Lời mở đầu
Không phải ngẫu nhiên có ngời coi triết học nh là khoa học của mọi
khoa học. Cũng không phải ngẫu nhiên trong lịch sử, nhà triết học đợc gọi
là nhà thông thái, nhà hiền triết, ngời nắm đớc bí mất của sự vật thậm chí
trong lịch sử nhân loại, có thời kỳ mà xã hội đặt nhà triết học vào vị trí cao
nhất, có nhà cải tạo đặt nhà triết học vào vị trí cao nhất của cơ cấu tổ chức
xã hội (Platon với mô hình "Nhà nớc lý tởng")
Tất cả những điều ấy khiến triết học trở thành một môn thú vị, một cái
gì đó kì bí làm con ngời ở mọi thời đại đam mê, ham muốn hiểu sâu hơn và
đóng góp sức mình vào cái lâu đài kì bí và hoa lệ đó. Kể từ khi ra đời trải
qua nhiều giai đoạn phát triển đạt đợc nhiều thành tựu rực rỡ thì triết học
luôn phản ánh sự phát triển trí tuệ loài ngời và thúc đẩy t duy loài ngời, đôi
khi còn trở thành vũ khí sắc bén nhất cho những gì tiến bộ của sự phát triển
đó. Ngày nay triết học đã thực sự trở thành khoa học, đã hoàn chỉnh hơn vì
vậy ý nghĩa là động lực cho sự phát triển của đời sống xã hội càng rõ nét
hơn, con ngời càng đợc hoàn thiện hơn về t duy lý luận.
Đó là mặt tác động đến đời sống xã hội từ bản thân khoa học triết học.
Ngày nay, mặc dù sự phát triển nh vũ báo của khoa học kỹ thuật, sự phát
triển về mặt vật chất của đời sống xã hội cũng không hề làm giảm đi tính
chất kì bí và vai trò đối với thực tiễn của triết học, mà vấn đề là phải có một
t duy lý luận, đúng đắn để không bị "lạc lối" trong sự phát triển đó, hơn
nữa, sự phát triển về mặt xã hội của khoa học kỹ thuật cũng tác động ng -
ợc trở lại khoa học triết học: chứng minh hay bác bỏ những quan điểm triết
học, nhận chân đợc những t tởng đúng đắn
Với vai trò to lớn của triết học với sự phát triển t tởng xã hội và với
thực tiễn đời sống xã hội nh vậy, tiểu luận này chỉ mong tổng hợp lại một
số vai trò đã đợc thừa nhận của triết học trong đời sống xã hội.
1
Tiểu luận " Vai trò của triết học trong đời sống xã hội"gồm 3 phần:
Phần1 :lời mở đầu
Phần2:Nội dung:
hôi loài ngời, của con ngời trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện
nó một cách có hệ thống dới dạng duy lý.
Vậy: Triết học là hệ thống trí thức lý luận chung nhất của con ngời về
thế giới, về vị trí vai trò của con ngời trong thế giới ấy.
3
II. Triết học với t cách là một khoa học.
Ngày nay, Triết học không còn là bí mật mà chỉ những nhà Triết học
mới biết nữa (Ph.Ăngghen, "Chống Đuy-rinh") nó từ "Hhoa học của các
khoa học" đã trở thành một môn khoa học độc lập.
Là một môn khoa học độc lâp, Triết học cần phải có: Đối tợng riêng
của nó, phải có phơng pháp nghiên cứu ( gần phơng pháp luận và phơng
pháp riêng); có các vấn đề cơ bản; có các khái niệm và các phạm trù; các
quy luật.
1. Đối tợng của Triết học.
Theo Ph.ăngghen: "Triết học là khoa học về các quy luật chung nhất
sử sự vận động và phát triển của thế giới; từ tự nhiên, xã hội và cả t duy",
(Ph. ăng ghen, "chóng Đuy-rinh")
Nh vậy có thể coi đối tợng của Triết học là tự nhiên, xã hội và t duy
của con ngời: nhng Triết học không phải là khoa học tự nhiên, khoa học về
xã hội, khoa học về t duy (logic học) mà là khoa học chung nhất, nó coi thế
giới là "một chỉnh thể thống nhất " các mặt trên.
2. Phơng pháp nghiên cứu.
- Có một điều đặc biệt của khoa Triết học, đó là, với khoa học này thì
sự khác nhau về phơng pháp luật là cơ sở để phân biệt các trờng phái Triết
học (siêu hình hay biện chứng), thể hiện tính khoa học hay phản động của
một hệ thống Triết học. Nguyên nhân của hiện tợng này xuất phát từ đối t-
ợng của Triết học: Coi thế giới nh là một chỉnh thể, nghiên cứu bao trùm
thế giới: tự nhiên, xã hội, t duy.
