lời nói đầu
Từ năm 1986 nền kinh tế tập trung ở nớc ta đã chuyển sang nền
kinh tế thị trờng nh một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển.Trong điều
kiên cơ chế quản lí thay đổi, khi hiệu quả kinh doanh trở thành yếu tố
sống còn của mỗi doanh nghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực
kinh tế Nhà nớc đã bộc lộ đầy đủ những yếu kém, lâm vào tình trạng sa
sút và khủng hoảng.Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để cấu trúc lại sở
hữu Nhà nớc và cải cách khu vực kinh tế Nhà nớc nhằm nâng cao hiệu
quả và vai trò của nó theo tinh thần nghị quyết đại hội VI và VII của
Đảng. Nghị quyết Quốc hội về nhiệm vụ năm 2002 và chơng trình hoạt
động của Chính phủ đã thể hiện quyết tâm cao của cơ quan quyền lực
Nhà nớc trong việc tập trung mọi nỗ lực cho sự phát triển. Tháng 9 năm
2001, Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng Đảng Khóa IX đã ra Nghị
quyết về sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nớc,
Nghị quyết Trung ơng III có đi vào cuộc sống trở thành hiện thực hay
không còn phụ thuộc vào phần lớn sự vận động của hơn 60. 000 doanh
nghiệp trong cả nớc. Do vậy, nâng cao năng lực quản lý và cạnh tranh
của doanh nghiệp là nhân tố quan trọng để chúng ta có thể đáp ứng đợc
những đòi hỏi bức xúc của tình hình mới. Chính phủ đã triển khai nhiều
chủ trơng, chính sách để tổ chức, sắp xếp lại, phát huy quyền tự chủ
kinh doanh, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp Nhà nớc. Một trong
những chủ trơng quan trọng đó là : Cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà
nớc. Đây là quyết định đúng đắn của Nhà nớc nhằm khắc phục những
điểm yếu kém, trì trệ của các doanh nghiệp Nhà nớc.
Trong giai đoạn hiện nay Nhà nớc đang có chủ trơng khuyến
khích các doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hoá. Đây là vấn đề rất quan
trọng, vì vậy em xin mạnh dạn đợc đề cập đến đề tài :
2
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam -
thực trạng và giải pháp
Mặc dù đã cố gắng học hỏi, su tầm tài liệu nhng chắc chắn em
của Chính phủ; Nghị định số 25/CP ngày 26/3/1997 về sửa đổi một số
4
điểu của nghị định số 28/CP và nghị định số 44/CP ngày 2/6/1998 về
sửa đổi một số điều trong nghị định số 28/CP, nghị định số 64/CP ngày
19/6/2002, nghị định 187/2004/ND-CP nhày 16 tháng 11 năm 2004 của
Chính phủ về việc "Chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ
phần". Và mới đây nhất là chỉ thị 04/2005/CT-TTg của Thủ tơng Chính
phủ nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hoá.
Theo các văn bản trên cổ phần hoá ở nớc ta là cách nói tắt của
chủ trơng chuyển một số doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần.
Điều I Thông t số 50/TCDN ngày 30/8/1996 của Bộ Tài chính qui định:
"doanh nghiệp Nhà nớc chuyển thành công ty cổ phần (hay còn gọi là
cổ phần doanh nghiệp Nhà nớc)" là một biện pháp chuyển doanh nghiệp
Nhà nớc từ sở hữu Nhà nớc sang hình thức sở hữu nhiều thành phần,
trong đó tồn tại một phần sở hữu Nhà nớc.
Nh vậy: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc là việc chuyển
doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần đối với những doanh
nghiệp mà Nhà nớc thấy không cần nắm giữ 100% vốn đầu t, nhằm
tạo điều kiện cho ngời lao động trong trong doanh nghiệp có cổ phần
làm chủ thực sự doanh nghiệp, huy động vốn toàn xã hội để đầu t đổi
mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp góp phần tăng trởng kinh tế.
