và ổn định xã hội.
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tình hình sản xuất, xuất khẩu hàng dệt may
của Việt Nam sang thị trường Mỹ, thực trạng của thị trường Mỹ và yêu cầu bức

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA
VIỆT NAM
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA
1. Khái niệm chung về xuất khẩu hàng hoá
Xuất khẩu là một bộ phận cấu thành quan trọng cuả hoạt động ngoại thương,
trong đó hàng hoá dịch vụ được bán cho nước ngoài nhằm thu ngoại tệ.
Nếu xem xét dưới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là
hình thức cơ bản đầu tiên của doanh nghiệp khi bước vào kinh doanh quốc tế. Mỗi
công ty luôn hướng tới xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ của mình ra nước
ngoài. Xuất khẩu còn tồn tại ngay cả khi công ty đã tiến hành các hình thức cao
hơn trong kinh doanh quốc tế. Các lý do để một công ty thực hiện xuất khẩu là:
Thứ nhất, sử dụng những lợi thế của quốc gia mình
Thứ hai, giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm
Khi một thị trường chưa bị hạn chế bởi thuế quan , hạn ngạch, các quy định
khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật, trên thị trường có ít đối thủ cạnh tranh hay năng
lực của doanh nghiệp kinh doanh quốc tế còn chưa có đủ khả năng để thực hiện các
hình thức cao hơn thì xuất khẩu được lựa chọn. So với đầu tư rõ ràng xuất khẩu đòi
hỏi một lượng vốn ít hơn, rủi ro thấp hơn, thu được lợi nhuận trong một thời gian
ngắn.
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, không một quốc gia nào có
thể tự sản xuất tất cả các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước.
Vì vậy tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế là điều kiện cần thiết cho mỗi
quốc gia. Mỗi quôc gia phải thông qua trao đổi, mua bán với các quốc gia.nhằm
thoả mản nhu cầu của mình. Như vậy, hoạt động xuất khẩu góp phần quan trọng
4
vào sự phát triển hay suy thoái, lạc hậu của quốc gia so với thế giới, ích lợi của
hoạt động xuất khẩu được thể hiện như sau:
2.1.Đối với nền kinh tế thế giới

* Đẩy mạnh xuất khẩu có ích lợi đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành theo
hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước
Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ,cung cấp đầu vào cho
sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước.
Xuất khẩu tạo những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng
lực sản xuất trong nước. Điều này có ý nghĩa là xuất khẩu là phưong tiện quan
trọng tạo vốn, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào trong nước
nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nước, tạo ra năng lực sản xuất mới.
Thông qua xuất khẩu, hàng hoá trong nước sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh
trên thi trường thế giới về giá cả và chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi các
nhà sản xuất trong nước phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất phù
hợp với nhu cầu thị trường. Ngoài ra, xuất khẩu còn đòi hỏi các nhà doanh nghiệp
phải luồng đổi mới công hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng
cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành.
* Xuất khẩu có tác động trực tiếp đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đới của nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm nhiều mặt.
Ngoài ra một phần kim ngạch xuất khẩu còn dùng để nhập khẩu những vật
phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ cho đời sống và đáp ứng ngày càng phong phú
hơn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy kinh tế đối ngoại giữa các quốc
gia
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn
nhau. Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động chủ yếu, cơ bản là hình thức ban đầu
6
của hoạt động kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác như du lịch
quốc tế, bảo hiểm, vận tải quốc tế, tín dụng quốc tế…phát triển theo. Ngược lại sự
phát triển của các ngành này lại là những điều kiện tiền đề cho hoạt động xuất khẩu
phát triển.
2.3. Đối với doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của những sản phẩm "made in Việt Nam" chia làm ba
nhóm:
- Nhóm có khả năng cạnh tranh và cạnh tranh coa hiệu quả.
- Nhóm có khả năng có điều kiện.
- Nhóm có khả năng thấp.
