TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI
ĐỀ ÁN
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA
VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS. NGUYÊN DUY BỘT
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN ĐĂNG LÂM
Lớp :
HÀ NỘI - 2001
LỜI NÓI ĐẦU
1
Vào thời điểm phần lớn các nước trên thế giới đang chuẩn bị hành
trang bước vào thế kỷ XXI. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á
xảy ra là một cú xốc lớn làm đảo lộn tình hình chung ở một số nước về các
mặt kinh tế chính trị và xã hội. Cuộc khủng hoảng này đã gây ra những
biến động trong nội các chính phủ một số nước và đe doạ sự ổn định của
những nước láng giềng khác trong khu vực.
Việt nam là một nước trong khu vực do vậy không thể tránh khỏi cơn
lốc xoáy của cuộc khủng hoảng, ảnh hưởng của nó đến các lĩnh vực kinh tế
- xã hội đã làm chững lại công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.
Tuy vậy nếu so với các nước trong khu vực chúng ta ít bị ảnh hưởng
hơn so với họ vì thị trường tài chính Việt Nam chưa phát triển, khi xảy ra
khủng hoảng chúng ta chưa có thị trường chứng khoán. Các luồng vốn đầu
tư vào Việt Nam có độ an toàn cao hơn do chủ yếu là FDI và ODA.
Cuộc khủng hoảng đã đi qua được gần 4 năm nhưng nó còn để lại cho
đất nước những thách thức cam go, vấn đề đặt ra là tự do hoá thương mại
và toàn cầu hoá là điều tất yếu xảy ra, nhưng khi đã tham gia vào toàn cầu
hoá ảnh hưởng của khủng hoảng dây chuyền sẽ không loại trừ một nước
nào nhưng mức độ ảnh hưởng còn tuỳ thuộc vào các nước, các chính sách
kinh tế của từng nước.
do quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) tổ chức, sự đóng góp của một số quốc gia khác
trong đó có Úc 1 tỷ đô la.
Những biến cố này dã dẫn đến sự thay đổi trong chính phủ Thái Lan.
Những diễn biến ở Thái Lan chỉ là cái đầu tiên trong những biến cố
bất lợi quan trọng trong hệ thống tài chính Châu Á đến hết năm 1997 và
tiếp tục biến động trong năm 1998. Maylaysia là nước thứ 2 ở Châu Á.
Cuối năm 1997 chịu sự tấn công vào đồng tiền (đồng Ringgit) trên thị
trường tài chính quốc tế. Điều này đã dẫn đến sự mát giá của đồng Ringgit
hơn 30% (488 Ringgit/1đô la đầu năm 1998) và sự phản đối của chính phủ
Malaysia về khả năng âm mức quốc tế của những kẻ đầu cơ tiền tệ nhằm
gây hại cho nền kinh tế và sự tăng trưởng. Tiếp đó lại là cuộc khủng hoảng
3
trầm trọng hơn đã xảy ra trong hệ thống ngân hàng của Inđônêxia. Đồng
Rupi của Inđônêxia mất giá xuóng mức khoảng 10.000 đến 10.700 Rupi/1
đô la. Mỹ (đầu tháng 1/1998) mặc dù đã có sự trợ giúp 38 tỷ đô la của IMF
và việc phải đóng cửa một số ngân hàng trong nước. Tình hình đang xấu đi
của Inđônêxia lại tăng lên gấp bội khi cháy rừng xảy ra, gây ra vấn đề môi
trường nghiêm trọng trong vài tháng cho chính Inđônêxia và các quốc gia
láng giềng ở Đông Nam á.
Hàn Quốc là nước thứ 4 ở Châu á phải gánh chịu cuộc khủng hoảng
(tháng 12/1997) đồng tiền mất giá lớn nhưng được sự trợ giúp lớn nhất của
IMF (57 tỷ đô la Mỹ). Đầu tháng 1/1998 đồng Pêsô (PS) của Philipin đã
giảm 46,5 PS/1 đô la Mỹ. Hồng Kông và Việt Nam cũng phải chịu ảnh
hưởng lan toả của cuộc khủng hoảng Hồng Kông giảm giá trị tiền tệ 33%
và Việt Nam 20%.