2. Công ty cổ phần:
Thực chất của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp là quá trình
chuyển đổi hình thức doanh nghiệp sang hình thức công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó :
- Vốn điều lệ đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
5
quan điểm nên các doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam có những đặc tr-
ng khác biệt so với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới, đó là:
- Quy mô doanh nghiệp phần lớn nhỏ bé, cơ cấu phân tán, biểu
hiện ở số lợng lao động và mức độ tích luỹ vốn.
- Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu (từ 2-3 thế hệ, cá biệt tới
5-6 thế hệ), trừ một số rất ít chỉ có18% số doanh nghiệp Nhà nớc đợc
đầu t mới (sau khi có chính sách đổi mới), phần lớn các doanh nghiệp
Nhà nớc đã đợc thành lập khá lâu, có trình độ kỹ thuật thấp. Vì vậy khi
chuyển sang kinh tế thị trờng, khả năng cạnh tranh cả trong nớc lẫn
quốc tế của doanh nghiệp Nhà nớc rất yếu, ảnh hởng đến hiệu quả hoạt
động, khả năng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Do những đặc điểm trên nên khi chuyển sang kinh tế thị trờng,
các doanh nghiệp Nhà nớc không còn đợc bao cấp mọi mặt nh trớc đây,
mặt khác lại bị các thành phần kinh tế khác cạnh tranh quyết liệt, nên
nhiều doanh nghiệp Nhà nớc không trụ nổi, dẫn đến phá sản, giải thể.
2. Sự hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nớc:
Trớc khi thực hiện cổ phần hoá, nớc ta có hơn 6. 000 doanh
nghiệp Nhà nớc, nắm giữ 88% tổng số vốn của các doanh nghiệp trong
nền kinh tế nhng hiệu quả kinh doanh thấp, chỉ có khoảng 50% doanh
nghiệp Nhà nớc là có lãi, trong đó thực sự làm ăn hiệu quả và có triển
vọng lâu dài chỉ chiếm dới 30%. Trên thực tế doanh nghiệp Nhà nớc
7
nộp ngân sách chiếm 80-85% tổng số thu nhng nếu trừ khấu hao cơ bản
và thuế gián thu thì doanh nghiệp Nhà nớc chỉ đóng góp đợc trên 30%
ngân sách Nhà nớc. Đặc biệt nếu tính đủ chi phí, tài sản cố định và đất
theo giá thị trờng thì các doanh nghiệp Nhà nớc hầu nh không tạo ra đ-
ợc tích luỹ. Điều đó có nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc
không tơng xứng với phần đầu t của Nhà nớc cho nó cũng nh không t-
ơng xứng với tiềm lực của chính doanh nghiệp Nhà nớc.
Trình độ công nghệ còn lạc hậu, tình hình này có phần do hậu quả
nghiệp cổ phần có điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh, đầu t đổi mới
dây chuyền công nghệ, gắn trách nhiệm với lợi ích của chính ngời lao
động nên sẽ thúc đẩy tăng hiệu quả kinh doanh.
Cổ phần hoá tạo điều kiện cho ngời lao động đợc thật sự làm chủ
doanh nghiệp. Lợi ích của ngời lao động gắn chặt với hiệu quả hoạt
động của chính công ty, do đó ngời lao động làm việc với tinh thần
trách nhiệm cao, làm việc cho chính bản thân mình, bên cạnh đó đòi hỏi
Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc cũng phải thật sự năng động, sáng tạo
trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.
Thực hiện cổ phần hóa sẽ khắc phục đợc tình trạng buông lỏng
trong quản lý, tình trạng "vô chủ" của doanh nghiệp, đảm bảo sử dụng
các nguồn lực cho hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả, tăng khả
năng cạnh tranh, đứng vững trên thị trờng. Mặt khác cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nớc sẽ tạo tiền đề cho thị trờng chứng khoán ở Việt Nam
phát triển, đồng thời góp phần đắc lực vào việc thực hiện chủ trơng
chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Đảng và Nhà nớc.