4. Nội dung của hoạt động xuất khẩu
4.1. Nghiên cứu thị trường
4.1.1. Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu
Đây là một trong những nội dung ban đầu cơ bản nhưng rất quan trọng và rất
cần thiết để tiến hành hoạt động xuất khẩu. Để lựa chọn được mặt hàng mà thị
trường cần, đòi hỏi doanh nghiệp phải có quá trình nghiên cứu, phân tích có hệ
thống nhu cầu thị trường từ đó giúp cho doanh nghiệp chủ động trong quá trình sản
xuất kinh doanh
4.1.2. Lựa chọn thị trường xuất khẩu
Sau khi đã lựa chọn được mặt hàng xuất khẩu, doanh nghiệp cần phải tiến
hành lựa chọn thị trường xuất khẩu mắt hàng đó. Việc lựa chọn thị trường đòi hỏi
doanh nghiệp phân tích tổng hợp nhiều yếu tố bao gôm cả những yếu tố vi mô cũng
như yếu tố vĩ mô và khả năng của doanh nghiệp. Đây là một quá trình đòi hỏi
nhiều thời gian và chi phí.
4.1.3. Lựa chọn bạn hàng
Lựa chọn bạn hàng căn cứ khả năng tài chính, khả năng thanh toán của bạn
hàng và căn cứ vào phương thức và phương tiện thanh toán. Việc lựa chọn bạn
8
hàng luôn theo nguyên tăc đôi bên cùng có lợi. Thông thường khi lựa chọn bạn
hàng, các doanh nghiệp thường trước hết lưu tâm đến những mối quan hệ cũ của
mình. Sau đó những bạn hàng của các doanh nghiệp khác trong nước đã quan hệ
cũng là một căn cứ để xem xét lựa chọn ở các nước đang phát triển. Các bạn hàng
thường phân theo khu vực thị trường mà tuỳ thuộc vào sản phẩm mà doanh nghiệp
lựa chọn để buôn bán quốc tế mà các quốc gia ưu tiên.
4.1.4. Lựa chọn phương thức giao dịch

giấy phép xuất khẩu của Bộ Thương Mại quản lý
*Chuẩn bị hàng xuất khẩu
Đối với những doanh nghiệp sau khi thu mua nguyên phụ liệu sản xuất ra
sản phẩm, cần phải lựa chọn, kiểm tra, đóng gói bao bì hàng hoá xuất khẩu, kẻ ký
mã hiệu sao cho phù hợp với hợp đồng đã ký và luật pháp của nước nhập khẩu
*Kiểm định hàng hoá
Trươc khi xuất khẩu, các nhà xuất khẩu phải có nghĩa vụ kiểm tra số lượng,
trọng lượng hàng hoá. Việc kiểm tra phải được tiến hành hai cấp cơ sở và ở cửa
khẩu nhăm đảm bảo quyền lợi cho khach hàng va uy tín của nhà sản xuất
*Thuê phương tiện vận chuyển
Doanh nghiệp xuất khẩu có thể tự thuê phương tiện vận chuyển hoặc uỷ thác
cho một công ty uỷ thác thuê tàu. Điều này phụ thuộc vào điều kiện cơ sở giao
hàng trong hợp đồng.
Cơ sở pháp lý điếu tiết mối quan hệ giữa các bên uỷ thác thuê tàu với bên
nhận uỷ thác là hợp đồng uỷ thác thuê tàu. Có hai loại hợp đồng uỷ thác thuê tàu:
Hợp đồng uỷ thác thuê tàu cả năm và hợp đồng thuê tàu chuyến. Nhà xuất khẩu
căn cứ vào đặc điểm của hàng hoá để lựa chọn hợp đồng thuê tàu cho thích hợp.
*Mua bảo hiểm hàng hoá
Hàng hoá trong buôn bán quốc tế thường xuyên được chuyên chở bằng
đường biển, điều này thường gặp rất nhiều rủi ro, do đó cần phải mua bảo hiểm cho
10
hàng hoá. Công việc cần phải thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm. Có hai loại
hợp đồng bảo hiểm :Hợp đồng bảo hiểm bao và hợp đồng bảo hiểm chuyến.khi
mua bảo hiểm cần lưu ý những điều kiện bảo hiểm và lựa chọn công ty bảo hiểm.
