TIỂU LUẬN:
HỆ THỐNG THÔNG TIN TRONG
VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ Ở
CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY
A.PHẦN MỞ ĐẦU.
LỜI NÓI ĐẦU.
Ngành dệt may có lịch sử phát triển lâu đời ở nước ta. Tuy nhiên, nó mới chỉ trở
thành một ngành sản xuất quan trọng được hơn chục năm nay và sự hòa nhập với thị
trường thế giới cũng chậm hơn các nước khác trong khu vực khoảng 15 đến 20 năm.
Trong 10 năm qua, ngành dệt may có những bước tiến vượt bậc Ngành dệt may đã
đóng góp 17% cho GDP của Việt Nam năm 2006; kim ngạch xuất khẩu của ngành
năm 2006 đạt con số rất ấn tượng 5,9 tỷ USD và dự kiến năm nay sẽ vượt mục tiêu 7
lý thông tin mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng,suy cho cùng quá trình quản lý là việc xử lý
thông tin,coi thông tin là tất cả những thông báo những số liệu dùng làm đầu vào cho quá
trình ra quyết định.
Theo nghiên cứu quá trình quản lý luôn luôn là quá trình định hướng, phản ánh
mối quan hệ qua lại giữa người tạo ra tin và người sử dụng tin. Có thể hiểu ,thông tin là
cung cấp cho người sử dụng một tin tức nào đó mà trước đó họ chưa biết. Trong trường
hợp không có người sử dụng thông tin thì sẽ không tồn tại khái niệm thông tin nữa.
Góc độ quản lý,tất cả mọi tài liệu số liệu chia làm 3 loại:
Tài liệu, số liệu có ích cho việc ra quyết định quản lý :thông tin.
Tài liệu, số liệu dùng để ra quyết định sau này; Thông tin dự trữ.
Tài liệu, số liệu dùng không liên quan đến việc đề ra quyết định: tài liêu thừa.
Tin tức được thu thập là gì ? đó chính là những tri thức, tư liệu giúp cho việc
phán đoán đưa ra quyết định hay ý kiến,việc đó giống như khi ta muốn làm một việc gì
đó, ta phải phải tập trung những điều kiện cần thiết để thực hiện công việc. Còn mức
độ cần thiết thì phải trải qua quá trình chọn lọc và sang tạo mới nhận ra được.
Dù có bao nhiêu tri thức và tư liệu vẫn chưa đủ,đó không phải mục đích cuối
cùng mà cái chíh là phải biết kết hợp với những cái cần thiết, những điều hữu ích phù
hữu ích phù hợp với mục đích thành công. Biết kết hợp tổng hợp tạo ra các thông tin
quyết định đầu ra ,điều đó rất quan trọng Bởi vậy cương quyết gạt bỏ đi các tri thức
không cần thiết.
Từ phân tích ở trên có thể định nghĩa về thông tin quản lý như sau:
Thông tin là những tin tức mới, được thu nhận, được cảm thụ và được đánh giá
có ích cho việc đề ra quyết định hoặc giải quyết một nhiệm vụ quản lý nào đó.
1.2 - Đặc điểm của thông tin quản lý.
1.2.1- Thông tin tồn tại trong các vỏ vật chất.
Chúng ta hiểu thông tin với tư cách là đắc trưng biểu hiện của phương thức tồn
nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống chức năng của thông tin quản lý,đồng thời tổ
chức hợp lý các dòng tin phục vụ cho việc triển khai các hoạt động quản lý. Trong
thực hiện, thông tin quản lý thường được phân loại theo tiêu thức dưới đây :
1.3.1 Theo nguồn xuất xứ của thông tin , hoặc theo quan hệ của thống cho
trước ,thông tin chia thành hai loại : thông tin bên trong va thông tin bên ngoài .
1.3.1.1 thông tin bên trong :
Bao gồm các loại tài liệu, số liệu về tiến hành sản xuất, tiêu thụ ;giá thành , giá
cả, cung cấp nguyên vật liệu; tồn kho vật tư hàng hóa, chi phí lưu thông, bảng kế
toán,tài chính doanh nghiệp … nhờ chúng phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình hiện
tại của tổ chức. Thông tin bên trong dễ thu thập theo các kênh khác nhau giúp lãnh đạo
có thể đưa ra những quyết định tốt nhất trong các giai đoạn khác nhau.