Nh vậy, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc giúp cho doanh
nghiệp Nhà nớc đổi mới toàn diện cả về phơng thức quản lý, giải pháp
về vốn, công nghệ, sản phẩm, khả năng cạnh tranh, hiệu quả hoạt động
để tồn tại và phát triển theo thời gian, tạo điều kiện thuận lợi để thực
9
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới.
III- quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà n-
ớc ở Việt Nam - những thành tựu và hạn chế
1. Quá trình thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc:
Từ giữa năm 1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là Thủ tớng
Chính phủ) đã có quyết định về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp
Nhà nớc thành công ty cổ phần nhng trong thời gian này vẫn cha có
doanh nghiệp Nhà nớc nào thực hiện chuyển đổi.
khi đó lao động đợc tuyển dụng tăng thêm từ 10-20%.
Mục tiêu của cổ phần hóa là huy động thêm vốn trong nớc, đổi
mới phơng thức để quản lý tạo động lực mới cho sự phát triển. Nói riêng
về việc huy động vốn, trong số 771 doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hoá
có giá trị phần vốn Nhà nớc 3.000 tỷ đồng, qua cổ phần hoá đã thu thêm
đợc 2.000 tỷ đồng của các cá nhân, pháp nhân. Đồng thời thông qua
việc bán cổ phiếu, Nhà nớc đã thu thêm hơn 1. 150 tỷ đồng để đầu t và
giải quyết chính sách cho ngời lao động trong doanh nghiệp Nhà nớc
thực hiện cổ phần hoá. Bên cạnh đó phần vốn Nhà nớc tại các doanh
nghiệp cổ phần hoá không mất đi mà lại tăng thêm từ 10-15% so với giá
trị trên sổ sách.
Kết quả sản xuất kinh doanh có lãi hay không đợc chứng minh
bằng việc chia cổ tức hàng quý, hàng tháng. Sau cổ phần hoá, doanh thu
của các công ty cổ phần đều tăng gấp hai lần so với trớc. Điển hình là
công ty Điện lạnh năm 1999 doanh thu 178 tỷ đồng gần gấp 5 lần so với
trớc khi cổ phần hoá. Công ty cổ phần thuỷ sản Hạ Long sau khi hoàn
11
thành cổ phần hoá, doanh số tăng 30% năm. Năm 2001 mặc dù thị trờng
xuất khẩu gặp nhiều khó khăn nhng doanh số của công ty dự kiến vẫn
đạt hơn 130 tỷ đồng. Về lợi tức cổ phần, về vốn, rồi nộp ngân sách đều
tăng so với trớc khi cổ phần, không những thế việc cổ phần hoá còn tạo
thêm việc làm cho ngời lao động.
Khi doanh nghiệp chuẩn bị cổ phần hoá, ngời lao động rất lo lắng
bởi khi doanh nghiệp cổ phần hoá tài sản trong doanh nghiệp không còn
là của Nhà nớc nữa, các ông chủ có thể sa thải công nhân. Nhng thực
chất từ khi cổ phần hoá đến nay cha có công nhân nào bị sa thải. Riêng
công ty cổ phần cơ điện lạnh thành phố Hồ Chí Minh tăng từ 334 ng ời
lên 731 ngời, công ty cổ phần chế biến Long An từ 900 ngời lên 1. 280
ngời.
3. Những hạn chế:
Nhà nớc của doanh nghiệp làm cho ngời lao động cha thực sự tin tởng
vào hệ thống lãnh đạo của doanh nghiệp khi chuyển sang doanh nghiệp
cổ phần.
Thứ hai, ngời lao động không biết lấy tiền đâu để mua cổ phần.
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế đời sống của đa số ngời lao động
làm việc trong các DNNN đợc nâng cao, nhng khá nhiều ngời chỉ đủ ăn
cha có tích luỹ về tiền và tài sản.
Thứ ba, do ngời lao động lo lắng về việc làm của họ sau cổ phần
hoá. Liệu sau cổ phần hoá việc làm của họ còn đợc tiếp tục hơn?