*Làm thủ tục hải quan
Hàng hoá khi vườt qua biên giới quốc gia để xuất khẩu đều phải làm thủ tục
hải quan. Việc làm thủ tục hải quan bao gồm ba bước chủ yếu sau:
-Khai báo hải quan: Doanh nghiệp khai báo tất cả các đặc điểm hàng hoá về
số lượng, chất lượng, giá trị, tên phương tiện vận chuyển, nước nhập khẩu. Các
chứng từ cần thiết, phải xuất trình kèm theo là: Giây phép xuất khẩu, phiếu đóng

5. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế
nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng cho phép các nhà kinh doanh thấy được
những gì họ sẽ phải đối mặt và đứng trước tinh thế đó thì họ phải xử lý như thế
nào? ở đây có thể nghiên cứu ảnh hưởng của các nhom yếu tố chủ yếu sau:
5.1. Các yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu,
hơn nữa các yếu tố này rất rộng nên các doanh nghiệp có thể lựa chọn và phân tích
các yếu tố thiết thực nhất để đưa ra các biện pháp tác động cụ thể
5.1.1. Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn
vị tiền tệ của nước kia. Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan
trọng để doanh nghiệp đưa ra quyết định liên quan đến hoạt động mua bán hàng
hoá quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
Để nhận biết được sự tác động của tỷ giá hối đoái đối với các hoạt động của
nền kinh tế nói chung, hoạt động xuất khẩu nói riêng các nhà kinh tế thường phân
biệt tỷ giá hối đoái danh nghĩa (TGDN) và tỷ giá hối đoái thực tế (TGTT)
12
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (tỷ giá chính thức) là tỷ giá được nêu trên các
phương tiện thông tin đại chúng như: Báo chí, đài phát thanh, tivi…Do ngân hang
Nhà nước công bố hàng ngày.
Tuy nhiên tỷ hối đoái chính thức không phải là một yếu tố duy nhất ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất trong nước về các mặt hàng.
Vấn đề đối với các nhà xuất khẩu và những doanh nghiệp có hàng hoá cạnh tranh
với các nhà nhập khẩu là có được hay không một tỷ giá chính thức, được điều
chỉnh theo lạm phát trong nước và lạm phát xảy ra tại các nền kinh tế của các bạn
hàng của họ.Một tý giá hối đoái chính thức được điều chỉnh theo các quá trình lạm
phát có liên quan gọi là tỷ giá hối đoái thực tế.
Nếu tỷ giá hối đoái thực tế thấp hơn so với nước xuất khẩu và cao hơn so với
nước nhập khẩu thì lợi thế sẽ thuộc về nước xuất khẩu do giá nguyên vật liệu đầu

xuất khẩu mà đôi khi về quyền lợi quốc gia phải kiểm soát một vài mặt hàng hay
nhóm hàng như sản phẩm đặc biệt, nguyên liệu do nhu cầu trong nước còn thiếu…
*Trợ cấp xuất khẩu
Trong một số trường hợp chính phủ phải thực hiện chính sách trợ cấp xuất
khẩu để tăng mức độ xuất khẩu hàng hoá của nước mình, tạo điều kiện cho sản
phẩm có sức cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới. Trợ cấp xuất khẩu sẽ làm
tăng giá nội địa của hàng xuất khẩu, giảm tiêu dùng trong nước nhưng tăng sản
lượng và mức xuất khẩu.
5.2. Các yếu tố xã hội
Hoạt động của con người luôn luôn tồn tại trong một điều kiện xã hội nhất
định. Chính vì vậy, các yếu tố xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của con
người. Các yếu tố xã hội là tương đối rộng, do vậy để làm sáng tỏ ảnh hưởng của
yếu tố này có thể nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố văn hoá, đặc biệt là trong ký kết
hợp đồng.
