Học viện tài chính Khoa tài chính công
Lời nói đầu
Ban Mai báo hiệu những tia sáng ,cũng nh hoàng hôn sẽ đa đên
bóng đêm,con ngời sinh ra rồi chết đi vv Đó là tất cả những điều khách
quan mà hành tinh nay ban tặng cho thế giới này. Theo vòng quay của
đất trời, khi mùa đông qua đi là mùa xuân lại tới muôn loài lại thêm một
tuổi. Con ngời cũng vậy, cái vòng Sinh-Lão-Bệnh-Tử dù muốn hay không
cũng phải trải qua. Cũng vì vậy mà con ngời luôn luôn tồn tại và phát
triển, có ngời sinh ra và cũng có ngời chết đi, không ai có thể xoá bỏ quy
luật Sinh-Tử muôn đời của tự nhiên. Có thể nói: Bảo hiểm xã hội
(BHXH) là ngời bạn ''tơng trợ'' theo suốt cuộc đời (sinh, lão, bệnh, tử)
của ngời lao động, từ lúc còn trong bụng mẹ đợc hởng chế độ trợ cấp thai
sản, đến khi trởng thành là ngời lao động đợc hởng trợ cấp khi ốm đau,
tai nạn, thất nghiệp, lúc tuổi già đợc hởng trợ cấp hu trí và đến khi qua
đời đợc BHXH lo toan chu đáo tiền mai táng phí, tiền tử tuất. BHXH-
chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc với bản chất nhân văn sâu sắc vì
cuộc sống an lành, ấm no, tự do và hạnh phúc của con ngời. Từ đó góp
phần thực hiện mục đích phục vụ cuộc sống con ngời, vì dân sinh hạnh
phúc, vì dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh.
ở Việt Nam, chính sách BHXH đã đợc thực hiện từ đầu những năm 60
của thế kỷ 20. Cùng với hệ thống chính sách xã hội và phúc lợi xã hội
khác, chính sách BHXH đã góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời sống
ngời lao động và gia đình họ.
Bớc sang thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trờng theo định
hớng xã hội chủ nghĩa, một loạt các văn bản của BHXH đợc ban hành
đặc biệt là Nghị định 12/CP (26/1/1995), Nghị định 45/CP (15/7/1995),
Nghị định 19/CP (16/2/1995).
Nớc ta từ khi triển khai điều lệ BHXH theo Bộ luật lao động, đợc sự chỉ
đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, hệ thống BHXH đã nhanh chóng
xây dựng, tổ chức, bộ máy, thực hiện đúng các chế độ, chính sách đối với
- 2 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
Chơng 1
Lý luận chung về bảo hiểm xã hội
và công tác chi trả BHXH
1.1Sự cần thiết khách quan của BHXH trong đời sống kinh tế
xã hội.
Con ngời muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải đợc thoả mãn
những nhu cầu ăn, mặc, ở Những điều kiện trên không có sẵn trong tự
nhiên mà để có đợc nó, ngời ta lao động tạo ra sản phẩm cần thiết. Và
khi sản phẩm tạo ra càng nhiều thì đời sống con ngời ngày càng hoàn
thiện và xã hội văn minh hơn. Nhng trong thực tế, cuộc sống của con ng-
ời không phải lúc nào cũng đủ sức khoẻ và cơ hội lao động để tạo ra thu
nhập và có điều kiện sống bình thờng vì rất nhiều trờng hợp gặp phải
hoàn cảnh khó khăn, bất lợi làm giảm hoặc mất nguồn thu nhập ảnh hởng
đến điều kiện sinh sống do bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất khả năng lao
động và khi về già không còn khả năng lao động. Trong khi đó con ngời
luôn luôn cần phải có những nhu cầu sinh hoạt về mặt vật chất và tinh
thần. Vì vậy, mỗi ngời lao động cần thiết phải có một nguồn lực tài chính
dự trữ để kịp thời cung cấp đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần
không những cho bản thân mình mà cho cả những ngời mình phải trực
tiếp nuôi dỡng và cho những ngời gặp phải những biến cố rủi ro (kể cả
ngẫu nhiên và tất yếu) để bù đắp vào sự thiếu hụt thu nhập do khả năng
lao động bị giảm sút, nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, duy trì
và ổn định cuộc sống cho chính họ và gia đình họ.
Xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của con ngời ngày càng đợc
nâng cao thì cách giải quyết này càng đợc sửa đổi, bổ sung hợp lý và nó
ngày càng phát triển theo không gian, nội dung cũng nh phơng thức thực
hiện. Dần dần cách giải quyết chung nhất mà cho đến bây giờ vẫn đợc sử
động khi họ gặp khó khăn trong cuộc sống, từ đó góp phần ổn định môi
trờng lao động, ổn định xã hội, nâng cao trách nhiệm của ngời lao động,
nâng cao năng suất lao động.
- Đối với Nhà nớc: BHXH là công cụ quan trọng giúp Nhà nớc thực
hiện chức năng xã hội đợc tốt hơn nhằm đạt tới mục tiêu công bằng và
tiến bộ xã hội: Thông qua các quy định về BHXH đối với ngời lao động
và ngời sử dụng lao động, Nhà nớc thực hiện việc điều tiết lợi ích, quyền
lợi của các bên. Nói cách khác, Nhà nớc sử dụng pháp luật để can thiệp
vào mối quan hệ chủ- thợ, đảm bảo những quyền lợi xã hội cho ngời lao
động tạo sự công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân,
phân phối lại thu nhập, từ đó phát huy tốt nhân tố con ngời, kết hợp tốt
giữa tăng trởng kinh tế và tiến bộ xã hội.
BHXH không những trợ giúp đắc lực cho Nhà nớc phân phối lại thu
nhập, điều tiết lợi ích các bên, mà BHXH còn là kênh huy động vốn có
hiệu quả cung cấp nguồn tiền tệ lớn cho việc đầu t phát triển đối với nền
kinh tế và cũng chính điều này là sự đảm bảo cho quỹ BHXH đợc bảo
toàn và phát triển tránh sự trợt giá của đồng tiền theo thời gian.
Chúng ta có thể chắc chắn một điều rằng: Sự tồn tại của BHXH là
một tất yếu khách quan ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới trong điều
kiện kinh tế xã hội hiện nay. Điều này đợc pháp luật nhiều nớc công nhận
và đã trở thành một trong những quyền con ngời đợc ghi nhận trong
tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948: '' Tất cả mọi ngời với t cách là
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 4 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
thành viên của xã hội đều có quyền hởng BHXH. Quyền đó đợc đặt trên
cơ sở quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và tự do
phát triển của con ngời''. Đồng thời, ở cấp độ chung nhất, mối quan hệ
giữa phát triển kinh tế và BHXH đã đợc Đảng ta xác định:'' Tăng trởng
luật thứ 2 về BHXH, áp dụng chủ yếu cho ngành công nghiệp và thơng
mại. Sau đó, bắt đầu những thập kỷ 30 thế kỷ XX, liên tiếp các nớc Mỹ la
tinh, Hoa kỳ, Canađa đều áp dụng. Từ sau thế chiến thứ 2, tầm quan
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 5 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
trọng của BHXH tiếp tục đợc nhiều nớc Châu Phi, Châu á và vùng
Caribe công nhận và thi hành.
Để bình ổn xã hội, giúp ngời lao động yên tâm sản xuất và đáp ứng
những nguyện vọng sâu sắc nhất, chung nhất của nhân dân toàn thế giới.
Ngày 28/6/1952 Hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO)
đã thông qua công ớc số 102 về an toàn xã hội trong đó có BHXH là cơ
chế chủ yếu, giúp các nớc định hớng trong việc xây dựng hệ thống
BHXH với 9 chế độ BHXH.
BHXH, từ khi ra đời cho đến nay, nó luôn đợc hoàn thiện và chứng
tỏ sự phù hợp với xã hội đơng thời thông qua sự vận động hài hoà các
mối quan hệ giữa 3 bên: ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà n-
ớc. Qua thực tế và lý luận cho thấy BHXH có những tác dụng rất to lớn
giúp giải quyết tốt mâu thuẫn giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao
động ổn định trật tự và trợ giúp phát triển xã hội.
1.3. Những nội dung cơ bản về BHXH.
1.3.1. Bản chất, chức năng và nhiệm vụ của BHXH.
1.3.1.1. Bản chất của BHXH.
* Bản chất kinh tế của BHXH.
