Mục lục
A- Đặt vấn đề
B- Nội dung
I. Một số vấn đề định h ớng xã hội chủ nghĩa
trong phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần ở Việt Nam.
1. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ chủ nghĩa t bản là một
tất yếu lịch sử.
2 .Bản chất giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh
tế .
II. Thực trạng giữ vững định h ớng xã hội chủ
nghĩa từ khi đổi mới
1. Những thành tựu đổi mới trong phát triển kinh tế theo định hớng
xã hội chủ nghĩa .
2. Quyết điểm lệch lạc và những nguyên nhân dẫn đến sự lệch hớng
và một số khía cạnh cụ thể trong đổi mới phát triển kinh tế.
3. Những vấn đề đặt ra hiện nay :
III. Quan điểm và những gíải pháp cơ bản tiếp
tục giữ vững định h ớng XHCN trong đổi mới phát
triển kinh tế .
1. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vững định hớng kinh tế và
các vấn đề khác.
2.Những giải pháp cơ bản tiếp tục giữ vững định hớng phát triển kinh
tế trong CNXH.
C. Kết luận
a. đặt vấn đề
1
Thế kỷ 20 đã kết thúc và một thế kỷ mới xuất hiện. Thế kỷ 21 một
thế kỷ của những con rồng châu á. Trên thế giới mỗi nớc có một nền
kinh tế riêng và đều phát triển theo nền kinh tế riêng của họ. Những đặc
điểm chung là làm sao cho mức tăng trởng kinh tế cao, đời sống nhân dân
những lý lẽ biện hộ cho chủ nghĩa ngày nay không thể đứng vững trớc
những thực tế phức tạp, đầy mâu thuẫn của thế giới t bản. Ngời ta cũng
nhận thấy một nghịch lý không có lời giải đáp của chế độ t bản, sự sản xuất
càng phát triển, sự xã hội hoá lao động ngày càng cao của cải ngày càng dồi
dào thì càng tạo ra nhiều ung nhọt về mặt xã hội càng làm cho con ngời bị
tha hoá hơn bao giờ hết. Sự bất công xã hội sự phân cực giàu nghèo và bất
bình đẳng xã hội, sự tớc đoạt các giá trị văn hoá tinh thần của loài ngời là
những điểm yếu chỉ mang của chủ nghĩa t bản mà dù giai cấp t sản có cố
gắng che đậy bao nhiêu vẫn cứ lộ ra. Vì vậy lơng tri nhân loại dù có trải qua
vẫn xao xuyến giữa lựa chọn này hay lựa chọn khác, cuối cùng sẽ phải hớng
tới một xã hội tốt đẹp hơn xã hội t bản là xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa
Mác-Lê Nin.
ý niệm về thời kỳ quá độ trong sự phát triển của tự nhiên, xã hội và
con ngời không phải đến Mác mới có. Cả nhà khoa học trớc Mác cũng đã
đề cập nhiều đến ý niêm này trên nhiều mặt của quá trình phát triển của thế
giới. Mác chỉ vận dụng ý niệm về sự quá độ để nghiên cứu lĩnh vực xã hội
loài ngời và phát hiện ra quy luật thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế
xã hội mà thôi.
Ngày nay, sau hơn 150 năm ra đời, những t tởng của Mác về chủ
nghĩa cộng sản đã tỏ ra đứng vững trớc những thử thách của thời gia. Cho
dù các học giả t sản cố tình phủ nhận những t tởng của Mác thì sự thật hiển
nhiên của thế giới t bản hiện nay đã minh chứng những luận điểm của Mác
là đúng, là có tính phổ biến không thể bác bỏ. Cho dù bớc quá độ lên chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới có khó khăn thế nào
đi nữa, nhất là sau sự sụp đổ của các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và
Liên Xô thì xu hớng tất yếu của lịch sử vẫn là đi tới chủ nghĩa Cộng Sản.