Thứ t, do ngời lao động lo lắng đến vấn đề thu nhập sau khi thực
hiện cổ phần hoá ngời lao động rất lo lắng đến việc này bởi nó ảnh hởng
đến đời sống của họ và gia đình.
Tất cả những lo lắng trên của ngời lao động là chính đáng bởi nó
gần gũi, thiết thực với ngời lao động.
3.3. Từ phía doanh nghiệp:
13
Thứ nhất là, vấn đề tài sản và nợ của các DNNN. Việc xác định
giá trị doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn xung quanh vấn đề này.
Thứ hai là, do một số doanh nghiệp cha nhận thức rõ tầm quan
trọng và mục tiêu cổ phần hoá thiếu thống nhất trong chỉ đạo của cấp
uỷ, công đoàn, ban giám đốc, và cán bộ công nhân viên của doanh
nghiệp.
Thứ ba là, nhiều doanh nghiệp cha hình dung hết quy trình cổ
phần hoá, các thủ tục còn quá mới mẻ với họ.
Thứ t là, các doanh nghiệp lo ngại sau khi cổ phần hoá bị "phân
biệt đối xử" mặc dù chủ trơng của Nhà nớc là quyền lợi các thành phần
kinh tế ngang nhau.
3.4. Những nguyên nhân khác:
- Đất nớc ta còn nghèo, lợng tiền tích luỹ trong dân c còn ít các
DNNN phần lớn làm ăn còn kém hiệu quả. Ngời dân cha có thói quen
quan quản lý vốn và tài sản Nhà nớc tại doanh nghiệp để xác định về
giá trị thực tế của doanh nghiệp, Bộ tài chính quyết định giá trị doanh
nghiệp có mức vốn Nhà nớc ghi trên sổ kế toán đến thời điểm cổ phần
hóa trên 10 tỷ đồng, nếu từ 10 tỷ đồng trở xuống thì sẽ do bộ, Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh, tổng công ty quyết định.
15
Ban quản lý tại doanh nghiệp lập phơng án dự kiến cổ phần hóa
doanh nghiệp và dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần.
Bớc 3: Phê duyệt và triển khai thực hiện phơng án cổ phần hóa
Thủ tớng Chính phủ phê duyệt phơng án và quyết định chuyển
doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần với doanh nghiệp Nhà nớc
có giá trị thuộc vốn Nhà nớc do cơ quan có thẩm quyền đã quyết định là
trên 10 tỷ đồng, các Bộ Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển
doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần đối với doanh nghiệp có
vốn Nhà nớc đã đợc quyết định từ 10 tỷ đồng trở xuống.
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp có trách nhiệm bán cổ phần
của doanh nghiệp cho các cổ đông; triệu tập Đại hội cổ đông để thông
qua điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần.
Bớc 4: Ra mắt công ty cổ phần và đăng ký kinh doanh
Giám đốc, kế toán trởng doanh nghiệp Nhà nớc bàn giao cho hội
đồng quản trị công ty cổ phần; lao động, tiền vốn, tài sản, danh sách, hồ
sơ cổ đông và toàn bộ các hồ sơ tài liệu sổ sách của doanh nghiệp (trớc
sự chứng kiến của ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp và đại diện cơ
quan quản lý vốn và tài sản Nhà nớc).
Hội đồng quản trị công ty cổ phần hoàn tất các công việc còn lại,
đăng ký kinh doanh theo quy định hiện hành.
16
V. Một số vấn đề liên quan đến việc thực hiện chi
phí Doanh nghiệp Nhà nớc.
Xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc trớc khi cổ phần hóa.
VI- Tiến trình cổ phần hóa trong thời gian qua
chậm lại - nguyên nhân và giải pháp
1. Nguyên nhân:
- Môi trờng kinh tế đang tiếp tục có khó khăn, do ảnh hởng của
cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tề trong khu vực; thị trờng tiêu thụ sản
phẩm bị thu hẹp lại, sản phẩm tồn kho nhiều, giá cả hầu hết các mặt
hàng giảm xuống. Tốc độ tăng trởng kinh tế của khu vực doanh nghiệp
Nhà nớc đạt thấp nhất trong các năm gần đây.