Thông qua BHXH, ngời lao động chỉ cần đóng hàng tháng một tỷ lệ
nhỏ phần trăm so với tiền lơng của mình cùng với sự hỗ trợ của Ngân
sách Nhà nớc để tạo ra một quỹ BHXH, quỹ này là sự tập hợp của số
đông ngời lao động tham gia BHXH để bù đắp cho số ít ngời tham gia bị
rủi ro. Khi rủi ro xảy ra, bằng hình thức lấy số đông bù số ít ngời bị rủi ro
động hoặc mất việc làm, từ đó đảm bảo ổn định đời sống- kinh tế cho
ngời lao động và gia đình họ theo những điều kiện nhất định.
Suy cho cùng, sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ
xảy ra vì: mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi ngời lao động khi
hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định của BHXH; Còn mất việc
làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, ng-
ời lao động cũng sẽ đợc hởng trợ cấp BHXH với mức hởng phụ thuộc vào
các điều kiện cần thiết, thời hạn và thời điểm đợc hởng phải đúng qui
định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ
tính chất và cả cơ chế tổ chức, hoạt động của BHXH.
- Thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngời lao
động tham gia BHXH.
Chức năng này đợc thể hiện rõ nét và đợc thực hiện thông qua quá
trình lập và sử dụng quỹ BHXH. Quỹ BHXH do ngời lao động và ngời sử
dụng lao động đóng góp cùng với sự hỗ trợ của Nhà nớc với mục đích
trang trải khó khăn cho ngời lao động. Về nguyên tắc, ngời lao động có
quyền đợc hởng trợ cấp BHXH, nhng phải lu ý đến những điểm sau:
+ Phân phối trong BHXH là phân phối không đều, nghĩa là không
phải ai tham gia BHXH cũng đợc phân phối với số tiền giống nhau mà
mức hởng và thời hạn hởng còn phải phụ thuộc vào những điều kiện khác
nhau.
+ Phân phối trong BHXH vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang
tính bồi hoàn. Những biến cố xảy ra mang tính tất nhiên đối với con ngời
là thai sản (đối với lao động nữ), tuổi già và chết, trong trờng hợp này,
BHXH phân phối mang tính bồi hoàn vì ngời lao động đóng BHXH chắc
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 7 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
chắn đợc hởng khoản trợ cấp đó. Còn trợ cấp do những biến cố làm giảm
Trong thực tế lao động sản xuất, ngời lao động và ngời sử dụng lao
động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lơng, tiền công,
thời gian lao động Khi nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển, việc
thuê mớn nhân công trở lên phổ biến. Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả
công lao động, nhng về sau dã phải cam kết cả việc bảo đảm cho ngời
làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu
thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản Cũng có khi các
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 8 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
trờng hợp trên không xảy ra và ngời chủ không phải chi một đồng nào;
Nhng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc một khoản
tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới
thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu
tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời
sống kinh tế xã hội. Do đó, Nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp giải quyết
và điều hoà những mâu thuẫn đó thông qua BHXH, và nh thế cả hai bên
đều cảm thấy mình có lợi và đợc bảo vệ, từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn
và gắn bó lợi ích đợc với nhau. Bằng phơng thức dàn trải rủi ro thiệt hại
theo cả thời gian và không gian, BHXH đã giảm tối thiểu thiệt hại cho số
đông ngời trong xã hội, đồng thời làm tăng khả năng giải quyết rủi ro,
khó khăn của những ngời lao động tham gia bảo hiểm với một tổng dự
trữ ít nhất, nhng vẫn giải quyết tốt nhất những rủi ro, khó khăn về đời
sống và gia đình họ nhờ cả sự hỗ trợ thêm của Nhà nớc và trách nhiệm
của ngời sử dụng lao động. Với ngời sử dụng lao động, trách nhiệm của
họ đối với ngời lao động cũng vì thế mà đợc giải quyết một cách thuận
lợi nhất, có lợi cho cả hai bên. Với Nhà nớc, quỹ BHXH là nguồn vốn lớn
cung cấp cho đầu t phát triển kinh tế đất nớc, đồng thời qua đó cũng làm
tăng thêm nguồn thu cho quỹ. Từ đó, nó giúp việc chi trả cho ngời lao
cho sự phát triển xã hội và điều đó cũng phù hợp với xu hớng xã hội hoá
BHXH của thế giới.