Chỉ có điều khi con đờng phát triển của lịch sử không thẳng tắp mà luôn
quanh co, khúc khửu có lúc tạm thời tụt lùi.
3
Do không nhận thức đợc tính phức tạp, lâu dài của thời kỳ quá độ từ
đã qua, tìm con đờng đi mới, tìm những nội dung và những hình thức mới
của cách mạng , đặc biệt là về mục tiêu xã hội chủ nghĩa và những con đ-
ờng lịch sử cụ thể đi tới mục tiêu đó, chuẩn bị cho các cuộc tấn công trong
tơng lai.
4
Những ngời cộng sản và nhân dân lao động ở các nớc đó đã nhận rõ
bản chất của cái gọi là cải tổ phản cách mạng tiến hành ở nớc họ. Trong
báo cáo tại đại hội Liên Xô đoàn các đảng cộng sản - đảng cộng sản Liên
Xô ngày 2/7/1995 Ôsênhin , uỷ viên ban chấp hành liên đoàn đã nói, những
cải tổ phản cách mạng hành động một cách sảo quệt có tính toán nhng
giờ đây đại đa số nhân dân đã nhìn thấy rõ tính chất thâm độc của trò lừa
dối đó. Trong các năm 1993,1994, các đảng xã hội dân chủ ở cộng hoà
Ba Lan đảng xã hội chủ nghĩa Hungary, Đảng xã hội chủ nghĩa Bungary đã
dành đợc những thắng lợi to lớn trong các cuộc bầu cử và đã trở thành các
đảng chủ trì liên minh cầm quyền. Các đảng đó vẫn đứng trên lập trờng
Mác xít đổi mới t duy về chủ nghĩa xã hội hay đã chuyển sang lập trờng
xã hội dân chủ, đó là điều chúng ta cần phải theo dõi. Tuy nhiên, phải
ghi nhận một điều là cánh tả đang trỗi dậy trong đời sống chính trị ở Liên
Xô, Đông Âu ngày càng đợc lòng dân. Nhân dân ngày càng chán ghét các
chính đảng và chính khách t sản mới nảy sinh từ sự phản bội có tổ chức
trong những năm 1989 1991, có sự đạo diễn và trợ giúp của chủ nghĩa t
bản thế giới. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu
không xoá đợc những thành tựu, những ký ức tốt đẹp của nhân dân lao động
về cách mạng tháng mời Nga, về thắng lợi của những năm xây dựng và bảo
vệ tổ quốc. Sự sụp đổ đó càng không phải là phong trào cộng sản, t tởng
của Mác, Lê Nin, Ăngen đã chết .
ở các nớc t bản phát triển, giai cấp công nhân hiện đại vẫn tồn tại nh
một lực lợng chính trị đối lập lớn của chủ nghĩa t bản, là lợng lao động chủ
yếu sản xuất ra những sản phẩm hữu hình và vô hình. Trong những năm
qua, các chính sách xã hội của các nớc t bản nhằm tạo ra một sự hoà hợp
nghĩa t bản còn là chế độ ngời bóc lột ngời thì sự dã man vẫn tồn tại trong
quan hệ sản xuất cũng nh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Việc xem xét nội dung thời đại và bối cảnh quốc tế của cuộc cách
mạng nớc, xem xét quy luật phát triển của chủ nghĩa t bản cho phép ta vững
tin vào sự lựa chọn định hớng phát triển của đất nớc hi vọng vào một sự
phát triển t bản chủ nghĩa của đất nớc theo quy mô nớc t bản phát triển và
nhất thể hoá kinh tế đã giúp ta nhanh chóng đi lên. Việt Nam có lòng kiên
trì giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa quán triệt để định hớng đó trong
mọi mặt của cuộc sống chúng ta mới có thể khai thác cái hiện đại và văn
minh của chủ nghĩa t bản nh vốn liếng, kinh nghiệm tổ chức quản lý trong
sản xuất. Chỉ có một hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mạnh mẽ vững
chắc chúng ta mới có thể đi lên một cách nhanh chóng.