Cuộc khủng hoảng này cũng đã ảnh hưởng đến các quốc gia khác như
Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Bắc Mỹ và liên minh Châu Âu. Tác
động của chính khủng hoảng tài chính Châu Á lúc đầu chỉ ở khu vực sau đó
đã lan rộng ra toàn cầu với những hậu quả tai hại ảnh hưởng tới tăng trưởng
kinh tế, việc làm, thương mại ở những nước đang phát triển.
doanh nghiệp tư nhân trong nước lại chuyển số vốn đó ra đầu tư ở nước
ngoài một cách ồ ạt khiến chính phủ không kiểm soát được. Điều này đã
dẫn đến hiện tượng nợ nước ngoài của Thái Lan chủ yếu rơi vào doanh
nghiệp tư nhân. Một nguyên nhân nữa là do chính sách tỷ giá cố định trực
tiếp hoặc gián tiếp mà các tổ chức tiền tệ ở Châu Á đều áp dụng là thắt chặt
hoặc cố định đồng tiền của họ với sự chuyển động của đô la Mỹ. Việc làm
này dẫn đến việc nhiều công ty có rủi ro lớn về tiền tệ ở Châu Á mà không
lo ngại gì về chúng. Họ từ chối mục bảo hiểm qua việc mua cổ phiếu giá trị
đầu tư phòng trường hợp hối đoái giảm. Thực tế ở những nước này phí bảo
hiểm rất cao và rất tốn. Khi tỷ giá biến động đôi chút thay vì tin vào sự ổn
định của đồng tiền họ lại đổ xô đi mua ngoại tệ làm cho tình hình tài chính
của Đông Nam Á trở nên kém hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó những nhà đầu cơ
cũng đóng vai trò lớn trong cuộc khủng hoảng. Họ vay một số lượng tiền
trong nước và đổi sang một loại tiền mạnh hơn, mạo hiểm đánh cuộc rằng
đồng tiền địa phương sẽ giảm giá trị và như vậy họ sẽ mua lại với mức giá
rẻ lợi nhuận thu được theo chênh lệch giá. Việc đầu cơ này có sự tham gia
của một số chủ ngân hàng làm cho cuộc khủng hoảng càng lan toả rộng.
5
Cuộc khủng hoảng đã làm phơi bày mặt trái của một vài thập kỷ tăng
trưởng kinh tế vượt bật ở Châu Á và những khó khăn mà các nước Đông á
phải đối mặt về cơ bản phát sinh vì sự yếu kém trong hệ thống tài chính và
trong sự quản lý. Sự kết hợp của quá trình giám sát lĩnh vực tài chính
không đầy đủ, sự đánh giá và quản lý rủi ro tài chính yếu kém, sự duy trì tỷ
giá hối đoái tương đối cố định khiến cho các ngân hàng và các công ty phải
vay vốn một lượng lớn vốn quốc tế, phần lớn trong số đó là ngắn hạn bằng
ngoại tệ và không được bảo hiểm. Theo năm tháng lượng vốn nước ngoài
này có xu hướng được sử dụng để tài trợ cho những khoản đầu tư chất
lượng kém hơn.