- Tổ chức tốt mọi hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội.
Để thực hiện nhiệm vụ này, BHXH cần thực hiện các công việc nh:
chỉ đạo, kiểm tra và giám sát việc thu chi quản lý quỹ; quyết định các
biện pháp để bảo tồn và tăng trởng quỹ BHXH; thẩm tra và quyết toán
thông qua dự toán hàng năm; kiến nghị với Chính phủ và cơ quan Nhà n-
ớc có liên quan bổ sung, sửa đổi tạo sự phù hợp về chính sách BHXH; đề
xuất, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý của các đơn vị BHXH các
cấp. Ngoài ra, còn phải hớng dẫn, chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế
độ BHXH thống nhất trong toàn quốc, toàn bộ hệ thống BHXH.
1.3.2. Quỹ Bảo hiểm xã hội.
1.3.2.1. Nguồn hình thành quỹ BHXH:
BHXH đợc thực hiện sẽ hình thành nên quỹ BHXH- là một quỹ tài
chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nớc. Đây là một trong
những yếu tố quan trọng bậc nhất trong toàn bộ quy trình thực hiện chính
sách BHXH. Theo quy định của điều lệ BHXH ban hành theo Nghị định
12/CP ngày 26/1/1995 thì quỹ BHXH đợc hình thành từ các nguồn sau:
* Sự đóng góp của ngời lao động và chủ sử dụng lao động:
- Ngời sử dụng lao động đóng 15% so với tổng quỹ tiền lơng của
những ngời tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó, 10% để chi các chế
độ hu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp.
- Ngời lao động đóng bằng 5% tiền lơng tháng để chi trả các chế độ
hu trí, tử tuất.
* Nhà nớc đóng và hỗ trợ: Để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH
đối với ngời lao động, hàng tháng, Bộ Tài chính trích từ ngân sách Nhà
nớc số tiền bổ sung vào quỹ BHXH đủ chi trả các khoản thuộc về BHXH
nh sau:
- Chi trả các chế độ hu trí, trợ cấp mất sức lao động, tai nạn lao
BHXH. ở Việt nam thực hiện chi cho 5 chế độ:
- Chế độ trợ cấp ốm đau
- Chế độ trợ cấp thai sản:
- Chế độ trợ cấp TNLĐ- BNN :
- Chế độ hu trí :
- Chế độ tử tuất
b- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 11 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
Kinh phí chi hoạt động bộ máy của hệ thống BHXH Việt nam là
khoản kinh phí dùng để chi cho toàn bộ hoạt động quản lý của hệ
thống BHXH VN. Chi phí hoạt động quản lý của hệ thống BHXH VN
gồm rất nhiều nội dung chi nhng xét theo tính chất và chu kỳ chi phí,
có thể chia thành 2 nhóm nội dung chi, đó là chi hoạt động quản lý th-
ờng xuyên và chi đầu t cơ sở vật chất.
* Chi hoạt động thờng xuyên: Đó là những chi phí nhằm duy trì hoạt
động quản lý thờng xuyên của bộ máy quản lý BHXH. Công tác quản lý
chi hoạt động thờng xuyên của hệ thống BHXH Việt nam tập trung vào
một số nội dung cụ thể, đó là:
- Quản lý lao động (cán bộ, công chức, viên chức) và quỹ tiền lơng đối
với từng đơn vị dự toán cấp 2 và cấp 3.
- Quản lý chi hoạt động nghiệp vụ: Chi phí cho công tác thu BHXH, chi
cho công tác chi BHXH, hội nghị, tiếp khách, chi văn phòng phẩm, điện,
nớc, điện thoại, sửa chữa nhỏ, mua sắm tài sản
- Quản lý kinh phí đào tạo, đào tạo lại cán bộ, công chức, viên chức: đối
tợng đi đào tạo lại, nội dung đào tạo, kinh phí chi cho từng đối tợng, từng
lớp đào tạo
- Quản lý chi thông tin, tuyên truyền về chính sách, chế độ BHXH.
giao.