1.3.1.2 thông tin bên ngoài :
theo tính chất gồm hai loại là các văn bản pháp quy: các chỉ thị, nghị quyết,
mệnh lệnh,các nghị định thông tư hướng dẫn ban hành đây là những thông tin pháp
luật có ảnh hưởng lớn đến sự hoạt động của tổ chức. Một loại khác là các tài liệu, số
liệu về chủng loại, số lượng quy cách, chất lượng giá cả, tị phần…của các đối thủ cạnh
tranh,của mộ trường bên ngoài, tiếp nhân từ nhiều nguồn khác nhau, có thể dùng các
mô hình nghiên cứu môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. ví dụ ma trân BCG. Mô
hình “năm lực lượng” của M. Porter.
1.3.2 - Theo chức năng thể hiện của thông tin.chia làm hai loại thông tin chỉ
đạo và thông tin thực hiện .
1.3.2.1 thông tin chỉ đạo : bao gồm những tài liệu mang các mệnh lệnh chỉ thị,
chủ trương, định hướng, quan điểm, nguyên tắc do cơ quan chỉ đạo đề ra, để hướng
dẫn cấp dưới thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đạt được xác định trong chiến lược,
quy hoặc kế hoạch. Nó có ảnh hưởng đến tương lai của đối tượng quản lý, hướng dẫn
đối tượng quản lý triển khai hoạt động theo quỹ đạo mà cơ quan chỉ đạo.
1.3.5.1 Thông tin chính thức: Bao gồm các tài liệu mang tài liệu mang những
thông tin có tính chỉ đạo, điều hành do các cơ quan cấp trên truyền đạt để hướng dẫn
cấp dưới thực hiện nhiệm vụ được giao.
1.3.5.2 Thông tin không chính thức : Bao gồm các tài liệu mang những thông
tin có tính gợi ý, tham khảo, tạo điều kiện cho cấp dưới sử dụng những giải pháp thích
hợp để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
1.3.6.2 Theo nội dung mà thông tin phản ánh.thông tin chia thành:
Thông tin về chủ chương chính sách của đảng và nhà nước;
Thông tin về môi trường quốc tế và khu vực ;
Thông tin về giá cả, thị trường, khách hàng, bạn hàng, đối thủ cạnh tranh;
Thông tin kinh tế ;
Thông tin phi kinh tế;
Ngoài ra thông tin còn được phận chia theo nhiều cách tiếp cận và các tiêu thức
khác không đề cập trong phạm vi nghiên cứu.
2. Quyết định .
2.1 khái niệm và đặc điểm
2.1.1 khái niệm
Quyết định quản lý là những hành vi sáng tạo của chủ thể quản lý nhằm định ra
mục tiêu, chương trình và tính chất hoạt động của tổ chức để giải quyết một vấn đề đã
chin muồi trê cơ sở hiểu biết các quy luật vận động khách quan và phân tích thông tin
về tổ chức và môi trường.
Mỗi quyết định quản lý nhằm trả lời một hoặc trong số các câu hỏi sau: Tổ chức
cần làm gì? Khi nào làm cái đó? Làm trong bao lâu? Ai làm? Và làm như thế nào?
2.1.2 Đặc điểm của quyết định quản lý:
Quyết định là sản phẩm của tư duy con người, là kết quả của quá trình thu nhận
thông tin, tìm kiếm, phân tích và lựa chọn. Mỗi con người với tư cách là thành viên
Quyết định có tính khoa học đòi hỏi phù hợp lý luận và thực tiễn khách
quan.Yêu cầu tính khoa học của quyết định quản lý được thể hiện trên các khía cạnh:
Quyết định phù hợp với định hướng và mục tiêu của tổ chức.
Quyết định phù hợp với quy luật, các xu thế khách quan, các nguyên tắc và
nguyên lý khoa học.
Quyết định đưa ra trên các cơ sở vận dụng các phương pháp khoa học.
Quyết định phù hợp điều kiện cụ thể, với tình huống cần đưa ra quyết định, kể
cả thế cà lực cũng như môi trường tổ chức.
2.2.3 Yêu cầu về tính hệ thống
Các quyết định được ban hành bởi các cấ và bộ phận chức năng nhưng phải
thống nhât theo cùng một hướng. Hướng đó do mục tiêu chung xác định.
Các quyết định được ban hành tại các thời điểm khác nhau không được mâu
thuẫn, trái ngược và phủ định nhau,quyết định đã hể hiệu lực cần loại bỏ , đính chính.