6
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp cách mạng
lâu dài gian khổ nhng nhất định sẽ thắng lợi. Đặc biệt ở nớc ta cũng có
nhiều điều kiện thuận lợi làm tiền đề cơ bản cho công cuộc xây dựng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam.
Công cuộc xây dựng lại đất nớc thực sự là một cuộc cách mạng lớn,
giai đoạn thứ hai của cuộc cách mạng Việt Nam cuộc cách mạng chứa đựng
trong lòng nhân dân niềm tin vững chắc vào Đảng và nhà nớc đa đất nớc
sánh vai với các cờng quốc Năm Châu.
2. Bản chất giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa trong phát triển
kinh tế .
Những quan điểm về định hớng và giữ vững định hớng xã hội chủ
nghĩa trong phát triển kinh tế. Trong những năm qua Đảng ta đã kiên trì xây
dựng con đờng xã hội chủ nghĩa trớc những cuộc khủng hoảng toàn diện
sâu sắc phê phán gay gắt cha từng thấy từ nhiều hớng. Trong bối cảnh phức
tạp nh vậy Đảng ta đã đa ra đờng lối để phát triển kinh tế. Đối với nớc ta
không còn con đờng nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do cho
nhân dân dới ngọn cờ của Đảng, phát huy cao độ truyền thống anh hùng bất
trọng yếu, đảm đơng những hoạt động mà các thành phần kinh tế khác
không có điều kiện đầu t kinh doanh.
Kinh tế tập thể cần đổi mới tổ chức và phơng thức hoạt động có hiệu
quả thiết thực phát triển rộng rãi và đa dạng trong các ngành nghề, với quy
mô và mức độ tập thể hoá khác nhau.
Kinh tế cá thể có phạm vi tơng đối lớn, đợc phát triển trong các
ngành nghề ở cả thành thị và nông thôn.
Kinh tế t bản t nhân đợc kinh doanh trong các ngành có lợi cho quốc
kế dân sinh đợc pháp luật quy định.
Kinh tế gia đình đợc khuyến khích phát triển một cách rộng rãi.
Bên cạnh việc phát triển kinh tế thì chúng ta còn phải đẩy mạnh hơn
nữa sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ coi đó là quốc
sách hàng đầu để phát huy nhân tố con ngời, động lực trực tiếp của sự phát
triển kinh tế bằng cách phổ cập hết cấp I nâng cao dân trí, đào tạo phần lớn
nghề nghiệp cho thanh niên, đồng thời đào tạo một đội ngũ cán bộ tốt, các
chuyên gia khoa học và công nghệ
Chính sách tiếp theo mà Đảng và nhà nớc đề ra là đổi mới hệ thống
chính trị và vấn đề dân chủ xã hội chủ nghĩa:
Trong hệ thống chính trị nớc ta Đảng là ngừơi lãnh đạo cao nhất để
đảm bảo mọi quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân, nhân dân đã thực hiện
quyền làm chủ của mình thông qua bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân
các cấp phải thực sự có đầy đủ quyền lực đợc nhân dân uỷ nhiệm. Đồng
thời tạo mối quan hệ gần gũi giữa đảng Nhà nớc và nhân dân lao động.
Cuối cùng là vấn đề về đảng: Nắm vững bản chất cách mạng và khoa
học của chủ nghĩa Mác Lê Nin,vận dụng một cách đúng đắn, thích hợp với
8
điều kiện nớc ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác Lê Nin một cách sáng
tạo.
Giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế. Trớc
hết để giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa thì đòi hỏi chúng ta phải thống
dân.Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và
chế độ công hữu về các t liệu sản xuất chủ yếu. Có nền văn hoá tiên tiến,
9
đậm đà bản sắc dân tộc. Con ngời đợc giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất
công, làm theo năng lực hởng theo nhu cầu, có cuộc sống ấm no tự do hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Các dân tộc trong nớc bình
đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Có quan hệ hữu nghị và
hợp tác với nhân dân tất cả các nớc trên thế giới.
Cơ cấu kinh tế kết thúc thời kỳ quá độ phải khác với cơ cấu kinh tế
trong thời kỳ quá độ, phải trở thành một cơ cấu thuần nhất hơn trong đó các
nhân tố kinh tế xã hội chủ nghĩa sẽ nổi trội lên trong các quan hệ kinh tế.
Hiện nay còn quá sớm để dự báo và mô tả về những quan hệ kinh tế cụ thể
lúc đó bởi vì những hình thức kinh tế của chế độ XHCN tơng lai sẽ phụ
thuộc vào sự vận động của chính những hình thức kinh tế trong thời kỳ quá
độ. Có một điều chắc chắn là việc chế độ t hữu chuyển sang chế độ công
hữu về cơ bản là một quá trình kinh tế lâu dài, thông qua những hình thức
đan xen, kết hợp các yếu tố t hữu và công hũ để tạo ra một động lực về kinh
tế thực sự cho mọi thành phần kinh tế quốc dân hôm nay. Những hình thức
đó không chết cứng mà sẽ biến đổi không ngừng đi theo với sự phát triển
của lực lợng sản xuất. Khi kết thúc thời kỳ quá độ, chúng ta sẽ có một cơ sở
hạ tầng xã hội chủ nghĩa sạch sẽ . Nhng chắc chắn rằng chế độ ngời bóc
lột ngời sẽ khôngg còn nữa. Đồng thời đời sống nhân dân cũng dần đợc
nâng cao. Qua việc giữ vững định hớng XHCN trong phát triển kinh tế thì
nớc ta cũng kết hợp việc xây dựng quan hệ mới bao gồm ba khâu cơ bản là
quan hệ sở hữu và quan hệ phân phối, quan hệ quản lý. Trong đó quan hệ sở
hữu và quan hệ phân phối là hai khâu quan tọng nhất. Chế độ sở hữu về t
liệu sản xuất là yếu tố cơ bản nhất của quan hệ sản xuất. Nó phù hợp với
yêu cầu phát triển của lực lợng sản xuất là điều kiện không thể thiếu đợc để
lực lợng sản xuất phát triển. Trong mối quan hệ tơng tác đó thì quan hệ sản
xuất nói chung với chế độ t hữu nói riêng là điều kiện, là phơng tiện kinh tế
Trong thê kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, những t tởng tự do kinh tế đã góp phần
đa lại những thay đổi lớn lao trong năng lực hoạt động của con ngời và xã
hội. Tuy vậy, tình trạng độc quyền và sự hỗn loạn về kinh tế gây ra những
phản ứng xã hội và chính trị đối với tình trạng này ở các nớc t bản chủ
nghĩa Châu Âu đã gây ra sự đổ vỡ hệ thống kinh tế thị trờng tự do trên quy
mô toàn thế giới vào những năm 20 của thế kỷ này.