14
Nên văn hoá tạo nên cách sống của mỗi cộng đồng sẽ quyết định các thức
tiêu dùng, thứ tự ưu tiên cho nhu cầu mong muốn được thoả mãn và cách thoả mãn
của con người sống trong đó. Chính vì vậy văn hoá là yếu tố chi phối lối sống nên
các nhà xuất khẩu luôn luôn phải qua tâm tìm hiểu yếu tố văn hoá ở các thị trường
mà mình tiên hành hoạt động xuất khẩu.
5.3. Các yếu tố chính trị pháp luật
Yếu tố chính trị là nhân tố khuyến khích hoạc hạn chế quá trình quốc tế hoá
hoạt động kinh doanh. Chính sách của chính phủ có thể làm tăng sự liên kết các thị
trường và thúc đây tốc độ tăng trưởng hoạt động xuất khẩu bằng việc dỡ bỏ các
hàng rào thuế quan, phi thuế quan, thiết lập các mối quan hệ trong cơ sở hạ tầng
của thị trường. Khi không ổn định về chính trị sẽ cản trở sự phát triển kinh tế của
Đất nước và tạo ra tâm lý không tốt cho các nhà kinh doanh.
Các yếu tố chính trị pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu.
Cac công ty kinh doanh xuất khẩu đều phải tuân thủ các qui định mà chính phủ
tham gia vào các tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới cũng như các thông

thấp hơn so với các nước không có cảng biển.
- Thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu có thể bị kéo dài do bị thiên tai
như bão, động đất…
- Sự phát triển của khoa hóc công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin cho
phép các nhà kinh doanh nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thông tin, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, điều khiển hàng hoá xuất khẩu, tiết kiệm chi
phí, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu. Đồng thời yếu tố công nghệ còn tác
động đến quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng xuất khẩu, các lĩnh vực khác
có liên quan như vận tải, ngân hàng…
5.5. Yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu
Các yếu tố hạ tầng phục vụ hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến
xuất khẩu, chẳng hạn như:
16
- Hệ thống giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển: Mức độ trang bị, hệ
thống xếp dỡ, kho tàng…hệ thống cảng biển nếu hiện đại sẽ giảm bớt thời gian bốc
dỡ, thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an toàn cho hàng hoá xuất khẩu.
- Hệ thống ngân hàng: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng cho phép các
nhà kinh doanh xuất khẩu thuận lợi trong việc thanh toán, huy động vốn. Ngoài ra
ngân hàng là một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh doanh băng các dịch vụ
thanh toán qua ngân hàng.
- Hệ thống bảo hiểm ,kiểm tra chất lượng hàng hoá cho phép các hoạt động
xuất khẩu được thực hiện một cách an toàn hơn, đồng thời giảm bớt được mức độ
thiệt hại khi có rủi ro xảy ra…
5.6. ảnh hưởng của tình hình kinh tế - xã hội thế giới và quan hệ kinh tế
quốc tế
Trong xu thế khu vực hoá, toàn cấu hoá thì sự phụ thuộc giữa các nước ngày
càng tăng. Chính vì thế mỗi biến động của tình hình kinh tế xã hội trên thế giới đều
ít nhiều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước. Lĩnh vực
xuất khẩu hơn bất cứ một hoạt động nào khác bị chi phối mạnh mẽ nhất, ở đây
cũng do một phần tác động của các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Khi xuất khẩu

kinh doanh xuất nhập khẩu, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo
thành công. Chính con người với năng lực thật của họ mới lựa chọn đúng được cơ
hội và sử dụng sức mạnh khác mà họ đã và sẽ có:vốn , tài sản, kỹ thuật, công nghệ
…Một cách có hiệu quả để khai thác và vượt qua cơ hội.