2.2.4 Yêu cầu về tính tối ưu.
Quyết định thực chất là một phương án hành động nhằm giải quyết một vấn đề
nảy sinh trong quá trình hoạt động của tổ chức.vì vậy đòi hỏi phải thực hiện phương án
tối ưu. Theo nghĩa tổng quát thì phương án tối ưu là phương án thỏa mãn tốt nhất mục
đích, mục tiêu với những ràng buộc nhất định của tổ chức.
2.2.5 Yêu cầu về tính linh hoạt.
Phải phản ánh được mọi nhân tố mới trong lực chọn quyết định,phản ánh tính
thời đại , môi trường mà quyết định ra đời và thực hiện.đòi hỏi việc xử lý tình huống
phải linh hoạt, khéo léo tránh rập khuôn , máy móc, giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa.
Phương án quyết đinh đáp ứng được với sự biến đổi của môi trường.
2.3 Phân loại .
Các loại quyết đinh quản lý được phân ra thành nhiều loại khác nhâu tùy theo
tiêu thức phân chia. Thông thường chia các quyết định theo các tiêu thức sau:
Quyết định cấp thấp do quyết định cấp quản lý chức năng đưa ra mang tính chất
tác nghiệp.
2.3.6 Theo lĩnh vực hoạt động của tổ chức
Quyết đinh quản lý nhân sự.
Quyết đinh quản lý tài chính
Quyết đinh quản lý công nghệ, nghiên cứu và triển khai.
Quyết đinh quản lý sản xuất.
Quyết đinh quản lý hoạt động marketing.
Quyết đinh quản lý hoạt động đối ngoại.
3. Mối quan hệ thông tin và quyết định quản lý.
Thông tin là đối tượng,công cụ của nhà quản lý.Trong các đơn vị sản xuất nhỏ,
cá thể, việc chỉ đạo thực hiện các hoạt động sản xuất do bản thân người sản xuất tiến
hành. Đối với họ thông tin chủ yếu là trí nhớ, với các tổ chức, công ty lớn, phức tạp
bao gồm nhiều phân hệ, bao gồm nhiều bộ phận, hay kinh doanh đa lĩnh vực, các bộ
phận có mối liên kết ràng buộc với nhau, cần phải xây dựng hệ thống thông tin thật tốt
để đảm bảo thông tin cho việc ra quyết định của nhà quản lý .
3.1 Thông tin là cơ sở của việc lập kế hoạch.
Lập kế hoạch là khâu đầu tiên va cũng là khâu quan trọng nhất của quá trình
quản lý. Các kế hoạch bản thân chúng là một hệ thống bao gồm các chiến lược, quy
hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn, kế hoạch hàng năm, chương trình, dự án. Khi lập
các kế hoạch này nhà quản lý tiến hành phân tích, tính toán dựa trên các nguồn thông
tin về nhân lực, vật lực, tài lực, mối quan hệ tối ưu giữa chúng, tạo lập lên những điểm
mạnh, yếu của tổ chức để thích nghi với sự biến động của môi trường. Dựa trên những
đánh giá từ môi trường bên trong và bên ngoài một phương hướng quan trọng của quá
trình lập kế hoạch là sự tăng cường dự báo. Mà để tiến hành dự báo cần sử dụng các
tài liệu, số liệu quá khứ, vừa phải dựa vào các kết quả phâ tích tình hình hiện tại trên
1.2 Bản chất của hệ thống thông tin quản lý.(Management Information
System)
Hệ thống thông tin quản lý là hệ thống thông tin được xây dựng nhằm trợ giúp
cho các hoạt động quản lý của tổ chức có thể tiến hành một cách bình thường và hữu
Nguồn
Đích
Thu thập
Phân phát
Xử lý
Lưu trữ
Kho
Dữ liệu
hiệu. Hoạt động quản lý nói ở đây là cụ thể và xác định , chủ yếu ử tầm cỡ điều hành
quản lý và lập kế hoạch chiến lược của tổ chức.
