NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
CHƯƠNG I : CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI
QUỐC DOANH
1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH:
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng:
Tín dụng: là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới
hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau
một thời gian nhất định quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng
giá trị ban đầu. Theo quan điểm này phạm trù tín dụng bao gồm ba nội
dung chủ yếu sau, nếu thiếu một trong ba đặc điểm sau thì không còn
là phạm trù tín dụng nữa:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người
này sang người khác.
- Tính thời hạn: sự chuyển giao chỉ mang tính tạm thời.
- Tính hoàn trả: khi hoàn trả lại lượng giá trị ban đầu cho người
sở hữu, còn phải kèm theo một lượng giá trị dôi ra gọi là lợi tức.
Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa người một bên là
ngân hàng – một tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ là người
cho vay với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, theo đó ngân
hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả
cả gốc và lãi.
Trong xã hội, luôn tồn tại những người thừa vốn và có nhu cầu
đầu tư và những người thiếu vốn, có nhu cầu về vốn để sản xuất, kinh
doanh. Nhưng họ rất khó có thể tiếp cận được với nhau bởi mỗi bên lại
- 1 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
có những đắc thù riêng, khác nhau như: không phù hợp được với nhau
về quy mô, thời gian nhàn rỗi, địa điểm… hoặc nếu có thể phù hợp thì
được dùng để tài trợ ?cho các công trình xây dựng như nhà, sân bay,
cầu đường, máy móc, thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử
dụng lâu, có yêu cầu tài trợ trên 5 năm.
Nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng là cho vay ngắn hạn,
nhưng từ những năm 1970 trở lại đây các ngân hàng đã chuyển sang
kinh doanh tổng hợp, đổi mới tín dụng nhằm nâng cao tỷ trọng tín
dụng trung và dài hạn trong tổng dư nợ của ngân hàng.
1.1.2.2. Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Tài sản đảm bảo có vai trò rất lớn trong nghiệp vụ tín dụng của
ngân hàng, nó giúp ngân hàng có thể hạn chế được rủi ro, cho phép
ngân hàng có thể có ? cđượ một nguồn thu nợ thứ hai khi khách hàng
gặp phải những sự cố ngoài y muốn từ quá trình sản xuất kinh doanh.
Theo căn cứ này, tín dụng được chia làm 2 loại:
Tín dụng có bảo đảm: là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở các
bảo đảm như thế chấp, cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ
ba. Hình thức này thường được áp dụng đối với những khách hàng
chưa có uy tín cao đối với ngân hàng, vì vậy khi vay vốn cần tài sản
bảo đảm.
Tín dụng không cần tài sản bảo đảm: là hình thức tín dụng
không cần tài sản thế chấp, cầm cố hay có sự bảo lãnh của người thứ
ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng. Vì vậy, hình
thức này thường được áp dụng đối với khách hàng có uy tín, làm ăn
thường xuyên có lãi, có tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình
trạng nợ nần dây dưa,… Ngoài ra, hình thức này còn được áp dụng đối
với các khoản vay theo chỉ thị của chính phủ mà chính phủ yêu cầu
- 3 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
không cần tài sản bảo đảm. Hoặc các khoản vay đối với tổ chức tài
chính lớn, những khoản cho vay ngắn hạn mà ngân hàng có khả năng
giám sát … cũng không cần tài sản đảm bảo.
không có đủ điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Khách hàng sử
dụng hình thức này chủ yếu là những khách hàng có nhu cầu vay vốn
mang tính thời vụ hay nhằm mở rộng sản xuất. Vì thế mà vốn của ngân
hàng chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất
kinh doanh.
Theo hình thức này, khách hàng vay phải làm đơn và trình ngân
hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng
và kí hợp đồng cho vay. Giá trị món tiền cho vay phụ thuộc vào giá trị
của tài sản đảm bảo. Mỗi món vay được tách biệt thành các hồ sơ (khế
ước nhận nợ) khác nhau. Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng, ngân
hàng sẽ thu gốc và lãi. Và ngân hàng sẽ tiến hành giám sát quá trình sử
dụng vốn vay của khách hàng, kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng
tiền vay, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ
trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả
nổi theo thời điểm tính lãi. Nghiệp vụ tín dụng này tương đối đơn giản.
Tuy nhiên, phương thức tín dụng này đòi hỏi khách hàng mỗi lần vay
phải làm đủ thủ tục vay vốn và hợp đồng cho vay do đó còn phiền hà
đối với khách hàng.