Mặc dù chi tiêu của lĩnh vực tư nhân và các quyết định tài trợ đã dẫn
đến cuộc khủng hoảng nhưng các vấn đề về quản lý lại làm nó trầm trọng
từng đợt đuổi bắt nhau, định chế lẫn nhau như "Hiệu ứng Đôminô" và bắt
đầu tư những chấn động tại các nước "Trung tâm nhạy cảm" không cố định
ở khu vực. Bùng nổ từ cú "sốc tỷ giá" ngày 2/7/1997 tại Thái Lan, qua
Philipine rồi Indonesia, sang Hàn Quốc và Nhật Bản, xu hướng chuyển
dịch các trung tâm khủng hoảng này sau càng phát tán những mầm mống
lây nhiễm rộng và sâu hơn, đe doạ kéo theo những tổn thất và đòi hỏi
những phối hợp quốc tế rộng lớn và mạnh mẽ hơn, tốn kém hơn với thời
gian khắc phục dài hơn. Điều này cho thấy sự gia tăng ngày càng cao về
mức độ tương tác lẫn nhau và ý nghĩa của các sự kiện, các vấn đề kinh tế
của mỗi nước tuỳ thuộc vào vị thế của chúng trong bối cảnh khi nền kinh tế
thế giới đang vận động theo định hướng tự do hoá và toàn cầu hoá.
IV- NHỮNG TÁC ĐỘNG HAI MẶT CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG.
Mỗi nước và khu vực, tuỳ theo thực tế của mình, cảm nhận những tác
động của cuộc khủng hoảng ở mức độ khác nhau. Song nhìn chung có thể
phân biệt các tác động ấy theo 2 hướng: các tác động tiêu cực và các tác
động tích cực.
1. Các tác động tiêu cực.
Hậu quả tiêu cực mà cuộc khủng hoảng gây ra là rõ ràng, toàn diện và
hết sức nặng nề cho mỗi quốc gia bị khủng hoảng, cho khu vực và cho cả
thế giới.
- Trước hết, hậu quả dễ nhận thaýa nhất và phổ biến nhất trong toàn
khu vực tại các trung tâm khủng hoảng, chính là sự mất ổn định của đồng
7
tiền và của các thị trường tiền tệ của mỗi nước và khu vực: là sự giảm sút
các luồng vốn nước ngoài đổ vào mỗi nước và toàn khu vực; là sự giảm sút
ngay cả đầu tư trong nước do lãi suất cao và yếu tố lòng tin; từ đó, làm
giảm sút tốc độ tăng trưởng kinh tế các nước này và toàn khu vực, toàn thế
giới nói chung đi đôi với gia tăng tình trạng thất nghiệp và lạm phát cao;
cũng như làm tăng nợ nước ngoài bằng ngoại tệ do sự mất giá của đồng bản
tệ và do phải thu hút thêm các khoản tín dụng quốc tế mới để vượt qua
trường. Điều cũng không thể tránh khỏi là tình hình bong bóng bất động
sản vỡ tung, các ngân hàng rơi vào tình trạng gánh chịu một đống nợ khó
đòi hoặc gìn giữ bất đắc dĩ một lượng tài sanr thế chấp ngày càng mất giá
và khó bán. Vì lo sợ về tình trạng mất khả năng thanh toán của các con nợ,
các chủ nợ và các chủ đầu tư nước ngoài thít chặt hầu bao, dự trữ ngoại hối
quốc gia ngày càng giảm và IMF trở thành cải cọc đỡ chủ yếu nhất để nền
kinh tế các nước khủng hoảng khỏi bị chìm…
- Cũng cần chỉ ra rằng, khủng hoảng không chỉ làm tăng nhanh chóng
lượng người thất nghiệp ở các nước khu vực (chẳng hạn, sẽ tăng gấp đôi
trong năm 1998 so với năm 1997 ở Thái Lan, Hàn Quốc và Indonesia…)
mà còn ở các nước bạn hàng của họ do sự thu hẹp qui mô nhập khẩu vì
khủng hoảng.
Lạm phát gia tăng sẽ làm giảm mức sống thực tế của người làm công
ăn lương, những căng thẳng và bất ổn định xã hội cũng vì thế mà tăng lê.
