Lời mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài :
Quá trình CNH-HĐH ở bất cứ quốc gia nào ,trong bất kì thời đại
lịch sử nào cũng cần có sự chỉ đạo ,chi phối của những lực l ợng
nhất định. Loài ngời đã từng chứng kiến nhiều hình thức tác
động ,điều tiết của các lực lợng khác nhau đối với các quá trình
CNH-HĐH ở những quốc gia khác nhau ,trong những thời kì lịch
sử khác nhau .
Đối với nớc Việt Nam ta, quá trình CNH-HĐH đợc khởi đầu từ
năm 1960, trên cơ sở thực hiện nghị quyết Đại hội lần thứ III của
đảng. Đờng lối CNH XHXN là một bộ phận chủ chốt trong đờng lối
cách mạng VIệt Nam do đảng vạch ra nhằm xây dựng CNXH ở
miền Bắc, giải phóng miền Nam , thống nhất đất n ớc. Từ năm
1975, đất nớc thống nhất ,tình hình trong và ngoài nớc thay đổi
nhiều, đảng ta đã bổ xung, điều chỉnh đờng lối CNH-HĐH bằng
các nghị quyết Đại hội lần IV và V. Nhng do sự duy trì cơ chế
quản lý kinh tế để CNH-HĐH vẫn trong những điều kiện và dới sự
tác động của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp . Do
vậy vẫn còn có nhiều hạn chế trong quá trình CNH-HĐH .Từ đầu
năm 1980 những hạn chế đó đã bộc lộ những yếu kém , cản trớ
quá trình phát triển đất nớc . Đại hội VI đã nhận định , việc duy trì
quá lâu cơ chế này là một trong những nguyên nhân gây nên những
khó khăn gay gắt về kinh tế xã hội ở nớc ta trong những năm đó
.Nhận thức rõ những hạn chế ,tiêu cực của cơ chế cũ và những yêu
cầu cấp bách của đất nớc ,Đảng ta đã có nhiều tìm tòi ,thể nghiệm
để đổi mới toàn diện đất nớc . Nghị quyết Đại hội VI đã mở ra một
thời kì đổi mới về mọi mặt đời sống xã hội ,trong đó có đổi mới
cơ chế kinh tế. Các nghị quyết hội nghị Trung ơng lần thứ ba và
lần thứ sáu (khoá VI) đã xác định những nội dung chủ yếu của cơ
1
chế mới ,đánh dấu những bớc tiến rất cơ bản trong việc đổi mới cơ
3.Bố cục đề tài
Chơng 1:Lí luận chung về vai trò của nhà nớc của nhà nớc đối với
CNH-HĐH
Chơng 2:Thực trạng về vai trò của nhà nớc đối với CNH-HĐH
trong thời gian qua và một số giải pháp nhằm tăng cờng vai trò của
nhà nớc đối với CNH-HĐH ở nớc ta
3
Nội dung
Chơng 1:Lí luận chung về vai trò của
nhà nớc Đối với CNH-HĐH
1.1 Tính tất yếu khách quan về vai trò của nhà n ớc đối với
CNH-HĐH
1.1.1 Nội dung CNH-HĐH ở nớc ta hiện nay:
Trớc đây chúng ta cho rằng, công nghiệp hoá là quá trình trang bị
kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, thay thế lao động thủ
công bằng lao động cơ khí hoá, biến một nớc kém phát triển thành
một nớc có cơ cấu công nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật
tiên tiến.
Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc, công nghiệp hoá là một quá
trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận quốc gia ngày càng
lớn đợc huy động để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công
nghệ hiện đại để chế tạo ra t liệu sản xuất, hàng tiêu dùng, có khả
năng bảo đảm nhịp độ tăng trởng cao trong toàn bộ nền kinh tế và
bảo đảm sự tiến bộ kinh tế và xã hội.