Hoạt động quản lý được tiến hành dựa vào các cơ sở dữ liệu do các hệ xử lý
giao dịch tạo ra và các dữ liệu ngoài tổ chức, để tạo ta cho nhà quản lý các báo cáo
định kỳ hoặc theo nhu cầu, trong đó tóm lược tình hình một mặt hoạt động riêng biệt
nào đó của tổ chức. các báo cáo này thường mang tính chất đối chiếu, so sánh, làm
tương phản tình hình hiện tại với tình hình đã được dự kiến trước, tình hình hiện tại
với dự báo, các dữ liệu hiện thời của các doanh nghiệp trong cùng một ngành công
nghiệp, dữ liệu hiện thời và dữ liệu lịch sử, chất lượng thông tin do hệ thống thông tin
quản lý tạo ra phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng vận hành của hệ giao dịch, vì rằng hệ
thống thông tin quản lý dựa chủ yếu vào các dữ liệu sản sinh từ các xử lý giao dịch.
Hệ thống thông tin quản lý gồm có các hệ thống phân tích năng lực bản thân,
do ở mỗi khâu quản lý có phạm vi hoạt động nhất định và chỉ cần những thông tin có
liên quan đến chức năng và nhiệm vụ quyền hạn đã được quy định. Xác định nhu cầu
thông tin của các cấp, các khâu quản lý là một sự cần thiết khách quan, đòi hỏi hệ
thống thông tin phải chọn lọc những thông tin thiết yếu cho từng cấp , từng khâu quản
lý, tránh tình trạng các nhà quản lý phải làm việc trong điều kiện quá tải thông tin.
Đồng thời ở các khâu việc cung cấp truyền tin nhanh chóng kịp thời , đầy đủ thông tin.
2.2 Xác định nguồn thông tin.
2.2.1 Thông tin của nhà nước và của cấp trên
Mọi tổ chức trong một quốc gia đều phải chịu sự quản lý của nhà nước. Những
thông tin của nhà nứoc và của cấp trên là những thông tin chỉ đạo, hướng dẫn và định
hướng, quan trọng. Bất kỳ một tổ chức nào cũng cần phải tổ chức lưu trữ tốt để có thể
sử dụng thường nhật.
2.2.2 Thông tin về khách hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng là “thượng đế”.Doanh nghiệp cần đi
sâu, theo dõi diễn biến nhu cầu, tâm lý trên thị trường.Tổ chức thu thập, xử lý, lưu trữ
và khai thác thông tin đây là giải pháp rất cơ bản để mở rộng kinh doanh, tăng thị phần
của doanh nghiệp bám sát thị trường mục tiêu.
2.2.3 thông tin về các nhà cung cấp.
Doanh nghiệp cần được cung cấp đầy đủ, đều đặn, đúng ký hạn các đầu vào thì
mới có thể tiến hành hoạt động bình thường và thu được kết quả mong muốn . Dựa
vào thông tin của các nhà cung cấp, doanh nghiệp sẽ có căn cứ xác định chiến lược
phát triển kiểm soát chi phí và chất lượng sản phẩm trên cơ sở tìm kiếm các nhà cung
cấp sản phẩm chất lượng đảm bảo, giá thành hạ,đủ số lượng đáp ứng nhu cầu của
doanh nghiệp mình.
2.3 Xác định nơi nhận thông tin quyết định
Sau khi tiến hành xử lý thông tin , thông tin đầu ra sẽ được truyền đạt đến
Trong 10 năm qua,ngành dệt may có những bước tiến vượt bậc,trở thành ngành xuất
khẩu quan trọng với kim ngạch luôn đứng thứ hai sau dầu thô. Đa phần các doanh
nghiệp may đều hướng tới thị trường xuất khẩu chưa quan tâm thích đáng tới thị
trường trong nước. Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu việc hoàn thiện xây dựng hệ thống
thông tin để việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp may hiệu quả và gia tăng
giá trị nhiều hơn nữa.
Hiện nay có gần 2.000 doanh nghiệp, sử dụng khoảng 2,0 triệu lao động . Kim
ngạch xuất khẩu năm 2006 ước đạt 5,8 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2005 và chiếm
15.0% giá trị xuất khẩu cả nước. Như vậy chứng tỏ được vị trí ngày càng quan trọng
của ngành may. Yêu cầu cần có hệ thống thông tin quản lý giúp cho các doanh nghiệp.
Hệ thống thông tin giúp cho việc quản lý dễ dàng, hiệu quả hơn và đặc biệt trong điều
kiện nền kinh tế hội nhập WTO với nhiều thách thức mới, cần có thông tin nhanh
chóng, chính xác và đánh giá những cơ hội thách thức. Không những đối với các
doanh nghiệp may mà còn đối với hiệp hội các doanh nghiệp may Việt Nam.