Do cuộc khủng hoảng của các nớc theo khuynh hớng XHCN coi đó
là cách loại bỏ tốt nhất nhng vấn đề chính là phải khắc phục đợc hai nhợc
điểm chính của hệ thống kinh tế thị trờng tự do :cạnh tranh vô chính phủ là
bất bình đẳng về xã hội chính vì vậy các nhà kinh tế ở nớc ta đã nhận ra
rằng để mở rộng nền kinh tế thị trờng thì phải có sự can thiệp của kinh tế
nhà nớc. Nhà nớc tham ra phân phối lại các loại thu nhập của các tầng lớp
dân c thông qua hệ thống thuế khoá, xây dựng bộ luật quan trọng để xác
lập khuôn khổ pháp luật, trật tự nền kinh tế thị trờng, tổ chức các hình thức
bảo hiểm quan trọng trong xã hội. Chi tiêu ngân sách của chính phủ đợc đề
11
cao xây dựng và phát triển các doanh nghiệp nhà nớc. Trong các ngành sản
xuất hàng hoá và dịch vụ công cộng quan trọng, những lĩnh vực then chốt,
mũi nhọn của nền kinh tế nh:tiền tệ, tài chính, công nghiệp nặng, cơ sở hạ
tầng đợc coi là công cụ can thiệp trực tiếp và chủ yêú để giải quyết việc
làm và thu nhập , kích thích tăng nhu cầu tiêu dùng bảo đảm duy trì tốc độ
tăng trởng ổn định nền kinh tế và giải quyết đợc về cơ bản các chính sách
xã hội trong hàng chục năm qua ở nớc ta. Thực tế thì trên thế giới không
một nớc nào phát triển lại không sử dụng các xí nghệp nhà nớc ở các lĩnh
vực quan trọng nhằm thực hiện chức năng kinh tế vĩ mô, đặc biệt vì lợi ích
toàn xã hoội nh một số ngành thuộc cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, (năng l-
ợng, giao thông vận tải, bu điện, ) Những ngành công nghiệp nặng ( luyện
kim, đóng tàu ) những ngành kinh tế chiến lợc bảo đảm đẩy nhanh tiến bộ
kỹ thuật trên cơ sở cạnh tranh của đất nớc trên nền kinh tế thế giới, những
ngành thuộc về sản xuất và dịch vụ các loại hàng hoá công cộng. Nh vậy dù
đầu t và kỹ thuật hiện đại vào để phát triển kinh tế trong nớc. Tính đến cuối
năm 1996 đã có trên 700 công ty lớn nhỏ bỏ vốn đầu t vào nớc ta với số tiền
trên 22 tỷ dô la nằm trong 1800 dự án phát triển kinh tế thuộc nhiều ngành
nh : công nghiệp , nông nghiệp, thơng mại, du lịch, dịch vụ ngân hàng, tài
chính chúng ta cũng đã thiết lập mối quan hệ với 120 nớc trên thế giới,
xoá bỏ thế bị bao vây kinh tế tạo ra thế và lực mới để cạnh tranh trên thị tr-
ờng thế giới.
Quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc
đã mang lại kết quả đáng kể nh:
Việt nam là một trong những nớc có nền kinh tế nhanh nhất thế giới:
tốc độ tăng trởng GDP từ 1991-1996 là 8,4%,1997 là 8,8% thu nhập đầu
ngời tăng trên 5% mỗi năm.
Lạm phát giảm từ mức độ siêu lạm phát 8% xuống còn một con số
thấp đáng kể là 2,1% trên 1 năm tơng tơng với quý một năm 1997 thâm hụt
ngân sách đợc duy trì dới 2% của GDP trong năm 1996.
Tích luỹ trong nớc tăng năm lần so với GDP từ 3% đến 17% của
GDP đầu t phát triển gấp 3 lần từ 11,6% của GDP năm 1989 lên 28% của
GDP năm 1996.
Sản lợng nông nghiệp tăng trởng gấp đôi, Việt Nam từ một nớc thiếu
lơng thực trở thành một trong những nớc xuất khẩu lúa gạo lớn nhất thế
giới.
Đời sống nhân dân Việt nam đợc cải thiện rõ rệt, tỷ lệ nghèo khổ của
Việt nam đã giảm 35% trong vòng có 10 năm từ 1996 đến nay.
2. Quyết điểm lệch lạc và những nguyên nhân dẫn đến sự lệch h-
ớng và một số khía cạnh cụ thể trong đổi mới phát triển kinh tế.