Kết hợp quan niệm truyền thống với quan niệm hiện đại và vận
dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hội nghị lần thứ VII ban
chấp hành TW Đảng khoá VII đã đa ra quan niệm mới về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và đây cũng chính là quan niệm đợc sử
dụng một cách phổ biến ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay. Theo t
thấy rõ sự chuyển dịch cơ cấu theo hớng nâng cao tỷ trọng của khu
vực công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp
Công nghiệp hoá vừa là quá trình kinh tế- kỹ thuật vừa là quá
trình kinh tế- xã hội. Quá trình ấy sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về
kỹ thuật, thấp kém về kinh tế, đồng thời cũng thủ tiêu tình trạng
5
lạc hậu về xã hội, nâng cao mức sống của dân c, đa xã hội đến
trình độ văn minh công nghiệp. Quá trình kinh tế- xã hội và quá
trình kinh tế- kỹ thuật có quan hệ ràng buộc, tác động qua lại lẫn
nhau.
1.1.2 Tính tất yếu khách quan về vai trò của nhà n ớc đối
với CNH-HĐH
Quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội(CNXH) đợc thực hiện tuỳ theo
điều kiện hoàn cảnh riêng biệt của từng nớc .Đối với những nớc mà
điểm xuất phát là nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ tự cung tự
cấp ,lại bị tàn phá qua nhiều cuộc chiến tranh nh Việt Nam thì con
đờng đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ T bản(TB) là
con đờng đầy những gian nan vất vả . Vì thực tế, chúng ta cha trải
qua cuộc cách mạng kĩ thật nh đã diễn ra trong thế kỷ XVIII , cuộc
cách mạng thực hiện bứơc chuyển từ xản xuất thủ công sang sản
xuất bằng cơ giới, xác lập sự xã hội hoá , chuyên môn hoá trong
sản xuất , tạo ra môi trờng tôi luyện ngời lao động có kĩ thuật cao
để đa xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại vớilực lợng sản xuất
đang ở trình độ thấp,công cụ thô sơ , phơng thức hợp tác giản đơn,
phân công lao động chậm phát triển , vẫn còn quy tụ chủ yếu trong
lĩnh vực nông nghiệp , sản xuất hàng hoá cha phát triển để thực
hiện sự mở rộng giao lu kinh tế , do đó vẩn còn cơ sở bảo tồn cho
một nền kinh tế hiện vạt mang tính tự cung tự cấp. Vai trò của nhà
nớc trong lĩnh vực này là phải xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật
cho chủ nghĩa xã hội . Đây là một quy luật kinh tế mang tính phổ
Do đó, một cơ sở vật chất- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội đòi hỏi
phải hội tụ đủ yếu tố hiện đại của cách mạng khoa học và công
nghệ, yếu tố cơ cấu của một lực lợng sản xuất ở trình độ cao và
yếu tố kế hoạch để khắc phục cho tính vô chính phủ của nền kinh
tế t bản chủ nghĩa. Vì vậy, cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa
7
xã hội sẽ là nền sản xuất lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có
trình độ xã hội hoá cao, dựa trên trình độ khoa học công nghệ hiện
đại, đợc hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn
bộ nền kinh tế quốc dân.
Một nớc phát triển về kinh tế vẫn có thể là một nớc kém phát triển
về tinh thần, về trí tuệ và về xúc cảm nh nhiều trờng hợp ở phơng
Tây cho thấy. Nhng không thể chối cãi đó là một nấc thang tất yếu
trên con đờng phát triển kinh tế và không chỉ kinh tế của các dân
tộc. Công nghiệp hoá tạo ra nền kinh tế hiện đại với những u thế
nổi bật: năng suất lao động cao, cơ cấu sản phẩm đa dạng, công ăn
việc làm phong phú, thu nhập quốc dân chung và tính theo đầu ng -
ời cao hơn nhiều so với một nền kinh tế ch a công nghiệp hoá. Sự
thật chính là ở những nớc công nghiệp mới(NIC), là những nớc
đã thành công ở những mức độ khác nhau về công nghiệp hoá, và
vị trí của chúng trong nền kinh tế thế giới đã đợc khẳng định vững
chắc.Vì vây để tránh mắc phai những sai lầm nh một số nớc phơng
Tây đI trớc đã mắc thì vai trò của nhà nớc trongCNH-HĐH là tất
yếu để chung ta co sự hoà nhập nhng không bị hoà tan,không bị
mất đI bản sắc dân tộc Việt Nam đã có từ ngàn xa .