2. Các tác động tích cực.
"Trong cái rủi có cái may", cuộc khủng hoảng không chỉ hoàn toàn
gây tác hại cho các nước khu vực. Theo tạp chí FEER 26/3/1988, Tổng
thống Hàn Quốc, ông Kim Dae Jung khẳng định.: "Tôi muốn biến cuộc
khủng hoảng này thành một cơ hội để cải biến nền kinh tế nước tôi, đưa nó
lên trình độ của thế giới". Những tác động tích cực của cuộc khủng hoảng
có thể qui tụ ở những khía cạnh sau;
Thứ nhất, việc chuyển sang chính sách tỷ giá linh hoạt sẽ giúp các
chính phủ giảm thiểu được lượng ngoại tệ can thiệp để giữ giá bản tệ như
trước đó, giúp tăng dự trữ quốc gia và về lâu dài, với đồng bản tệ rẻ sẽ
khuyến khích và tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu, từ đó cải thiện những
cân đối tài chính của đất nước.
9
Thứ hai, nhiều nước (Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Philipin…) sẽ
nhận được lượng tín dụng quốc tế chính thức với khối lượng lớn để phục
vụ các mục tiêu cải cách và phát triển kinh tế (mặc dù với lãi suất khá cao
của các cường quốc tại khu vực như Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Châu Âu
cũng như bản thân các nước ASEAN với tư cách một cộng đồng.
11
CHƯƠNG II
ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM.
Là một quốc gia nằm trong khu vực khủng hoảng lại trong bối cảnh
quốc tế hoá cao như hiện nay, rõ ràng Việt Nam không thể tránh khỏi
những tác động trực tiếp và gián tiếp, ngắn hạn và dài hạn, tốt và xấu của
nó đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước.
Trước hết cần nhận thấy có hai điểm khác biệt chủ chốt ảnh hưởng
đến mức độ và phương thức tác động của khủng hoảng đối với Việt Nam:
thứ nhất, các thị trường tài chính Việt Nam vừa chưa phát triển vừa kém
hoà nhập với các thị trường khu vực và quốc tế; thứ hai, cơ cấu các luồng
vốn chảy vào Việt Nam có độ an toàn cao hơn do chủ yếu là FID và ODA.
Đồng thời, theo quan điểm của IMF cũng cần nhận thấy hiện có một
số điểm tương đồng khá rõ nét giữa Việt Nam với các nền kinh tế đang
chịu khủng hoảng trong khu vực; thứ nhất, Việt Nam đang có mức thâm
hụt cán cân vãng lai cao (9% GDP năm 1997); thứ hai, có sự duy trì ổn
định kéo dài tỷ giá VNĐ và đã có sự tăng giá miễn cưỡng VNĐ so với
USD, cũng như có sự gia tăng sức ép trên các thị trường ngoại hối; thứ ba,
có các tín hiệu rõ ràng gia tăng sự căng thẳng trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam; thứ tư, có tín hiệu về suy giảm tình trạng tài chính của nhiều
doanh nghiệp trong đó có sự vay nợ đáng kể bằng USD. Ngoài ra còn có
một số điểm dễ nhận thấy khác nữa như độ trì trệ của thị trường bất động
sản, sự lúng túng trong chuyển dịch và cải thiện cơ cấu xuất khẩu, tình
trạng thất nghiệp khá cao, tình trạng hiệu quả đầu tư xã hội thấp và tính
năng động của thị trường chưa cao, các thiết chế thị trường chưa phát triển
đầy đủ, tiêu dùng xa xỉ và dự trữ ngoại tệ mỏng…. Đây chính là những
"Tiếp điểm" nhạy cảm truyền dẫn và cộng hưởng tác động tiêu cực của
khủng hoảng khu vực đến nền kinh tế Việt Nam.
khẩu của Việt Nam sang ASEAN từ 2.252 triệu USD năm 1996 xuống còn
1.787 triệu USD năm 1997, và tháng 1/1998 giảm tới 57% so với tháng
13
12/1997 (tương tự xuất khẩu trong thời gian này sang Hàn Quốc giảm 24%,
Đài Loan - 50%).