5.8.3. Tiềm lực vô hình ( Tài sản vô hình )
Tiềm lực vô hình tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động
thương mại. Tiềm lực vô hình không phải tự nhiên mà có, tuy có thể hình thành
mỗt cách tự nhiên nhưng nhìn chung tiềm lực vô hình cần được tạo dựng một cách
có ý thức thông qua các mục tiêu và chiến lược xây dựng tiềm lực vô hình cho
18
doanh nghiệp và cần chú ý đến khía cạnh này trong tất cả các hoạt động của doanh
nghiệp. Tiềm lực của doanh nghiệp có thể là:
- Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
- Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hoá
- Uy tín và mối quan hệ xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp
5.8.4. Khả năng kiểm soát, chi phối, độ tin cậy của nguồn cung cấp hàng hoá
và dự trữ hợp lý hàng hoá của doanh nghiệp
Yếu tố này ảnh hưởng đến đầu vào của doanh nghiệp và tác động mạnh mẽ
đến kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh cũng như ở khẩu tiêu thụ sản
phẩm. Không kiểm soát hoặc không đảm bảo được sự ổn định, chủ động về nguồn
cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp thì việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu
không thể đảm bảo, có thể phá vỡ hoặc làm hỏng hoàn toàn kế hoạch kinh doanh
của doanh nghiệp.
5.8.5. Trình độ tổ chức quản lý
Mỗi một doanh nghiệp là một hệ thống với những mối liên kết chặt chẽ với
nhau hướng tới mục tiêu. Một doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu của mình thì
đông thời đạt đến một trình độ tổ chức, quản lý tương ứng Khả năng tổ chức, quản
lý doanh nghiệp dựa trên quan điểm tổng hợp bao quát, tập trung vào những mối
liên hệ tương tác của tất cả các bộ phận tạo thành tổng thể tạo nên sức mạnh thực
sự cho doanh nghiệp.

các dịch vụ thay thế
Người
mua
Người
mua
Cạnh tranh giữa các
công ty hiện tại
Cạnh tranh giữa các
công ty hiện tại
Sự đe doạ của các
đối thủ cạnh tranh
Khả năng
mặc cả của
người mua
Khả năng
mặc cả
của nhà
cung cấp
Sự đe doạ của
các hàng hoá
thay thế
Qua mô hình các doanh nghiệp có thể thấy được các mối đe doạ hay thách
thức với cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là trung tâm. Xuất phát từ
đây doanh nghiệp có thể đề ra sách lược hợp lý nhằm hạn chế đe doạ và tăng khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình.
- Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng: các thủ này chưa có kinh
nghiệm trong việc thâm nhập vào thị trường quốc tế song nó có tiềm năng lớn về
vốn, công nghệ, lao động và tận dụng được lợi thế của người đi sau, do đó dễ khắc
phục được những điểm yếu của các doanh nghiệp hiện tại để có khả năng chiếm
lĩnh thị trường. Chính vì vậy, một doanh nghiệp phải tăng cường đầu tư vốn, trang

hơn để khai thác tốt lợi thế so sánh về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn
kỹ thuật, công nghệ, thị trường cho sự phát triển.
Cơ sở lý luận của chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu bắt nguồn từ
nguyên lý tổng cầu là yếu tố quyết định mức sản xuất. Tư tưởng cơ bản của chiến
lược tăng trưởng hướng về xuất khẩu là nhằm phát huy lợi thế so sánh và xu thế
quốc tế hoá đời sống kinh tế , mở rộng phân công lao động quốc tế. Lý luận về tổng
cầu hiệu quả đã mở ra cách lập luận mới về nền kinh tế mở, lấy nhu cầu của thị
trường thế giới làm mục tiêu cho nền sản xuất trong nước. Tình hình đó đòi hỏi mỗi
quốc gia phải có phương thức phù hợp, có cách đi hợp lý, cải tạo và thay đổi chính
nền kinh tế nước mình sao cho thích ứng với đòi hỏi của thị trường thế giới.Thực
chất của chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu là đặt nền kinh tế quốc gia và mỗi
ngành sản xuất trong nước trong quan hệ cạnh tranh với thị trường quốc tế nhằm
phát huy lợi thế so sánh, buộc nhà sản xuất trong nước phải luôn luôn đổi mới công
nghệ, không thể tồn tại với năng suất thấp, nhanh chóng nâng cao khả năng tiếp thị,
tự do hoá thương mại . Mục đích cuối cùng là đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu của thị
trường với giá rẻ, chất lượng cao, kể cả thị trường trong nước và quốc tế. Hướng về
xuất khẩu không có nghĩa là xem nhẹ nhu cầu và thị trường trong nước, không chú
22
ý thay thế nhập khẩu mà tất cả các sản phẩm sản xuất trong nước phải có sức cạnh
tranh trên thị trường thế giới, từ đó xác định cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng
có hiệu quả nhất.