Trong bối cảnh thực hiện CNH-HĐH theo cơ chế thị trờng , vai rò
của nhà nớc hết sức quan trọng trong việc xây dựng những phơng
án hợp lý về việc sử dụng các nguồn lực lao động kết hợp với
nguồn lực tự nhiên .Chiến lợc CNH trong từng giai đoạn phải sử
dụng sự kết hợp những nguồn lực này trong sự phân vùng kinh tế
của các kì đại hội . Báo cáo chính trị tại đại hội IX đã dành riêng
một phần để nói về Phát triển kinh tế xã hội bằng con đờng
CNH-HĐH:
9
Đẩy mạnh CNH-HĐH , xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ,đa n-
ớc ta trở thành một nớc cộng nghịêp có thể nói đây là t tởng chiến
lợc hết sức quan trọng ,là mục tiêu cơ bản của sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nớc trong giai đoạn hiện nay ,bởi vì muốn tiến lên
CNXH từ một nớc nông nghiệp không kinh qua chế độ t bản chủ
nghĩa , chúng ta phải tiến hành CNH để xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật của CNXH .Nhng CNH ở nớc ta lại đợc tiến hành trong bối
cảnh thế giới đã có nhiều thay đổi,đặc biệt là sự phát triển rất
nhanh về cả qui mô và chất lợng của lực lợng sản xuất trên nền
tảng của một cuộc cách mạng mới về khoa học và công nghệ . Do
đó con đờng CNH-HĐH của nớc ta đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn
những mô hình và bớc đi thật thích hợp, phát huy cao nhất những
lợi thế của đất nớc, trớc hết là nguồn lực con ngời , phát triển
mạnh giáo dục và đào tạo , khoa học công nghệ , tận dụng mọi khả
năng tranh thủ đi tắt đón đầu để sớm đạt trình độ tiên tiến,hiện đại
ở những nghành , những khâu , những lĩnh vực có điều kiện , rút
ngắn thời gian CNH, từng bớc phát triển kinh tế , thu hẹp khoảng
cách với sự phát triển chung của thế giới.
Ưu tiên phát triển lực lợng sản xuất , đồng thời xây dựng quan hệ
sản xuất phù hợp theo địng hớng XHCN Đại hội VI , Đảng ta đã
rút ra bài học quan trọng là lực lợng sản xuất bị kìm hãm không
chỉ trong trờng hợp quan hệ sản xuất lạc hậu , mà cả khi sản xuất
phát triển không đồng bộ . Do đó , u tiên phát triển lực lợng sản
xuất là sự lựa chọn đúng quy luật . Muốn vậy , điều hết sức quan
trọng là phải tìm cách khơi dậy mọi tiềm lực để thúc đẩy tăng tr-
ởng kinh tế nhanh, nhng đồng thời phải từng bớc và kịp thời điều
ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nớc nhanh và
bền vững
11
Tăng trởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá , từng bớc cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân đân , thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội bảo vệ và cải thiện môi trờng Chúng ta đã
lựa chọn mô hình phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN , gắn liền tăng trởng kinh tế với phát triển văn hoá , giữ gìn
và phát huy bản sắc dân tộc , thực hiện ngay trong từng bớc sự tiến
bộ và công bằng xã hội , khuyến khích làm giầu hợp pháp đi đôi
với giảm nghèo , từng bớc cải thiện đời sống vật chất tinh thần của
nhân đân , chăm lo đúng mức việc bảo vệ và cải thiện môi trờng tự
nhiên , cân bằng sinh thái .Tăng trởng kinh tế phải đi liền với thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội , kinh tế tăng trởng đến đâu mức
sống của ngời lao động đợc tăng đến đó , ngời lao động phấn khởi ,
nhiệt tình đẩy mạnh sản xuất kinh doanh hơn nửa tạo ra thêm nhiều
của cải vật chất cho xã hội , bảo đảm nền kinh tế phát triển bền
vững trên cả ba mặt :kinh tế , xã hội , môi trờng.