Về nhập khẩu, tác động của khủng hoảng làm giảm giá hàng xuất từ
ASEAN,điều đó vừa có lợi, vừa có hại cho nước ta. Một mặt, hàng nguyên
liệu, vật tư, máy móc phục vụ sản xuất (nhất là để xuất khẩu), được nhập từ
các nước ASEAN đã trở nên rẻ hơn từ 10-40%, giúp giảm chi phí đầu vào,
do đó giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh cho hàng Việt Nam. Tuy
nhiên, do điều chỉnh tỷ giá VNĐ cuối năm 1997 mà một số doanh nghiệp
Việt Nam kinh doanh hàng nhập khẩu như xăng dầu, thép, xi măng, phân
bón… Mặt khác, "sơn lốc" hàng rẻ sẽ tìm mọi cách tràn voà nước ta, kể cả
qua con đường nhập lậu, khiến các doanh nghiệp trong nước bị giảm thị
phần, giảm sản xuất. Một khi lịch trình cắt giảm thuế theo kế hoạch AFTA
được xúc tiến tới đây sẽ tạo ra tác động cùng chiều làm tăng áp lực cạnh
tranh tại thị trường Việt Nam.
II- ĐỐI VỚI LĨNH VỰC THU HÚT VỐN VÀ TRẢ NỢ NƯỚC NGOÀI.
Cuộc khủng hoảng có ảnh hưởng bất lợi đến dòng vốn nước ngoài đổ
vào Việt Nam theo các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, sự mất ổn định chung môi trưởng đầu tư - kinh doanh khu
vực khiến các nhà đầu tư trên thế giới e ngại "găm vốn" chờ đợi, nghe
ngóng tình hình, hoặc chuyển hướng đầu tư vào các thị trường khác an toàn
hơn. Thành thử những đồng vốn nước ngoài đổ vào khu vực sẽ trở nên
khan hiếm hơn và mỗi nước càng khó tìm kiếm những đồng tiền rẻ và dễ
dãi hơn, vì bản thân các nước này đều đang gắng cải thiện môi trường đầu
tư "nâng cấp" các chế độ ưu đãi đầu tư của mình, cạnh tranh nhau để thu
hút vốn nước ngoài.Trong điều kiện có dòng vốn nước ngoài danh cho Việt
Nam cũng eo hẹp hơn.
Thứ hai, trong số hơn 700 công ty từ 62 nước đã ký kết đầu tư vào
quá nhanh sẽ làm lan truyền nhanh hơn những tác động tiêu cực của khủng
hoảng…) lịch sử cũng cho thấy, lợi ích kinh tế đã từng kéo các đối tác lại
với nhau, kết gắn họ lại; song lợi ích kinh tế cũng có thể "đẩy" họ ra xa
nhau hơn mức có thể. Thành thử, vấn đề đang đặt ra cho các nước ASEAN
trong cuộc khủng hoảng này là xử lý các lợi ích "hướng tâm" và các lợi ích
"ly tâm" như thế nào cho thoả đáng nhất để không làm tổn hại những thành
tựu sau bao năm xây đắp. Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của thực tiễn đó.
15
Thứ năm, sự giảm giá bản tệ do khủng hoảng, một mặt làm giảm
những giá trị các khoản vay hay viện trợ bằng chính đồng bản tệ đó cho
Việt Nam (chẳng hạn bằng đồng Yên đối với những khoản ODA mà Nhật
Bản dành cho Việt Nam): mặt khác, lại làm tăng chi phí dịch vụ nợ nếu
đồng tiền phải thanh toán là ngoại tệ đang lên giá so với đồng bản tệ ấy
(chẳng hạn làm tăng chi phí dịch vụ nợ bằng USD nếu tính theo giá VNĐ
đã bị giảm giá 15% so với năm trước).