- Cho vay theo hạn mức: là phương thức tín dụng mà ngân hàng
va khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì
trong một khoảng thời gian nhất định (có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối
kỳ). Và hạn mức tín dụng này chính là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh
doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Phương thức
cho vay theo hạn mức có thể được thực hiện theo hai cách. Cách thứ
nhất, ngân hàng sẽ cho khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần
trong kỳ, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng. Cách thứ
hai, ngân hàng chỉ quy định một hạn mức tín dụng cuối kỳ, vì thế dư
nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên, đến cuối kỳ khách
- 5 -
khách hàng phải trình cho ngân hàng các chứng từ hoá đơn nhập hàng
và số tiền cần vay. Ngân hàng duyệt cho vay và trả tiền cho người bán
- 6 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
theo cam kết giữa người vay và người bán. Số tiền vay sẽ phụ thuộc
vào khối lượng và chất lượng quan hệ nợ của người vay. Các khoản
phải thu và cả hàng hoá trong kho trở thành vật bảo đảm cho khoản
vay. Hình thức này thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn, có quan hệ
vay trả thường xuyên với ngân hàng. Cho vay luân chuyển tạo điều
kiện thuận lợi cho khách hàng bởi thủ tục vay đơn giản chỉ thực hiện
một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng vốn kịp thời, vì
vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn. Nhưng có thể
thấy, nếu việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp gặp khó khăn thì
việc thu hồi vốn của ngân hàng cũng sẽ gặp phải khó khăn.
- Cho vay theo các dự án đầu tư: là hình thức tín dụng cung cấp
vốn cho khách hàng để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và phục vụ đời sống. Ngân hàng sau khi phân tích
(và thẩm định) dự án sẽ cùng với khách hàng ký hợp đồng tín dụng và
các điều khoản thoả thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu
tư trong dự án, phân định rõ các kỳ hạn trả nợ. Ngân hàng sẽ thực hiện
giải ngân cho khách hàng theo tiến độ thực hiện dự án. Mỗi lần rút vốn
vay doanh nghiệp ký giấy nhận nợ, số tiền vay phải nằm trong phạm vi
mức tín dụng đã thoả thuận và phải phù hợp với mục đích sử dụng vốn
trong hợp đồng tín dụng. Lãi suất cho vay được căn cứ vào lãi suất của
giám đốc ngân hàng hoặc thoả thuận giữa ngân hàng với chủ dự án.
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối
với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong
đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ
chức tín dụng khác. Cho vay hợp vốn thường xảy ra khi: nhu cầu xin
- Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà ngân hàng và khách
hàng xác định và thoả thuận số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc
được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Hợp
đồng tín dụng phải ghi rõ: các kỳ hạn trả nợ ở mỗi kỳ hạn gồm cả gốc
và lãi. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay
trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền
trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ
- 8 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
(thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc từ thu
nhập hàng kỳ của người tiêu dùng).
Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng
thông qua hạn mức nhất định. Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán
số hàng hoá mà khách hàng đã mua trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận
ngay số tiền sau khi bán hàng từ phía ngân hàng và làm đại lý thu tiền
cho ngân hàng, hoặc khách hàng trực tiếp trả cho ngân hàng. Đây
chính là hình thức tín dụng tài trợ cho người mua (qua đó đến người
bán) nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hoá. Tuy nhiên, hình thức tín
dụng này có độ rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng
hoá mua trả góp.Vì vậy khách hàng vay theo phương thức này phải là
những khách hàng có phương án trả nợ gốc và lãi vay khả thi bằng các
khoản thu nhập chắc chắn, ổn định. Chỉ cần người vay gặp bất cứ
chuyện gì khiến cho thu nhập giảm sút (như người vay mất việc, ốm
đau…) thì khả năng thu nợ của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Chính vì
vậy, lãi suất cho vay trả góp thường cao nhất trong khung lãi suất của
ngân hàng.
1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh :
1.1.3.1. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế:
a, Doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
- Góp phần mạnh mẽ vào thúc đẩy sức cạnh tranh của nền kinh
tế.
- Tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước .
c, Những đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Trong những năm gần đây các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đang từng bước phát triển và lớn mạnh theo xu hướng của thời đại. Sự
phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ thực sự bắt đầu
vào ngày 01- 01- 2000 khi Luật doanh nghiệp chính thức được ban
- 10 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
hành. Từ đó đến nay, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang có
nhưng biến chuyển tốt mặc dù vậy ta có thể thấy một số đặc điểm như
sau:
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng tăng nhanh về
số lượng, phân bố không đều cả về địa bàn cũng như ngành nghề
kinh doanh: Từ khi Luật Doanh nghiệp được ban hành đã tạo điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển. Ngoài ra,
Đảng và Nhà nước cũng có những chính sách như chính sách về tiền
tệ, pháp luật đã giúp cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng
phát triển về mọi mặt. Chỉ tính riêng trong gần ba năm, từ tháng 1-
2000 đến tháng 10- 2002, gần 50.000 doanh nghiệp mới đăng kí trong
đó hầu hết là thuộc sở hữu tư nhân. Số lượng doanh nghiệp mới đăng
kí đã nhiều hơn tổng số doanh nghiệp đăng kí trong chín năm, từ 1991
đến 1999 (45.005 doanh nghiệp). Tính đến 31- 12- 2004, tổng số
doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang hoạt động là 74.200 doanh
nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động 82.000 doanh
nghiệp. Sự phát triển về số lượng các doanh nghiệp nói chung và
doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng đã cho thấy một tín hiệu
đang mừng nhưng nó cũng đặt ra một vấn đề cho các nhà quản lí. Đó là
việc thành lập các doanh nghiệp còn mang tính tự phát chưa có quy
không ngừng về số lượng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Chính sự phát triển đó đã góp phần đắc lực vào sự phát triển nền kinh
tế, đem lại cho nền kinh tế sự cân bằng hoạt động ổn định và bền vững.
Đây là xu hướng phát triển phù hợp với hơi thở của thời đại.
- Quy mô vốn và lao động còn nhỏ kèm với công nghệ lạc
hậu: qua số liệu đã nêu trên thì có thể thấy số lượng doanh nghiệp thì
nhiều nhưng quy mô về vốn và lao động lại nhỏ, đi kèm với đó là thiết
bị ở hầu hết các doanh nghiệp đều lạc hậu và ngoài ra các doanh
nghiệp này còn thiếu kinh nghiệm quản lí, kinh doanh.
Về quy mô vốn và khả năng tài chính còn thấp. Bình quân một
doanh nghiệp ngoài quốc doanh có khoảng 4 tỷ đồng tiền vốn. Các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực dịch
vụ thương mại, buôn bán nhỏ, nếu là doanh nghiệp sản xuất thì chỉ là
sản xuất những mặt hàng thông dụng kĩ thuật không cao. Hiệu quả
kinh doanh chưa tương xứng với tiềm năng, sức cạnh tranh thấp.
Về số lượng lao động: sẽ tuỳ theo quy mô doanh nghiệp, hiện
nay, doanh nghiệp khác nhau thì số lao động cũng khác nhau có doanh
nghiệp lên tới 1000 người. Nhưng theo số liệu thống kê năm 2003 thì
bình quân một doanh nghiệp ngoài quốc doanh có khoảng 31 lao động,
chỉ bằng 7.4% về lao động ở doanh nghiệp nhà nước và bằng 10.3% về
lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra,
mặc dù hiện nay nhà nước có chính sách giáo dục để đào tạo những
cán bộ có trình độ chuyên môn cao, nhưng nhìn chung những lao động
trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đều có kĩ năng và tay nghề
thấp, chưa được đào tạo. Số lượng lao động không nhiều, trình độ lao
động chưa cao cũng là một điều khó khăn đối với các doanh nghiệp
này. Theo thống kê năm 2004, ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
thì tỉ lệ lao động không được đào tạo chiếm khoảng 40%.