Kết hợp phát triển kinh tế , xã hội với tăng cờng quốc phòng an
ninh .Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội và tăng c -
ờng quốc phòng an ninh là một chủ chơng lớn,nhất quán và xuyên
suốt trong mọi hoạt động kinh tế xã hội . Phải có tiềm lực kinh tế
mới tạo đợc nguồn lực và cơ sở vật chất kĩ thuật cho việc tăng
cờng quốc phòng an ninh ; đồng thời quốc phòng an ninh mạnh sẽ
tạo ra môi trờng ổn định cho phát triển kinh tế nhanh và bền vững.
Trên thực tế, tất cả những nớc công nghiệp mới ở châu á đều
thành công trớc hết là ở khâu hoạch định chiến lợc. Công việc này
đòi hỏi một sự tập trung trí tuệ lớn của nhiều chuyên gia thuộc các
lĩnh vực khác nhau, đặc biệt của những công trình sự kinh tế có
trình độ cao. Nh vậy, ở những mức độ quan trọng, một Nhà nớc
động của mỗi thành viên xã hội với t cách công dân của họ. Qua đó
ta thấy đợc sự hình thành của xã hội công dân và Nhà n ớc pháp
13
quyền, cơ sở của chế độ dân chủ, là điều kiện kiên quyết để các n -
ớc này tiến hành công nghiệp hoá thành công.
Trong quản nhà nớc , sản xuất phải gắn liền với thực hành tiết
kiệm , chống tham ô lãng phí , quan liêu . Sản xuất phải có kế
hoạch , có phân công để làm ra nhiều sản phẩm tốt .Nhng làm ra
sản phẩm mà xa sỉ, hoang phí bừa bãi thì nh nớc rót vào tùng thủng
đáy . Vì vậy sản xất phải đi đôi với tiết kiệm , nh hai chân của côn
ngời . Chủ Tịch Hồ CHí Minh nhắc lại lời của Stalin về bọn tham ô
nhnhững con lợn sục vào vờn rau của nhà nớcvà ngoạm một cách
trơ trẽn.Vai trò của nhà nớc là phải thấy đợc điều đó . Phát biểu
trong cuộc họp cuối năm 1966 của hội đồng chính phủ, chủ tich Hồ
Chí Minh chỉ rõ: một việc nữa rất quan trọng mà làm ch a tốt là
công tác lu thông phân phối . Có khi vật t hàng hoá không thiếu ,
mà phân phối không đúng , thì gây ra căng thẳng không cần thiết .
Trong công tác lu thông phân phối , có hai quan điểm quan trọng
phải luôn nhớ:
Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng
Không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên
Rõ ràng là vai trò quản lý của nhà nớc - đặc biệt là kinh tế tài
chính là rất lớn . Hồ Chủ tịch nhắc lại lời Lênin :kinh tế và tài
chính phải do nhà nớc thiết thực quản lý , giám đốc thống kê và
điều chỉnh , cần qui định cách phân phối sức lao động cho đúng
đắn , quí trọng sức dân , tuyệt đồi không lãng phí sức dân , cái gì
cũng phải tiết kiệm.
ở nớc ta, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n ớc không
tách rời sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà n ớc. Trong
điều kiện Đảng cầm quyền, dới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nớc
Nhật Bản ở châu á) nên hiện tợng di chuyển nhân lực ra ngoài biên
giới là rất ít , trong khi quá trình ngợc lại rất mạnh vì lơng cao và
15
môi trờng lao động thuận lợi , nhng quan trọng hơn cả là do chính
sách khuyến khích của nhà nớc .Cục khoa học công nghệ quốc
gia cùng với các cơ quan trung ơng khác đã có chính sách khuyến
khích các tài năng nghiên cứu và phát triển , ngời nớc ngoài đến
làm việc và và sinh sống ở Singapore .Những ng ời này mang theo
những kinh nghiệm từ nớc ngoài tham gia tích cực vào hoạt động
nghiên cứu và đào tạo các tài năng bản xứ.