Đổi mới chậm chạp cha đáp ứng đợc yêu cầu của thị trờng xây dựng
quan hệ sản xuất mới, lúng túng, lạc hậu,, buông lỏng hội nhập còn hạn
chế, yếu kém, gây ô nhiễm môi trờng trầm trọng. Việc khủng hoảng sản
xuất thừalà căn bệnh cố hữu của các nền kinh tế trong thời gian hiện nay .
ở đây, do mức cung hàng hoá vợt quá mức cầu không có khả năng thanh
tiêu dùng của xã hôị t năm 1988-1990 đều lớn hơn mức GDP hàng năm .
Do vậy không có tích luỹ nội bộ t nền kinh tế trong nớc . Từ năm 1988 -
1990 tiết kiệm đều là một con số âm (1988:-25;1989:-50;1990:-10).
3. Những vấn đề đặt ra hiện nay :
Cuộc khủng hoảng tài chính đông nam á đã và đang gây ra
ngững tác động bất lợi cho Việt Nam nguồn đầu t nớc ngoài đã giảm
khoảng 60% , xuất khẩu trì trệ, sự sụt giảm của đầu t trực tiếp nớc ngoài và
14
sự đình tủa xuất khẩu đợc đánh giá tơng với 12% của GDP tức 30 tỷ USD ,
tỷ trọng đầu t trong GDP giảm từ 27% xuống còn 20%. ảnh hởng của khu
vực làm cho khẳ năng cạnh tranh của Việt Nam yếu đi, tỷ giá thực tế của
tiền Việt Nam vẫn còn cao hơn khoảng 10% ,tốc độ trởng GDP chậm lại .
Để vợt qua những thử thách ,Việt Nam cần phát huy đối đa nguồn lực
trong nớc giải phóng mọi năng lự sản xuất cả toàn dân,của mọi thành phần
kinh tế đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài; phải sử dụng tập
trung có hiệu quả hơn mỗi đồng Việt Nam, mỗi $ đầu t cho Việt Nam
không đợc thiên v ề các công trình đòi hỏi quá nhiều vốn thu hút ít lao
động,thiên về dân c thành thị , có mức bảo hộ cao.
Cần đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn khai thác có hièu
quả tiềm năng đa đạng của nông lâm ngh nghiệp , tăng giá trị và khối lợng
hàng xuất khẩu ,nâng cao thu nhập và sức mua cua ngời dân , khắc phục
thu nhập thành thị tăng quá nhanh hơn thu nhập nông thôn. Nh vậy sẽ cho
phép giải phóng và phát huy nguồn lực con ngời ở nông thôn yếu tố cơ
bản của sự phát triển nhanh bền vững.
Cần đẩy nhanh việc cải tiến và hoàn thiện hệ thống ngân hàng, xắp
xếp lại các ngân hàng thơng mại , có phần củng cố các ngân hàng thơng
mại quốc doanh, xây dựng một khuôn khổ pháp lý đảm bảo cho ngân hàng
hoạt động an toàn và tạo ra một sân chơi bằng phẳng trong lĩnh vực này .
Cần đẩy mạnh chính thơng mại tự do theo hớng tạo điều kiện dễ dàng
cho các doanh nghiệp đợc xuất nhập khẩu trực tiếp các hàng hoá không bị
Trong quá trình xây dựng kinh tế theo định hớng XHCN Đảng ta đã
đề ra một số giải pháp sau :
Thị trờng hiện nay là một trong những yếu tố quan điểm của sự phát
triển kinh tế. Vì vậy phải đảm bảo thị trờng và mở rộng thị trờng, cả ở trong
nớc và ngoài nớc cho các thành phần kinhtế có điều kiện mở rộng sản xuất
kinh doanh. Nên phát động phong trào dùng hàng nội, hạn chế nhập khẩu
những mặt hàng mà trong nớc có khả năng sản xuất tốt, đảm bảo chất l-
ợng
Nhà nớc thực hiện độc quyền ngoại thơng tạo điều kiện cho sự phát
triển của các doanh nghiệp nhà nớc . Vì chỉ có nhà nớc mới có thể định h-
ớng đợc các thành phần kinh tế khác theo CNXH.