- Triết học nghiên cứu thế giới bằng phơng pháp của riêng mình khác
với mọi khoa học cụ thể: Nó xem xét thế giới nh một chỉnh thể và tìm cách
mặt những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất không
phải chỉ của một lĩnh vực nhất định nào đấy của hiện thực, mà của toàn bộ
thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và t duy. Mọi sự vật, hiện t-
5
ợng đều có nguyên nhân xuất hiện, đều có quá trình vận động biến đổi, đều
có mâu thuẫn nghĩa là đều có những mặt, những thuộc tính, những mối
liên hệ đợc phản ánh trong các phạm trù của Triết học.
- Khi Triết học duy vật biện chứng ra đời; nó trở thành vũ khí lý luận
sắc bén cho giai cấp tiến bộ, nó kết tinh mọi tinh hoa của t tởng nhân loại,
vì vậy nó là "khoa học nhất"; là "triệt để và hoàn mỹ nhất", là "sâu sắc và
toàn diện nhất" (V.I. Lênin; "Ba nguồn gốc của chủ nghĩa Mác"). Vì vậy có
thể coi các quy luật của Triết học duy vật biện chứng là quy luật cơ bản của
khoa học Triết học. Triết học duy vật biện chứng gồm ba quy luật cơ bản:
+ Quy luật mâu thuẫn: nói lên nguồn gốc và động lực vận động và
phát triển của thế giới, cả về các mặt: tự nhiên, xã hội, và t duy.
+ Quy luật về mối quan hệ giữa mặt lợng với mặt chất
Nói lên cách thức của sự phát triển.
+ Quy luật phủ định của phủ định: nói lên con đờng tất yếu của sự
phát triển.
III. Đặc điểm của khoa học triết học
1. Triết học tồn tại nh một hình thái ý thức xã hội
Nh các hình thái ý thức xã hội khác (đạo đức, tôn giáo, khoa học )
Thì triết học cũng tồn tại với t cách là một hình thái ý thức xã hội, từ là có
đặc tính biến đổi phụ thuộc vào sự biến đổi của tồn tại xã hội và tác động
trở lại những điều kiện nhất định. Tuy nhiên, triết học là một hình thái ý
thức xã hội đặc biệt: nó không phải là một bộ phận trong hình thái ý thức xã
hội khoa học vì bản chất nó cũng là một hình thái ý thức xã hội; nó không
giống nh tôn giáo, là hình thái ý thức xã hội ra đời ngay từ thời nguyên
thủy. Triết học chỉ ra đời khi con ngời đã có một vốn hiểu biết nhất định và
đạt đến khả năng rút ra đợc cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện
truyền bá nhằm chống lại các lực lợng xã hội tiến bộ.
Những t tởng lạc hậu, thế giới quan phản động không mất đi một cách
dễ dàng. vì vậy trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới phải thờng xuyên tăng
cờng công tác t tởng, đấu tranh chống lại những âm mu và hành động phá
hoại của những lực lợng thù địch về mặt t tởng, kiên trì xoa bỏ những
truyền thống t tởng tốt đẹp.
b. Triết học có thể vợt trớc trình độ hiện đại của tồn tại xã hội
Trong những điều kiện nhất định, t tởng của con ngời đặc biệt là
những t tởng khoa học tiên tiến có thể vợt trớc sự phát triển của tồn tại xã
hội, vợt trớc sự phát triển của tồn tại xã hội, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của
con ngời, hớng hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới do sự
phát triển chín muồi của đời sống vật chất của xã hội đặt ra.
8
Triết học Mác - Lênin là hệ t tởng của giai cấp cách mạng nhất của
thời đại - giai cấp công nhâ, nó trang bị cho giai cấp công nhân và chính
đảng cộng sản vũ khí lý luận sắc bén để giải phóng mình và giải phóng
nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới, thoát
khỏi ác nô dịch, bóc lột, xây dựng một xã hội tốt đẹp. Vì vậy, chỉ nghĩa
Mác - Lênin là hệ thống u việt nhất, là con đờng, sách lợc tốt nhất cho sự
phát triển xã hội loài ngời.
2. T tởng triết học tác động trở lại đời sống xã hội
PH.Ăngghen viết:"Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triêt học,
tôn giáo, văn học, nghệ thuật . đều dựa vào sự phát triển kinh tế. Nh ng tất
cả chúng có ảnh hởng lẫn nhau và ảnh hởng đến cơ sở kinh tế ".