Tại Trung Quốc , để khuyến khích luồng trí tuệ và tài chính của
cộng đồng ngời Hoa từ nớc ngoài , ngoài những chính sách lớn ,
Nhà nớc đã quy định nhiều điều cụ thể , chẳng hạn:Hoa kiều ở nớc
ngoài khi về nớc không phải xin thị thực nhập xuất cảnh . Chính
phủ chủ trơng khuyến khích ngời ra đi hợp pháp , hoan nghênh
ngời trở về, đi và về tự do.Đã thực hiện chế độ một giá dich vụ
cho hoa kiều nh ngời trong nớc tham quan , giải trí có thể nói
,Trung Quốc đã thực hiện khá thành công chính sách thu phục nhân
tâm trớc , khai thác sử dụng sau.
Trong trờng hợp Đài Loan, t tởng chỉ đạo xuyên suốt trong các
chủ trơng, chính sách là chính phủ chủ động đứng ra chăm lo bồi
dỡng , củng cố tiềm lực cộng đồng ,kiều dân và sau đó khai thác
những thế mạnh của họ phục vụ cho công cuộc phát triển đất n ớc .
Đài Loan đã bỏ ra công sức và tiền của rất nhiều cho việc tìm kiếm
các nhà khoa học giỏi , tiếp xúc ,vận động và kéo tay họ về.
chính phủ Đài Loan xác định mục tiêu đầu tiên là phát triển các
nghành công nghệ mới thông qua tập trung nghiên cứu triển khai
và có trơng trình chuyển giao công nghệ tới các thành phần kinh tế
t nhân .Mục tiêu thứ hai là xác định và thành lập các nghành công
nghiệp chiến lợc đợc đánh giá là sẽ mang lại khả năng cạnh tranh
Đội ngũ cán bộ khoa học mang bản sắc dân tộc :thông minh ,
khiêm tốn , hiếu học khả năng tiếp thu và ứng dụng công nghệ mới
nhanh. Điều này đợc các chuyên gia nớc ngoài đánh giá rất cao.
Nhiều công trình kĩ thuật hiện đại , phức tạp của thế giới nh trong
các lĩnh vực điện tử , viễn thông dầu khí hoặc lắp đặt những công
trình công nghiệp lớn(thuỷ điện , nhiệt điện , xi măng )cán bộ
khoa học công nghệ cũng nh công nhân nớc ta đã tiếp thu và vận
hành một cách nhanh tróng , có hiệu quả , thậm chí còn cải tiến
,nâng ccao.Theo đánh giá mới đay nhất , 1/3 giá trị gia tăng GDP
18
hàng năm của nền kinh tế nớc ta là do hoạt đọng của khoa học và
công nghệ mang lại . Đúng nh Đại hội lần thứ VIII đã đánh giá
hoạt động khoa học và công nghệ gắn bó hơn với nhu cầu phát
triển kinh tế xã hội , thích nghi dần với kinh tế thị trờng.
Bớc đầu tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật trong các ngành kinh tế
quốc dân, nhất là trong công nghiệp. Vốn đầu t vào công nghiệp
luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu t cho khu vực sản
xuất vật chất nói riêng và cho nền kinh tế quốc dân nói chung, vì
vậy tỷ trọng công nghiệp trong thu nhập quốc dân đợc nâng lên:
18,2% (1960); 25,3% (1976); 28,1% (1986); 23,0% (1990); 27,9%
(1992). Một số ngành, một số công trình, một số sản phẩm có tác
dụng quan trọng đến phát triển chung của nền kinh tế quốc dân nh
điện, khai thác dầu mỏ xi măng, luyện kim đã đợc chú trọng đầu t
và năng lực sản xuất tăng nhanh qua các năm: Năm 1976 trong cơ
cấu giá thị tổng sản lợng công nghiệp ngành điện lực chỉ chiếm
3,66%; cơ khí 9,65%; hoá chất phân bón, cao su:8,26% thì năm
1990 tỷ trọng tơng ứng của các ngành đó là: 5,1%; 15,9%; 9,4%.