Để thực hiện nhiệm vụ chi trả và trợ cấp BHXH cho đối tợng hởng
các chế độ BHXH ở nớc ta đã áp dụng 2 mô hình chủ yếu là: Mô hình
chi trả gián tiếp và mô hình chi trả trực tiếp.
a. Mô hình chi trả gián tiếp
Mô hình chi trả gián tiếp là mô hình chi trả cho các đối tợng hởng
các chế độ BHXH đợc thực hiện bởi sự uỷ quyền của cơ quan BHXH các
cấp cho các đơn vị sử dụng lao động hoặc các đại điện pháp nhân thuộc
Uỷ ban nhân dân các phờng, xã chi trả hộ (các đại lý chi trả).
b. Mô hình chi trả trực tiếp
Mô hình chi trả trực tiếp là là hình thức chi trả cho các đối tợng h-
ởng các chế độ BHXH đợc thực hiện trực tiếp do cán bộ, công chức, viên
chức của hệ thống Bảo hiểm xã hội chi trả hay nói một cách khác: Mô
hình chi trả trực tiếp là hình thức chi trả cho ngời đợc hởng các chế độ
BHXH không thông qua khâu trung gian.
1.3.3.2. Tổ chức thực hiện
Về công tác tổ chức thực hiện các mô hình chi trả BHXH đợc thực hiện
nh sau:
Mô hình chi trả gián tiếp thực hiện thông qua ký hợp đồng uỷ
thác giữa cơ quan BHXH huyện với đại lý chi trả ở xã, thị trấn và chi trả
cho các đối tợng ốm đau, thai sản thông qua đơn vị sử dụng lao động.
Về cơ bản, hình thức chi trả này đợc thực hiện nh sau: Cơ quan Bhxh
cấp quận, huyện, thị xã ký hợp đồng trách nhiệm với một số cá nhân
thuộc xã, phờng, thị trấn để hình thành đại lý chi trả (những cá nhân này
thờng là những ngời đang hởng chế độ BHXH, có trách nhiệm, có uy tín,
ở địa phơng và đợc Uỷ ban nhân dân xã, phờng, thị trấn giới thiệu). Hàng
tháng đại lý chi trả nhận danh sách đối tợng và tiền từ cơ quan BHXH
cấp quận, huyện, thị xã, hoặc nhận tay ba tại Kho bạc Nhà nớc, để tiến
hành chi trả, sau mỗi kỳ chi trả, đại lý chi trả có trách nhiệm thanh, quyết
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 14 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
Chơng 2
Thực trạng công tác chi trả các chế độ BHXH ở Việt
Nam hiện nay
2.1. Vài nét về chính sách BHXH ở Việt Nam
2.1.1. Trớc năm 1995
BHXH theo nghĩa hiện đại xuất hiện từ những năm 1930, đó là các
chế độ trợ cấp do chính quyền của thực dân Pháp thực hiện đối với công
chức và quân nhân Việt nam hởng lơng phục vụ trong bộ máy hành chính
và lực lợng vũ trang của Pháp ở Đông Dơng bị ốm đau, tuổi già hoặc
chết.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nớc Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà ra đời, Đảng và Chính phủ đã sớm thông qua Sắc lệnh
54/SL ngày 1/11/1945 ấn định những điều kiện cho công chức để họ yên
tâm với việc chăm sóc, cải thiện đời sống cho ngời lao động. Vì vậy,
Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về BHXH nh:
- Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 ấn định việc cấp hu bổng cho công
chức.
- Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ấn định cụ thể về chế độ trợ cấp hu
trí, thai sản, chăm sóc y tế, thất nghiệp và tiền tuất đối với công chức.
- Trong khu vực sản xuất lúc này cha lập quỹ BHXH nhng Sắc lệnh
29/SL ngày 12/3/1947 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 đã ấn định cụ
thể các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, TNLĐ- BNN, mất sức lao động,
hu trí và tử tuất đối với công nhân. Tuy nhiên, tất cả các chế độ có tính
chất BHXH đã ban hành và thực hiện trong thời gian này cha đợc xây
dựng trên nguyên tắc thống nhất.