- Cơ chế chính sách cổ phần hóa chậm đợc ban hành đồng bộ,
thiếu cụ thể, quy trình xác định giá trị doanh nghiệp quá phức tạp, còn
nhiều điểm cha phù hợp. Môi trờng kinh tế cha thực sự bình đẳng, cha
tạo đợc mặt bằng thống nhất về cơ chế chính sách cho các thành phần
kinh tế cùng cạnh tranh phát triển.
- Phần lớn các doanh nghiệp Nhà nớc đều thiếu vốn, công nợ dây
da nhiều, công nghệ kỹ thuật lạc hậu, lao động d thừa, sản phẩm làm ra
khó tiêu thụ, kém khả năng cạnh tranh, do đó cha hấp dẫn ngời mua cổ
phần.
- Việc lựa chọn doanh nghiệp cổ phần hóa làm cha tốt, còn khá
nhiều doanh nghiệp kinh doanh khó khăn, hiệu quả thấp, tình hình tài
chính không lành mạnh, cha có biện pháp củng cố nhng đã đa vào kế
18
hoạch cổ phần hóa, dẫn đến một số doanh nghiệp không triển khai đợc
hoặc việc bán cổ phần kéo dài.
- Việc tổ chức chỉ đạo triển khai ở một số bộ, ngành, địa phơng và
tỏng công ty Nhà nớc cha sâu sát, kịp thời. Một số bộ ngành, địa phơng,
tổng công ty Nhà nớc cha nhận thức đầy đủ ý nghĩa chủ trơng cổ phần
hóa, do đó thiếu chủ động và cha kiên quyết triển khai thực hiện.
- Việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc đơng nhiên có ảnh h-
ởng đến vị trí công tác, việc làm và quyền lợi của một bộ phận cán bộ
quản lý đợc tiếp tại doanh nghiệp Nhà nớc và các cơ quan quản lý Nhà
mới, các quy định của pháp luật phải cụ thể, rõ ràng, thống nhất và ổn
định để tạo sự kích thích cho sản xuất kinh doanh phát triển, tạo sự hấp
dẫn đối với ngời đầu t. Nhanh chóng sửa đổi một số quy định hiện hành
cha phù hợp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Nhà n-
ớc thực hiện cổ phần hóa.
- Tạo lập môi trờng thuận lợi cho việc hình thành và phát triển
công ty cổ phần. Chú trọng đến việc ổn định tiền tệ, giảm tốc độ lạm
phát, tăng cờng và hoàn thiện công tác kiểm toán, có chính sách hỗ trợ
về tài chính nh miễn thuế lợi tức, thuế thu nhập trong thời gian đầu của
doanh nghiệp cổ phần hóa để kích thích các thành phần kinh tế tham gia
mua cổ phiếu, sớm đa thị trờng chứng khoán vào hoạt động để thúc đẩy
việc hình thành và phát triển công ty cổ phần.
- Tạo ra "sân chơi" bình đẳng giữa doanh nghiệp Nhà nớc và công
ty cổ phần, giữa các doanh nghiệp Nhà nớc với các loại hình doanh
nghiệp khác về những điều kiện kinh doanh.
- Lựa chọn doanh nghiệp Nhà nớc là loại hình công ty cổ phần để
có cổ phần hóa, chuyển toàn bộ hay chuyển một bộ phận doanh nghiệp
Nhà nớc sang công ty cổ phần và tổ chức công ty cổ phần nh thế nào để
phát huy đợc u thế của hình thức này, đồng thời nâng cao đợc hiệu quả
kinh tế.
20
- Chính phủ cần tăng cờng chỉ đạo và thờng xuyên kiểm điểm tiến
độ triển khai cổ phần hóa của các bộ, ngành, các địa phơng và các tổng
công ty, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vớng mắc, biểu dơng những đơn vị
làm tốt, phê bình những đơn vị triển khai yếu kém.