Cuối cùng, thứ sáu do khủng hoảng giá trị tài sản, nhất là cổ phiếu và
bất động sản ở khu vực đang có xu hướng sụt giảm, làm tăng sự hấp dẫn
"mời gọi" các nhà đầu tư mạo hiểm có tính đầu cơ nước ngoài đổ tiền vào
mua vét, tích trữ "chờ giá lên". Thành thử, ở mức độ nhất định sẽ có sự gia
tăng dòng đầu tư nước ngoài nhằm tham gia quá trình mua lại, sáp nhập
công ty và bất động sản khu vực. Đây là tín hiệu và cơ hội tốt cho triển
vọng thu hút đầu tư nước ngoài của khu vực, trong đó Việt Nam; đặc biệt
trong bối cảnh xúc tiến quá trình cổ phần hoá DNNN trong thời gian tới.
III. ĐỐI VỚI LĨNH VỰC NGÂN SÁCH VÀ ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC.
Do cuộc khủng hoảng, dòng vốn nước ngoài đổ vào chững lại, thậm
chí giảm sút vai trò của đầu tư bằng nguồn vốn trong nước được đề cao;
trong đó nguồn vốn của khu vực tư nhân với ưu thế linh hoạt, tiềm tàng và
hiệu quả cao hơn của nó so với đầu tư ngân sách Nhà nước.
Khủng hoảng thu hẹp sức mua của thị trường khu vực - thị trường lớn
nhất của Việt Nam gây lúng túng cho các chủ đầu tư khi chọn hướng đầu
vi toàn cầu, quá trình phát triển kinh tế thương mại của mỗi quốc gia đều
có tác động lẫn nhau. Việt Nam là thành viên của hiệp hội Asean, trên 1/4
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam là với các nước Asean bởi
vậy khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực đã ảnh hưởng đến kinh tế
thương mại nước ta.
Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam / ASEAN 1991-1997
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997
Tổng kim ngạch XNK
(Triệu USD)
4425 5121 6909 9879 13604 18398 20000
Kim ngạch XNK với
ASEAN
1346 1690 1797 2420 3252 6145
17
Tốc độ tăng kim ngạch
XNK với ASEAN so với
năm 1991
100% 125% 133.5% 179.8% 241.6% 456%
18
Về xuất khẩu:
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997
1.Tổng kim ngạch XK
(triệu USD)
2087 2580 2985 4054 5449 7255 9000
2. Tổng kim ngạch XK
với ASEAN
544 666 528 825 982 2525
Tỷ lệ % so 2 với 1 26% 26% 17.7% 20.4% 18% 32%
Singapore 428 510 380 593 680 1889
Malaixia 15.3 68 56 68 104 77
- Thị trường tiền tệ nước ta chưa phát triển đồng bộ, hoạt động mua
bán cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán mới bước đầu đi vào
hoạt động còn ít.
- Công tác quản lý ngoại hối và tỷ giá hối đoái của ta tương đối linh
hoạt, có đối sách kịp thời, nên tỷ giá đồng tiền trong khu vực giảm mạnh so
với đồng đô la trong khi đồng tiền Việt Nam biến động nhẹ, có nghĩa là giá
đồng tiền Việt Nam đắt lên tương ứng so với các đồng tiền khác trong khu
vực điều đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng và kinh
tế xã hội nói chung.
I- CƠ CẤU HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU CỦA TA VÀ CÁC NƯỚC TRONG
KHU VỰC.
1. Về xuất khẩu:
- Theo tính toán và dự báo thì ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính
tiền tệ khu vực đến giá xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam trong năm
1998 với mức độ khác nhau:
- Những mặt hàng bị ảnh hưởng lớn và giảm giá mạnh so với năm
1996 (là thời điểm không có khủng hoảng tài chính tiền tệ) là: gạo, cao su.
- Những mặt hàng bị ảnh hưởng nhẹ là: dầu thô, hàng điện tử, hàng cơ
khí, hàng dệt may mặc, hàng giầy dép, hàng thuỷ sản, hàng thủ công mỹ
nghệ, rau quả, lạc nhân, hạt điều.