Sau hoà bình lập lại ở Miền Bắc, ngày 27/12/1961 Hội đồng
Chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH
đối với công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP và đợc thi
6/- Chế độ tử tuất
* Mục đích chi trả: Chi trả cho 6 chế độ và chi phí về công tác
quản lý quỹ BHXH và quản lý sự nghiệp BHXH. Quỹ BHXH Nhà nớc đ-
ợc Đảng và Chính phủ giao cho Tổng Công đoàn Việt nam quản lý cùng
với trách nhiệm quản lý toàn bộ sự nghiệp BHXH. Quỹ BHXH Nhà nớc
không kết d. Nếu quản lý tốt mà hàng năm còn thừa tiền thì đợc dùng số
tiền thừa đó chi vào việc xây dựng thêm các sự nghiệp BHXH.
- Trợ cấp khi công nhân viên chức Nhà nớc ốm đau: CNVC Nhà nớc
khi ốm đau đợc khám bệnh, thuốc men và bồi dỡng do Nhà nớc đài thọ.
- Trợ cấp khi CNVC Nhà nớc sinh đẻ, sẩy thai, mất sữa: Nữ công nhân
viên chức Nhà nớc đợc hởng quyền lợi khi khám thai ở các cơ sở y tế
Nhà nớc, đợc nghỉ trớc và sau khi đẻ tất cả là 60 ngày (kể cả chủ nhật và
ngày lễ). Nếu sinh đôi thì đợc nghỉ thêm 10 ngày, sinh 3 thì đợc nghỉ
thêm 20 ngày. Nhà nớc cũng quan tâm đặc biệt đến CNVC Nhà nớc làm
việc ở những điều kiện nặng nhọc, độc hại.
- Trợ cấp khi CNVC Nhà nớc bị TNLĐ- BNN: Nếu bị tai nạn là động
thì sẽ đợc thanh toán các loại chi phí điều trị (kể cả thời gian nghỉ điều trị
khi vết thơng tái phát), nếu bị thơng tật thì đợc hởng trợ cấp thơng tật với
mức trợ cấp thơng tật phụ thuộc vào tỷ lệ thơng tật. Tỷ lệ này do Bộ Lao
động và Bộ Nội vụ quy định cụ thể.
- Trợ cấp khi CNVC Nhà nớc mất sức lao động: Khi CNVC Nhà nớc bị
thôi việc vì ốm, vì tai nạn lao động không thuộc diện hởng chế độ trợ cấp
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 16 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
về tai nạn lao động, hoặc vì già yếu nhng không đủ điều kiện hởng chế
độ trợ cấp hu trí, khi đã công tác từ 5 năm trở lên thì đợc hởng trợ cấp
MSLĐ.
- Chế độ trợ cấp hu trí: Khi CNVC Nhà nớc đến tuổi nghỉ hu (năm đủ
đích thành lập BHXH Việt nam để tạo ra một bớc tiến tới hoàn thiện cơ
cấu tổ chức và hệ thống hoạt động của BHXH VN.
Điều lệ BHXH đợc Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP
ngày 26/1/1995 đã cụ thể hoá nội dung công tác BHXH đợc quy định
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 17 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
trong Bộ luật Lao động, nội dung cơ bản của Nghị định này đợc quy định
nh sau:
* Đối tợng tham gia:
+ Ngời lao động làm việc trong các cơ quan hành chính sự
nghiệp thuộc khu vực Nhà nớc.
+ Ngời lao động làm trong các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên.
+ Ngời lao động làm trong các tổ chức Đảng, đoàn thể, các hội
hởng kinh phí từ NSNN.
+ Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức thuộc
lực lợng vũ trang.
+ Ngời làm việc trong các cơ quan Nhà nớc, doanh nghiệp của
các đoàn thể, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, khu chế xuất, khu
công nghiệp
+ Ngời giữ chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trong các cơ quan
hành chính sự nghiệp, ngời làm trong các cơ quan quản lý Nhà nớc,
Đảng, đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện.
Các đối tợng trên đi học, thực tập, công tác, điều dỡng trong và
ngoài nớc mà vẫn hởng tiền lơng hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tợng
thực hiện BHXH bắt buộc.
Các đối tợng trên gọi chung là ngời lao động.
Nh vậy kể từ ngày 1/1/1995 trở đi không còn phân biệt giữa trong
đợc nghỉ 2 ngày cho một lần khám thai.