3.1 Những điểm mạnh và khó khăn và yêu cầu cần có hệ thống thông tin .
3.1.1 Những điểm mạnh
Lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, dễ đào tạo, kỹ năng và tay nghề
may tốt. Thiết bị ngành may đã được đổi mới và hiện đại hóa đến 80% và về cơ bản đã
đáp ứng được yêu cầu của các nhà nhập khẩu. Đã xây dựng được mối quan hệ bền
vững với nhiều tập đoàn tiêu thụ lớn trên thế giới. Việt Nam được đánh giá là điểm
đến hấp dẫn, ổn định, an toàn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
3.1.2 Những điểm yếu;
kỹ năng quản lý sản xuất và quản lý kỹ thuật còn yếu, mặt hàng còn thủ
công,chưa đa dạng về chủng loại.
Năng lực tiếp thị còn hạn chế. Phần lớn các doanh nghiệp may chưa xây dựng
thương hiêu của mình, chưa vươn xa, còn thiếu tầm nhìn dài hạn.
Trung quốc, quốc gia láng giềng Việt Nam, là một quốc gia xuất khẩu hàng dệt
may lớn nhất thế giới. có nhiều lợi thế cạnh tranh đối với các doanh nghiệp may Việt
Nam.
3.3 Nhu cầu thông tin ở các cấp, các khâu quản lý của doanh nghiệp.
Nền kinh tế quốc dân chuyển mình hày ngày, hàng giờ nói chung các doanh
nghiệp may vẫn chưa xây dựng được hệ thống thông tin đảm bảo cho các cấp quản lý.
Các cấp khác nhau cần nhận được thông tin phù hợp với nhiệm vụ của mình. Các nhà
quản lý cấp chóp bu phải nhận được thông tin mang tính xử lý ở chiến lược cấp tổ
chức, đó là những thông tin về điểm mạnh, điểm điểm yếu của doanh nghiệp, về cơ hội
thách thức của môi trường bên ngoài. Các cấp khác nhau nhận những thông tin phù
hợp với mình, đây là câu hỏi yêu cầu các nhà xây dựng hệ thống thông tin cần chú ý
nghiên cứu bởi thông tin thị nhiều mà thời gian thì có hạn cần phải xử dụng đúng.
Cung cấp đúng nguồn tin cho các đối tượng.
3.4 Xác định nguồn thông tin.
Các thông tin ngày nay đặc biệt quan trọng, thời đại của thông tin, nguồn thông
tin cần chính xác , rõ ràng: trong đó đối với các doanh nghiệp may thì ba nguồn thông
tin sau là quan trọng nhất.
Thứ nhất :đó là thông tin từ phía nhà nước, đây là thông tin từ những chính sách của
nhà nước, những quy định về thuế, về phát triển ngành dệt may, về ưu tiên khuyến
khích.ví dụ như chính phủ có quyết định phê duyệt chiến lược phát triển ngành dệt
may Việt Nam đến năm 2010, chiến lược này sẽ là những tiền đề quan trọng cho các
doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
Thứ hai: Thông tin từ phía khách hàng, khách hàng là nguồn thu sống còn của doanh
nghiệp, luôn quan tâm khách hàng, quan tâm thị trường là nhiệm vụ quan trọng của
doanh nghiệp. Thực trạng đó là thị trường tiêu dùng hàng dệt may trong nước còn bỏ
ngỏ. Thật là đáng tiếc, trong những năm gần đây mốt số doanh nghiệp đã chú trọng
III, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN CHO CÁC DOANH
NGHIỆP MAY VIỆT NAM.
Để có các doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả hơn thì một việc quan trọng
đối với các doanh nghiệp đó là cần nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện, nâng cao
hiệu quả sử dụng hệ thống thông tin của doanh nghiệp , xem đây là một việc làm hết
sức cấp bách và tối quan trọng .
1.Về phía các doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp chưa có hệ thống thông tin cần xây dựng ngay hệ
thống thông tin cho doanh nghiệp của mình, còn đối với các doanh nghiệp đã có thì
phải hoàn thiện nâng cao hiệu quả việc sử dụng hệ thống thông tin trong việc ra quyết
định doanh nghiệp. Hiểu được bản chất của hệ thống thông tin trong nghiệp từ đó nhận
thấy được sự cần thiết phải trú trọng hoàn thiện hệ thống thông tin cho doanh nghiệp.