Cải tiến các chính sách về huy độn nguồn vốn , ngân hàng, sao cho
vừa góp phần tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển.
Đảm bảo sự thu nhập của các cán bộ công nhân viên trong khu vực
kinh tế nhà nớc phải cao hơn ở ngoài khu vực kinh tế nhà nớc. Tổ chức
Đảng trong các doanh nghiệp nhà nớc phải thật sự trở thành hạt nhan lãnh
đạo quá trình sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác của doanh
nghiệp.
Giải pháp thứ hai là phải thờng xuyên cải tiến và đổi mới cơ chế quản
lý. Giải pháp này liên quan trực tiếp tới việc hoàn thành quan hệ sản xuất
16
trên mặt sở hữu, tổ chức sản xuất kinh doanh và phân phối tiêu thụ sản
phẩm. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện cơ chế thị trờng kết hợp với điều
tiết theo kế hoạch vĩ mô của nhà nớc. Điều đáng nói ở đây là phải tăng cờng
công tác kiểm kê và công tác kiểm soát của nhà nớc đối với tất cả các thành
phần kinh tế. Đối với các doanh nghiệp nhà nớc làm ăn thua lỗ thì phải giải
thể. Cố gắng phục hồi các doanh nghiệp còn có thể tồn tại và phát triển đợc.
Hớng dẫn các công ty trách nhiệm hữu hạn và các công ty t bản nớc ngoài
tuân thủ đúng luật đầu t và hệ thống luật pháp của Việt Nam Nhà nớc cần
thành lập các công ty cổ phần, mở rộng thị trờng chứng khoán, tái tạo công
nay phải do những con ngời Việt Nam thực hiện. Dù cho những yêu cầu cụ
thể của nhân cách con ngời Việt Nam ngày nay có thay đổi nh thế nào thì
cốt lõi của nhân cách đó vẫn là nhân cách ngời cách mạng. Quan niệm cho
rằng sự phát triển xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải giữ từ
mô hình nhân cách ngời cách mạng, ngời đảng viên u tú, anh bộ đội cụ Hồ.
C. Kết luận
Tóm lại giữ vững xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần ở Việt Namlà một tất yếu lịch sử. Đây là một đờng
lối hết sức đúng đắn mà Đảng và nhà nớc đề ra. Vì vậy để có một đất nớc
có nền kinh tế phát triển, giữ vững bản sắc dân tộc đồng thời kết hợp truyền
thống yêu nớc của nhân ta thì chúng ta phải thực hiện theo đờng lối đó.
Chính đờng lối này đã tạo điều kiện khẳng định nền kinh tế của nớc ta nền
kinh tế của nớc ta trong những năm qua bằng những mức tăng trởng đáng
kể, đời sống nhân dân đợc cải thiện. Đặc biệt là con đờng mở rộng thị tr-
ờng, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc ngày càng vững
mạnh. Từ đó tạo ra nhiều mối quan hệ kinh tế văn hoá giữa các nớc trên
thế giới. Nhng ngoài những thành tựu mà chúng ta đạt đợc ở trên thì chúng
ta vẫn còn một số nhựơc điểm mà nớc ta cần phải khắc phục, điều chỉnh lại
để tạo nên một đất nớc hoàn thiện hơn.
18
Tài liệu tham khảo.
1. GS. Trần Xuân Thờng - Định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam một
số vấn đề lý luận cấp bách. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội
1996
2. Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
. Nhà xuất bản sự thật, Hà nội 1997 trang 9
3. Hồ chí minh toàn tập - Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội 1989
4. Tạp chí Đảng Cộng Sản10/1997
5. Tạp chí nghiên cú kinh tế số 215- tháng 4/1996
6. Văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ V,VI,VII,VIII và