+ Chế độ TNLĐ- BNN: Đợc thực hiện sau ngời bị tai nạn hoặc bệnh
nghề nghiệp đã đợc ngời sử dụng lao động cho đi điều trị khỏi vết thơng
hoặc ổn định bệnh tật đợc Hội đồng y khoa xác định tỷ lệ % suy giảm
khả năng lao động. Nh vậy thời gian ngời lao động điều trị vết thơng
hoặc bệnh nghề nghiệp mọi chi phí điều trị và tiền lơng ngời sử dụng lao
động phải trả 100%. BHXH chỉ thực hiện trợ cấp theo mức quy định khi
có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về tỷ lệ % bị suy giảm khả
năng lao động.
Tóm lại, 3 chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN hởng trong
thời gian đang tham gia đóng BHXH (ngừng đóng là ngừng hởng), riêng
chế độ TNLĐ- BNN đợc hởng sau khi có giám định của Hội đồng y khoa
về tỷ lệ mất sức lao động do tai nạn lao động gây ra.
+ Chế độ hu trí:
Điều kiện hởng hu gồm có:
Thời gian đóng BHXH tối thiểu 15 năm; tuổi đời nam đủ 60, nữ đủ
55 tuổi;
Thời gian đóng BHXH từ 20 năm trở lên, tuổi đời về hu có thể giảm
mức hởng 1% mỗi năm về trớc (nếu có 15 năm làm nghề nặng nhọc, độc
hại giảm 5% không phải trừ mức hởng); hoặc có 30 năm đóng BHXH.
Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi tự nguyện về hu không phải trừ 1% mức
hởng BHXH(theo Nghị định 93/CP ngày 12/11/1998 của Thủ tớng Chính
phủ).
Nếu ngời lao động đủ năm đóng BHXH nhng cha đủ tuổi đời đợc chờ
đến khi đủ tuổi hởng hu; đủ tuổi đời về hu nhng cha đủ năm đóng BHXH
hởng trợ cấp một lần mỗi năm đóng BHXH hởng 1 tháng lơng bình quân
5 năm cuối.
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 19 -
giảm dần từ nguồn chi của NSNN, số thu của quỹ trong 5 năm 1995-
1998 đều lớn hơn số chi, phần quỹ BHXH tạm thời nhàn rỗi đã bớc đầu
thực hiện đầu t có hiệu quả.
Ngày 16/2/1995, nghi định số 19/CP ra đời quy định về việc
thành lập BHXH Việt nam để phù hợp hơn với tình hình thực tế nớc ta.
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 20 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
2.2. Mô hình tổ chức BHXH ở Việt nam hiện nay.
Trớc năm 1995, việc tổ chức quản lý thực hiện BHXH bị phân
tán, quan liêu. Do đó để thực hiện chính sách BHXH mới có hiệu quả,
Chính phủ có Nghị định 19/CP (16/2/1995) về việc thành lập BHXH Việt
nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH thuộc hệ thống Tổng
LĐLĐ Việt nam và Bộ Lao động TB & XH để giúp Thủ tớng Chính phủ
chỉ đạo công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách
BHXH theo pháp luật của Nhà nớc. Từ ngày 1/10/1995 toàn hệ thống
BHXH VN chính thức đi vào hoạt động và đã nhanh chóng ổn định tổ
chức, xây dng cơ sở vật chất , để thực hiện những nhiệm vụ đợc giao.
Đến nay, hệ thống tổ chức của BHXH đã đi vào nề nếp hoạt
động. Hệ thống BHXH đợc tổ chức theo ngành dọc bao gồm 3 cấp:
- ở Trung ơng là BHXH.
- ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng (gọi chung là tỉnh) là
BHXH tỉnh trực thuộc BHXH VN.
- ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện)
là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh.
Sơ đồ tổ chức BHXH Việt nam
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
Nhìn chung, mô hình tổ chức thống nhất quản lý các chế độ
BHXH về một đầu mối là phù hợp với tình hình thực tế ở nớc ta, tạo điều
kiện thuận lợi cho ngời lao động tham gia BHXH. Đây cũng là một trong
những nội dung thành công bớc đầu trong công cuộc cải cách BHXH ở
nớc ta, đợc nhiều nớc trên thế giới đánh giá là tốt, có hiệu quả.
2.3. Thực trạng công tác chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam
2.3.1. Khái quát chung về quỹ BHXH và hệ thống các chế độ BHXH ở n-
ớc ta hiện nay.