- Đối với cán bộ các cấp quản lý trực tiếp doanh nghiệp đợc giao
nhiệm vụ triển khai cổ phần hóa nếu không đủ năng lực hoặc không
nghiêm túc chấp hành chủ trơng cổ phần hóa thì phải chọn ngời khác
thay thế.
- Tăng cờng đẩy mạnh công tác tuyên truyền về cổ phần hóa trên
chuyển đổi, vốn điều lệ của công ty đã tăng trên 3 lần. Sau đó bộ phận
còn lại của công ty Giấy Hải Phòng cũng đợc cổ phần hóa và hợp nhất
với công ty cổ phần Hải Âu trở thành công ty cổ phần Giấy Hải Phòng
(năm 1999). Năm 2005 công ty cổ phần giấy Hải Âu đợc chấp thuận
đăng ký giao dịch trên sàn thứ cấp Hà Nội. Sự hợp nhất sau cổ phần hóa
giữa 2 bộ phận này đã tạo động lực mới cho Hapaco, đa doanh nghiệp
này bớc lên thị trờng chứng khoán năm 2000 với giá cổ phiếu luôn dẫn
đầu tỷ suất lợi nhuận trên vốn mấy năm gần đây đều đạt trên 40%/năm.
Trong 5 năm qua, Hapaco có sự tăng trởng khá nhanh chóng: vốn điều
22
lệ từ 10,8 tỷ đồng tăng lên 32 tỷ đồng, đặc biệt, vốn tự có tăng từ hơn 8
tỷ đồng lên gần 70 tỷ đồng. Theo báo cáo tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh tháng 8/2005: doanh thu đạt 8,3 tỷ đồng, lợi nhuận đạt
409,3 triệu đồng, ớc doanh thu tháng 9/2005 là 12 tỷ đồng. Trớc đây,
Hapaco chỉ có vài chục cổ đông thì nay công ty có tới gần 1.000 cổ
đông, trong đó có 18 cổ đông là pháp nhân trong nớc và 38 cổ đông là
ngời nớc ngoài. Mục tiêu đến năm 2010, Hapaco sẽ trở thành doanh
nghiệp mạnh của Hải Phòng với doanh thu đạt 1.000 tỷ đồng/năm.
Từ một doanh nghiệp trớc bờ vực phá sản, Hapaco đã vơn lên trở
thành một công ty có tiếng trên thị trờng chứng khoán. Với Hapaco, cổ
phần hóa chính là con đờng đúng đắn để đi đến đợc thành công ngày
hôm nay.
23
Kết luận
Cổ phần hóa trớc hết ngời lao động trong DNNN có trách nhiệm
hơn vì ngời công nhân khi đã mua cổ phiếu thì họ có trách nhiệm cao
hơn đối với công việc của chính họ. Nếu họ không làm việc có hiệu quả
thì cổ tức của họ sẽ bị giảm đi. Sau khi cổ phần hóa, giả dụ công ty rơi
vào tình trạng xấu thì ngời công nhân phải chấp nhận rủi ro, họ phải
gánh chịu rủi ro, rủi ro ở đây đợc chia đều.
Tap chi nghien cuu kinh te
7. Website :
Mpi.Gov.vn
Mof.Gov.vn
VnExpress.com.vn
Tapchicongsan.org.vn
Dantri.com.vn
Vneconomy.vn
Thongtinphapluatdansu.wordpress.com
Nhandan.com.vn
25
Mục lục
lời nói đầu 2
nội dung 4
I- Những VấN Đề chung về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc 4
1. Khái niệm cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nớc: 4
2. Công ty cổ phần: 5
II- Tại sao phải cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nớc 7
1. Đặc điểm của các doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam hiện nay:.7
2. Sự hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nớc: 7
3. Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc: 8
III- quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam -
những thành tựu và hạn chế 10
1. Quá trình thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc: 10
2. Những kết quả đạt đợc: 11
3. Những hạn chế: 12
3. 1. Từ phía Nhà nớc và địa phơng: 12
3. 2. Từ phía ngời lao động: 13
3.3. Từ phía doanh nghiệp: 13
3.4. Những nguyên nhân khác: 14