Chiến lược tăng trưởng mạnh hướng về xuất khẩu trong ngành Dệt-May
nước ta đòi hỏi việc tăng kim ngạch xuất khẩu phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng sản xuất.
Ý nghĩa quan trọng của tăng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may không chỉ ở
chỗ tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu mà còn có những tác dụng
Khai thác ưu thế sẵn có sản xuất với khối lượng lớn cho thị trường, từ đó tạo
ra sản phẩm với giá thành thấp...
Thực tế cho thấy, hướng đi quan trọng nhất đối với nước ta trong những năm
trước mắt là tập trung vào xuất khẩu nhóm mặt hàng công nghiệp nhẹ và thủ công

Đặc biệt về khâu thiết kế mẫu sản phẩm của ta còn rất yếu do chưa được coi
trọng về đầu tư cơ sở mode, thông tin và tiếp cận thị trường. Hầu hết việc thiết kế
đều do Viện mẫu thời trang Việt Nam đảm nhận song việc nghiên cứu lại thực sự bị
hạn chế do chưa xây dựng được đội ngũ nghiên cứu thiết kế, sản xuất thử mặt hàng
từ các cơ sở sản xuất kinh doanh đến ngành, bao gồm các chuyên gia giỏi công
nghệ từ vật liệu dệt đến xử lý hoàn tất và các nhà thiết kế vân hoa, mẫu mốt thời
trang, trong khi ở nhiều nước trên thế giới có cả ngành thời trang may mặc với bề
dày nhiều năm, chính yếu tố này cũng góp phần làm giảm tính cạnh tranh của hàng
Việt Nam .
Thêm vào đó, tình trạng thiếu nguyên liệu sản xuất trong nước cho ngành
may cả về số lượng, chủng loại và chất lượng (50% mặt hàng xuất sang EU đều
phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài) đã làm cho giá sản phẩm của ta cao hơn
nhiều so với một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ...
3. Các thị trường xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam
3.1 .Thị trường có hạn ngạch
24
Các nước EU là thị trường xuất khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch lớn nhất
của Việt Nam, đặc biệt là sau khi ký hiệp định khung về hợp tác toàn diện Việt
Nam-EU được chính thức ký kết ngày 17/7/1995 quy định hai bên cho nhau hưởng
chế độ đãi ngộ tối huệ quốc và ngày 17/11/1997, Hiệp định buôn bán hàng dệt may
giữa Việt Nam và EU giai đoạn 1998-2000 đã được ký kết tại Brussel (Bỉ). Hiệp
định này có khá nhiều thuận lợi cho phía Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may từ Việt Nam sang EU tăng trưởng từ 3-6%/năm.
Các nước EU nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam năm 2000 là :
Đức: 257,825 triệu USD,Pháp: 81,212 triệu USD , Hà Lan :50,128 triệu USD, Italy
: 44,248 triệu USD. Sau 5 năm thực hiện Hiệp định, EU đã trở thành thị trường hạn
ngạch lớn nhất của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng kim ngạch cao, bình quân trên
23%/năm trong đó năm 2001, toàn ngành dệt may đạt kim ngạch xuất khẩu là 2082
triệu USD thì xuất khẩu sang EU đã đạt 745 triệu, tăng 6,7 % so với năm 2000.
Năm 2002, toàn ngành dệt may cả nước đạt kim ngạch xuất khẩu là 2700 triệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status