- Những mặt hàng không bị ảnh hưởng là: cà phê, hạt tiêu, chè, than
đá.
- Do khủng hoảng tiền tệ, các nước trong khu vực phải giảm chi, tiết
kiệm, thất nghiệp tăng, sức mua của người dân giảm rõ rệt nên hàng thuỷ
sản, may mặc, giày dép của Việt Nam xuất khẩu sang các nước này trong
20
năm 1998 cũng bị hạn chế rất nhiều, ví dụ: Indonesia, Malaixia cũng rất
cần gạo, lạc nhân, thuỷ sản nhưng không có đủ ngoại tệ để thanh toán.
2. Về nhập khẩu:
- Đối với nhập khẩu sẽ có nguy cơ gia tăng trước việc hàng hoá các
- Điều quan trọng hơn cả là việc suy giảm đầu tư trực tiếp của nước
ngoài ở Việt Nam dẫn đến sự giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, vốn tỷ
trọng xuất khẩu đầu tư nước ngoài tham gia vào tổng kim ngạch xuất khẩu
trong những năm gần đây từ 16-18% và tốc độ này tăng nhanh hơn tốc độ
hàng nội địa tham gia xuất khẩu.
Năm 1997 vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài là 30.300 tỷ VNĐ sang
năm 1998 giảm xuống còn 24.300 tỷ VNĐ. Năm 1999 là 18.900 tỷ đồng,
năm 2000 khoảng 20.800 tỷ VNĐ. Theo nhận định của giới chức quản lý
đầu tư nước ngoài đã có dấu hiệu phục hồi bước đầu về lĩnh vực mà trong
năm 2000.
22
KẾT LUẬN
Đến nay cuộc khủng hoảng đã xảy ra được hơn 3 năm sự phục hồi
của các nước trong khu vực đã và đang chứng tỏ sự năng động, sức vươn
lên mạnh mẽ của những nền kinh tế mới công nghiệp hoá, tuy nhiên những
vấn đề nảy sinh những vấn đề nảy sinh sau khủng hoảng cả kinh tế lẫn
chính trị xã hội, bộc lộ ở những mức độ khác nhau trong mỗi nước luôn đe
doạ chấm dứt quá trình phục hồi.
- Để đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững trong tương lai các nước
trong khu vực cần đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế, ổn định chính trị và
tăng cường mở rộng hợp tác trong nội bộ khu vực đó mới thực sự là động
lực của sự tăng trưởng. Do sự tăng trưởng kinh tế của các nước này vẫn
phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Nên nếu mở rộng được việc trao đổi hàng
hoá giữa các nước trong khu vực với Nhật Bản, Trung Quốc sẽ giúp các
nước giảm bớt sự phụ thuộc vào thăng trầm của nền kinh tế Mỹ. Hơn nữa,
vấn đề trước mắt của đa số các nước trong khu vực là khả năng thu hút vốn
đầu tư đang giảm dần và nợ chính phủ thì đang có xu hướng tăng lên. Vì
vậy tăng cường hợp tác trong khu vực để hỗ trợ nhau về vốn và kỹ thuật sẽ
là một hướng đi cần thiết cho sự ổn định và phát triển kinh tế bền vững .
- Đối với Việt Nam ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
10
A- Những tác động của khủng hoảng đến các lĩnh vực kinh tế của
Việt Nam
11
I- Đối với lĩnh vực ngoại thương
11
II- Đối với lĩnh vực thu hút vốn và trả nợ nước ngoài
12
24
III- Đối với lĩnh vực ngân sách đầu tư trong nước
14
B- Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính ở các nước trong khu vực
đến thương mại và đầu tư
15
I- Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của ta và các nước trong khu vực
17
1. Về xuất khẩu
17
2. Về nhập khẩu
18
3. Về đầu tư trực tiếp nước ngoài
18
Kết luận
20
Tài liệu tham khảo