Mức độ ảnh hởng của t tởng nói chung và t tởng triết học nói riêng đến
sự phát triển xã hội phụ thuộc vào những điều kiện lịch sự cụ thể, vào tính
chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó t tởng nảy sinh, vào vai trò lịch
sử của giai cấp mang ngọn cờ t tởng; vào mức độ phản ánh đúng đắng của t
tởng đối với các nhu cầu phát triển của xã hội; vào mức độ mở rộng của t t-
ởng quần chúng, cũng do đó, ở đây cần phân biệt vai trò của ý thức t tởng
Xét phạm vi tác dụng của nó, phơng pháp luân ngành; phơng pháp luận
chứng và phơng pháp luận chung nhất.
+ Phơng pháp luận ngành là phơng pháp luận của một ngành khoa học
cụ thể nào đó.
+ Phơng pháp luận chung là phơng pháp luận đợc sử dụng cho 1 số
ngành khoa học.
+ Phơng pháp luận chung nhất là phơng pháp luận đợc dùng làm điểm
xuất phát cho việc xác định các phơng pháp luận chung, các phơng pháp
hoạt động khác của con ngời.
Với t cách là hệ thống tri thức chung nhất của con ngời về thế giới và
vai trò của con ngời trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật
10
chung nhất của tự nhiên, xã hội và t duy triết học thực hiện chức năng ph-
ơng pháp luận chung nhất khẳng định điều này, Ph.Ăngghen viết - khi phê
phán những nhà khoa học tự nhiên siêu hình không thấy đợc mối quan hệ
biện chứng các ngành khoa học, không thấy đợc sự khác nhau giữa t duy lý
luận với t duy thực nghiệm.
"Những nhà khoa học tự nhiên tởng rảng họ thoát khỏi triết học bằng
cách không để ý đến nó hoặc phỉ báng nó. Nhng vì không có t duy thì họ
không thể tiến lên đợc một bớc nào và muốn t duy thì họ cần có những
phạm trù lôgíc, mà những phạm trù ấy thì họ lấy một cách không phê phán,
hoặc lấy trong cái ý thức chung, thông thờng của những ngời gọi là có học
thức, cái ý thức bị thống trị bởi những tàn tích của những hệ thống triết học
lỗi thời hoặc lấy trong những mảnh vụ của các giáo trình triết học bắt buộc
trong các trờng đại học (đó không chỉ là những quan điểm rời rạc mà còn là
một mớ hổ lớn những ý kiến của những ngời thuộc các trờng phái hết sức
khác nhau và thờng là những trờng phái tồi tệ nhất) Hoặc lấy trong những
tác phẩm triết học đủ loại mà họ đọc một cách không có hệ thống và không
có phê phán. - Cho nên, dù sao, rút cục lại, họ vẫn bị lệ thuộc vào triết học
và đáng tiếc thờng là thứ triết học tồi tệ nhất. Những kẻ nô lệ của những tàn
12
Kết luận
Qua sự khảo sát sơ lợc về vai trò của triết học trong đời sống xã hội,
rút ra một số nhận xét sau:
- Khi bàn về vai trò của Triết học trong đời sống xã hội, tác động của
nó đến hiện thực xã hội thì trớc tiên phải quán triệt rằng: Triết học là môn
khoa học chân chính, chứ không phải là tập hợp những t tởng giải thích thế
giới của những Triết gia, những nhà t tởng, Những t tởng của họ không
phải là xuất phát từ hảo tâm hay thành ý của họ.
Tuy nhiên, Triết học cũng là một hình thái ý thức xã hội, Về tính chất
này của nó, nó phủ định tính chất là một khoa học chuyên nghành ( là một
bộ phận của hình thái ý thức xã hội khoa học) vì vậy nó là một khoa học
đặc biệt mang tính chung nhất trừu tợng nhất về thế giới.
- Sự tác động của t tợng triết học, vai trò của nó đối với đời
sốnglà:"không phải là giải thích thế giới mà vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới"
( C.Mác ), triết học phải là khoa học "giải thích thế giới thế tục chứ không
phải là thoát ly thế giới thế tục "(C Mác; "Lời nói đầu trang phê phán Nhà
nớc pháp quyền của Hêghel ").
Triết học tác động đến đời sống hiện thực trên vị trí, t cách đặc biệt.
Nó là hạt nhân cơ bản của thế giới quan.
13
Danh mục tài liệu tham khảo
1. PH.Ăngghen: "Biện chứng của tự nhiên"
NXB Chính trị quốc gia Hà Nội - 2005
2. V.I. Lênin: "Lênin toàn tập" - Tập 23
NXB Chính trị quốc gia Hà Nội - 2003
3. C. Mác : "Lời nói đầu trong phên phán triết học pháp quyền
của Hêghen"
"C.Mác - PH.Ăngghen tuyển tập"
4. Giáo trình triết học Mác - Lênin.
Kết luận 13
Danh mục tài liệu tham khảo 14
15