Thúc đẩy đợc quá trình thay đổi và phát triển cơ cấu kinh tế từ
giản đơn, lạc hậu, trì trệ kém hiệu quả dần dần tiến tới một cơ cấu
có nhiều ngành, nhiều thành phần. Lạm phát từ mức 3 con số: 1986
trọng ngân sách nhà nớc chi cho GD -ĐT tăng hàng năm và tăng
nhanh trong những năm gần đây , từ 5,83% năm 1986 với mức chi
120 tỉ đồng , đến năm 1990 tăng lên 8,9%với mức chi là 9186 tỉ, và
năm 1996 là 70000 tỉ . Tuy vậy tỉ lệ này còn thấp so với các n ớc
trên thế giới và trong khu vực .
+Thứ ba,cơ cấu nguồn nhân lực cuă nớc ta cha hợp lí 1 đại
hoc/1,6 trung học chuyên nghiêp,/3 công nhân(ở các nớc trong khu
vực tỉ lệ này là 1/4/10)tỉ lệ lao đọng đã qua đào tạo ở nớc ta mới
chỉ đạt 10%so với tổng số lao động là quá thấp.
20
+Thứ t, hiện nay hiện tợng chảy máu chất xám đã và đang xảy ra
ngay trong đội ngũ cán bộ trí thức. Do nhiều nguyên nhân khác
nhau, một bộ phận cán bộ khoa học và công nghệ không còn hào
hứng với công việc của mình , xin đợc chuyển sang những ngành
không phải đợc đào tạo, phần lớn là những ngời trẻ khoẻ(dới 45
tuổi)và có năng lực
Trong những năm đầu của quá trình đổi mới công nghiệp hoá đã
mang sắc thái mới, đã có sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung và b ớc
đầu đồng bộ hoá, cụ thể hoá bằng cơ chế và chính sách. Do vậy
công nghiệp hoá đã đợc tiến hành phù hợp hơn với hoàn cảnh quốc
tế và điều kiện, khả năng trong nớc, các tiềm năng, nguồn lực của
đất nớc bớc đầu đợc khơi dậy, kinh tế phát triển thực chất hơn.
2.1.2 Nhà nớc đa ra những công cụ của mình để CNH-HĐH
theo đúng định hớng XHCN
CNH-HĐH nền kinh tế là một xu hớng phát triển tất yếu .Kinh
nghiệm và thực tiễn của những nớc có nền kinh tế phát triển đã chỉ
ra rằng ,quá trình CNH-HĐH nền kinh tế đòi hỏi phải có những
tiền đề và điều kiện nhất định về vốn ,khoa học-công nghệ, con ng-
ời và sự quản lý của nhà nớc . Do những đặc điểm và điều kiện của
nền kinh tế Việt Nam , quá trrình CNH_HĐH gắn liền với chuyển
chế độ phân phối cô-ta thành chế độ thuế quan để điều tiết cơ cấu
xuất nhập khẩuvà hạn chế những tiêu cực trong việc cấp cô-ta
trong xuất nhập khẩu;Tăng cờng tài chính doanh nghiệp theo hớng
khuyến khích và nâng cao khả năng tự tích luỹ của các đơn vị cơ
sở ,định hớng bằng những chính sách kinh tế cụ thể , có khuyến
khích , có hạn chế rõ ràng , hợp lý trong sở dụng các nguồn tài
chính của doanh nghiệp;Mở rộng các hình thức huy động vốn xã
hội và vốn nơc ngoài vào phát triển kinh tế .Nhà nớc phải có cơ
chế và chính sách hợp lý nhằm động viên mọi nguồn lực vào phát
22
triển kinh tế . trớc mắt , cần tập trung phát triển các cơ sở kinh tế
theo hình thức đa sở hữu, đảm bảo về tính pháp lý đối với vốn và
tá sản của công dân.