2.3.1.1. Quỹ BHXH
Cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng quỹ BHXH nớc ta từ khi thành
lập đến nay đã trải qua 2 thời kỳ: Thời kỳ trong cơ chế bao cấp theo kiểu
tập trung và thời kỳ đổi mới theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà
nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
* Trớc năm 1995
Trớc năm 1995, Nhà nớc thực hiện chính sách BHXH cho công
nhân viên chức Nhà nớc theo Nghị định 218/CP, ban hành Điều lệ BHXH
tạm thời ngày 27/12/1961 và Nghị định 218/HĐBT ngày 18/9/1985 của
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 22 -
Quan hệ ngang
Quan hệ dọc
Học viện tài chính Khoa tài chính công
Hội đồng Bộ trởng.Trện cơ sở hình thành nguồn, mức đóng góp và sử
dụng quỹ BHXH thực hiện nh sau:
+ Về nguồn quỹ và mức đóng góp: Theo Nghị định số 218/CP thì
nguồn để thực hiện các chế độ BHXH chủ yếu từ NSNN và một phần nhỏ
từ sự đóng góp của các xí nghiệp Nhà nớc. Đối với phần từ NSNN, hàng
năm Quốc hội thông qua Ngân sách để thông qua cấp cho việc thực hiện
chính sách BHXH đối với cán bộ công nhân viên thuộc khu vực Nhà nớc.
86
19
90
19
91
19
92
19
0.12
0.9
117
167
220
003
277
642
1138
1197
56,0
67,5
81,8
89,9
91,6
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 23 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
93
Nguồn: Vụ Hành sự nghiệp- Bộ Tài chính
Theo số liệu của bảng trên thì tổng thu không đủ chi trả trong suốt từ
góp vào quỹ BHXH.
Quỹ BHXH đợc tách khỏi NSNN Nhà nớc, hạch toán độc lập.
Nguồn thu BHXH đợc thực hiện các biện pháp để bảo tồn và tăng trởng
quỹ. Quỹ bảo đảm thu đủ chi và có phần quỹ dự phòng bảo đảm cho việc
thực hiện chính sách BHXH ổn định. Nh vậy, kể từ năm 1995, chính sách
Chuyên đề tốt nghiệp Mai Duy Trung - K 38 01- 04
- 24 -
Học viện tài chính Khoa tài chính công
BHXH đã gắn quyền lợi hởng BHXH với hớng không lấy NSNN để chi
trả trợ cấp BHXH cho ngời lao động nh trớc đây, tiến tới thực sự xã hội
hoá nguồn quỹ BHXH.
Mức chi trả các chế độ trợ cấp BHXH nh: hu trí, ốm đau, thai
sản, TNLĐ- BNN quy định cụ thể, hợp lý, phù hợp với mức đóng góp của
ngời lao động. Đặc biệt mức hởng lơng hu đợc quy định là 45% so với
mức lơng theo ngạch bậc cho ngời có 15 năm làm việc và đóng BHXH,
sau đó cứ thêm 1 năm làm việc đợc thêm 2% và tối đa là 75% cho ngời
có 30 năm làm việc. Ngoài ra, ngời lao động nếu có số năm làm việc từ
năm thứ 31 trở đi thì một thêm đợc hởng trợ cấp 1 lần bằng 1/2 tháng l-
ơng, từng bớc thu hẹp chênh lệch thu và chi.
Thành lập BHXH để thực hiện các chức năng hoạt động BHXH
theo luật lao động quy định, xoá bỏ tính hành chính trong hoạt động
BHXH thông qua cơ quan lao động và các tổ chức công đoàn. Do có tổ
chức thống nhất quản lý, sử dụng quỹ, bảo tồn phát triển quỹ và thực hiện
việc chi trả cho các đối tợng đợc hởng chính sách đúng quy định, khắc
phục đợc các tồn tại trớc đây.
Tuy nhiên, qua một vài năm thực hiện cơ chế hình thành, quản lý
và chi trả, trợ cấp BHXH mới theo quy định của Bộ Luật lao động, chúng
ta thấy còn một số điểm tồn tại cần nghiên cứu hoàn thiện nh:
+ Nhà nớc quy định lao động làm việc trong các doanh nghiệp từ