Xây dựng về phần cứng, phần mềm đảm bảo nhân sự cho hệ thống thông tin có thể
vận hành một cách thuận tiện. Đảm bảo các yếu tố này đủ về số lượng, đủ chất lượng
thực hiện đuợc các chức năng đảm nhiệm, đặc biệt nhân sự trong hệ thống thông tin
cần có kiến thức chuyên môn, có kinh nghiệm và đặc biệt trung thành với doanh
nghiệp. Yêu cầu cần có sự đầu tư thích đáng, bới chinh nó là cơ sở cho doanh nghiệp
những chiến lược, những quyết định sống còn của doanh nghiệp.
Những thông tin mà hệ thống thông tin thu thập xử lý cho kết quả là nguồn tài
sản quý báu của doanh nghiệp, khi mà nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển, khi mà
thị trường luôn luôn biến động thì các câu hỏi về thông tin càng phải trú trọng. Trong
hệ thống thông tin ở các doanh nghiệp may hiện nay chúng ta cần xem xét thị trường
thật kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào hoạt động sản xuất. Các doanh nghiệp phải tạo ra
sự chủ động cho chính doanh nghiệp của mình trong việc tìm khách hàng cũng như
chủ động đàm phán với khách hàng về mẫu mã, về giá sản phẩm cũng như thời hạn
giao hàng. Để có thể nâng cao hiệu quả cũng như giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp
phải đối măt với cạnh tranh khốc liệt từ các nước xuất khẩu hàng dệt may nhất là
Trung quốc để nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may nước ta trên thị trường quốc
tế, nhà nước cần giúp sức về tạo lập các giải pháp về thông tin cũng như đưa ra tác
động tới các doanh nghiệp.Cần thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ từ hạ giá thành sản
xuất, đa dạnh hóa kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm cho tới liên kết hợp tác trong nhành ,
xây dựng thương hiệu, hình thành những trung tâm giao dịch, tập trung vào thị trường
mà nước ta có thể mạnh, trong đó cần trú trọng tới các thị trường ngành.
Giải pháp hỗ trợ về thông tin cho các doanh nghiệp ở tầm vĩ mô như :
Nghiên cứu thành lập các văn phòng đại diện các trung tâm thương mại ở các
thị trường tiềm năng, nhất là Mỹ, EU, Nhật bản…để giúp các doanh nghiệp trong việc
nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, tiếp thị sản phẩm, triển lãm, quảng
cáo nhãn hiệu.
Nhà nước thông tin nhiều hơn nữa khuyến khích các doanh nghiệp chú trọng
vấn đề thông tin : thông tin thành một hệ thống và thường xuyên cập nhập và truyền
thông những thay đổi khi xuất hiện nhũng thông tin mới. Đó là những quy đinh đặc thù
liên quan đến nhập khẩu hàng dệt may của các thị trường lớn như Mỹ , EU , Nhật Bản
như các quy định về tính thuế hải quan, vấn đề thực hiện Luật chống bán phá giá, cách
tính thuế xuất nhập khẩu, tiêu chuản về lao động, vấn đề sở hữu công nghiệp… Và
đồng thời do nước ta đã là thành viên WTO nên Nhà nước cần xóa bỏ những loại trợ
cấp như trợ cấp xuất khẩu, trợ cấp thay thế nhập khẩu, cho vay và cấp tín dụng ưu đãi
xuất khẩu. trong những năm vừa qua việc thiếu nguyên liệu trong nước là một trong
nhũng nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu quả kinh doanh các doanh nghiệp dệt may
không cao. Do vật xây dựng và phát triển cơ sở nguyên liệu trong nước là một vấn đề
cấp thiết. Cần có quy hoạch cụ thể phát triển nguyên nguyên liệu, nhất là phát triển cây
bông cây dâu tằm, sợi tổng hợp và các loại hóa chất, thuốc nhuộm, phát triển các loại
phụ liệu…
Danh mục tài liệu tham khảo:
1. Khoa khoa học quản lý – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình
khoa học quản lý tập I , NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội –
2004.
2. Khoa khoa học quản lý – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình
Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB Lao động – Xã hội – 2005.
3. Thông tin kinh tế với việc quản lý nền kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay. Ts Đường Vinh Sường. NXB thống kê.
4. Quản trị thông tin tinh giảm. NXB thống kê – 1995