- Chính sách kinh tế đối ngoại:Trong bối cảnh kinh tế quốc tế
ngày nay, thơng mại quốc tế đợc xem là một cứu cánh cho các n-
ớc đi sau, chậm phát triển. Một trong những định hớng đúng đắn
đối với những nớc này là thúc đẩy chiến lợc xuất nhập khẩu phù
hợp với điều kiện cụ thể của mình. Chiến lợc xuất nhập khẩu của
mỗi nớc đợc phản ánh trong cơ cấu xuất nhập khẩu cụ thể mà mỗi
nớc xác định.
Đối với nớc ta, định hớng xuất nhập khẩu phải chú ý một số vấn đề
sau: Giảm tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm thô, cha qua chế biến, tăng
dần các sản phẩm đã qua chế biến; Nâng tỷ trọng nhập khẩu thiết
bị, công nghệ nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ của
nền kinh tế hiện đại hoá; Tăng cờng kiểm soát xuất - nhập khẩu để
một mặt bảo hộ sản xuất trong nớc, mặt khác tăng nguồn thu cho
ngân sách Nhà nớc.
-Chính sách giáo dục và đào tạo:Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nền kinh tế đất nớc đòi hỏi phải có một lực lợng lao động
mạnh cả về số lợng cũng nh chất lợng. Để tạo ra lực lợng lao động
Xu hớng toàn cầu hoá sẽ là xu hớng phát triển có ảnh hởng nhiều
mặt tới sự phát triển của thế giới trong các thập kỷ tới, dù ngời ta
muốn hay không muốn, dù ngời ta phê phán các mặt hoạt động tiêu
cực của nó. Một nền kinh tế toàn cầu, một thị trờng toàn cầu không
biên giới đang xuất hiện với những hình ảnh phôi thai của nó là
Liên minh kinh tế châu Âu (EU), khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA)v.v
24
Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá Xã hội chủ nghĩa ở nớc ta
trong thời gian qua còn nhiều tồn tại, nhợc điểm chủ yếu là:
Thứ nhất là quá trình công nghiệp hoá diễn ra quá chậm.
Thứ hai là phân công lao động xã hội phát triển chậm chạp. Cơ
cấu kinh tế thiếu năng động, hiệu quả thấp, chứa đựng nhiều bất
hợp lý, nhiều mặt mất cân đối nghiêm trọng. Cha kết hợp tốt cơ
cấu ngành với cơ cấu thành phần và cơ cấu lãnh thổ trong một
trạng thái đồng bộ năng động có hiệu quả để thực hiện tốt nhất
mục tiêu chung của phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba là trình độ kỹ thuật công nghệ thấp kém, mất cân đối, đổi
mới chậm.
Thứ t là sự nghiệp công nghiệp hoá phải đơng đầu với nhiều khó
khăn, mâu thuẫn do sai lầm trớc đây để lại và do thách thức mới đ a
tới. Đó là: Tỷ lệ thất nghiệp còn cao, đời sống thấp, tỷ lệ tích luỹ
và đầu t thấp, sản xuất, kinh doanh đang gặp khó khăn về vốn và
thị trờng
Thứ năm là chúng ta khó lòng có thể chen chân đợc vào thị tr-
ờng của các nớc phát triển , công nghệ tiên tiên đã bị những nớc
tiên tiến chiếm hữu .Vì vậy cần phải có những chính sách đúng đắn
của nhà nớc để chúng ta có thể thu hút đợc những nhà khoa học ,
những công nghệ tiên tiến chảy vào nớc ta.
2.2 Một số giải pháp nhằm tăng cờng vai trò của nhà nớc đối