- 13 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
việc mới có thể đưa doanh nghiệp của mình đi lên khẳng định được vị
- 14 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
thế trong nền kinh tế. Nhưng hầu hết ở các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, cán bộ quản lý lại có trình độ chuyên môn không cao, chưa
được qua đào tạo cơ bản nên đã bộc lộ nhiều lúng túng trong điều hành
hoạt động kinh doanh. Do vậy, dù khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
được coi là những doanh nghiệp linh hoạt, năng động sáng tạo và khả
năng thích nghi cao thì với năng lực hiện tại của các nhà quản lí, các
doanh nghiệp này cũng rất khó khăn trong việc cạnh tranh với các
doanh nghiệp khác trên thị trường. Ngoài ra, các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh này thành lập hầu hết là tự phát và không đủ cơ sở khoa
học cho quyết định kinh doanh làm cho hoạt động kinh doanh không
ổn định gặp nhiều vướng mắc, hạn chế trong công tác tổ chức nhân sự,
tổ chức kinh doanh, nắm bắt được thời cơ trong đầu tư. Việc thực hiện
công tác kế toán, kiểm toán, thống kê theo quy định của nhà nước
trong các doanh nghiệp này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, chưa hiểu
biết nhiều về phương pháp hạch toán kế toán mới và áp dụng không
chính xác các phương pháp ở doanh nghiệp mình. Chí vì vậy, các
doanh nghiệp này đã và đang gặp phải rất nhiều khó khăn khi tiếp cận
với nguồn vốn từ phía các ngân hàng do không chứng thực được khả
năng kinh doanh của mình cũng như tình hình tài chính của bản thân
một cách rõ ràng.
- Nhu cầu vốn rất lớn nhưng khả năng tiếp cận được còn hạn
chế: Trong thời gian qua, chính sách hỗ trợ huy động vốn đã góp phần
không nhỏ đến sự phát triển thành công của doanh nghiệp ngoài quốc
doanh. Nhiều biện pháp khuyến khích đầu tư cho việc phát triển: ban
hành, sửa đổi các chính sách về thuế, chính sách tài chính- tín dụng,
nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đồng
thời, để hỗ trợ cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh tiếp cận nguồn vốn
vốn đặc biệt từ nguồn vốn còn khá dồi dào trong dân cư như: phát hành
cổ phiếu, trái phiếu… đây là những nguồn tài trợ mang tính dài hạn
của doanh nghiệp. Từ những kênh huy động vốn này, doanh nghiệp có
thể ổn định, tự chủ hơn và doanh nghiệp có thể có chiến lược phát triển
lâu dài và bền vững.
- 16 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
Vậy, doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn tồn tại rất nhiều vần
đề: cơ sở sản xuất, trang thiết bị còn yếu kém, đầu tư chủ yếu vào các
ngành thương mại, du lịch; sử dụng máy móc trang thiết bị lạc hậu để
tiếp tục sản xuất, chất lượng lao động còn thấp, tay nghề chưa cao,
trình độ cán bộ quản lí còn yếu chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của
nền kinh tế nên không thể mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao chất
lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh trên thị trường thấp và hiệu quả
sản xuất kinh doanh không cao. Mặt khác còn tồn tại nhiều doanh
nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trái pháp luật, làm ăn không đúng
đắn: buôn lậu, làm hàng giả, trốn thuế, lừa đảo… và các doanh nghiệp
này thường không thực hiện đầy đủ các quy định về an toàn lao động,
đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Đây cũng là lý do khiến
việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh trở nên khó khăn. Mặc dù các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
còn chịu nhiều hạn chế trong việc tiếp cận nguồn vốn cho hoạt động
kinh doanh nhưng doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay đang giữ
vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Việt
nam hiện nay và cả trong tương lại. Đây chính là thành phần kinh tế
năng động nhất nên khi Việt nam tham gia vào thị trường thế giới,
thành phần này sẽ là thành phần chủ chốt trong việc khặng định vị thế
của nền kinh tế Việt nam trên trường quốc tế.
1.1.3.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
doanh nghiệp ngoài quốc doanh cần vốn để đầu tư vào tài sản cố định
như máy móc, trang thiết bị áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại. Để
giải quyết vấn đề này, ngân hàng qua quan hệ tín dụng, thu hút những
nguồn vốn rất lớn đang còn nhàn rỗi trong dân cư, từ đó cho các doanh
nghiệp cần vay. Chính nhờ hoạt động này của ngân hàng đã giúp cho
các doanh nghiệp mới thành lập bươc đầu hoạt động được suôn sẻ,
giúp cho các doanh nghiệp đang hoạt động mở rộng được hoạt động
sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận.
b, Tín dụng Ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
- 18 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
Khi một doanh nghiệp quyết định xin vay vốn ngân hàng thì
doanh nghiệp đó đã phải cân nhắc về việc làm sao có thể hoàn trả gốc
và lãi cho ngân hàng theo đúng hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân
hàng. Và tất nhiên khi hoạt động sản xuất kinh doanh mọi doanh
nghiệp đều muốn có lợi nhuận cho riêng mình. Chính vì vậy, để có thể
vừa có lợi nhuận lại có thể thanh toán được khoản tín dụng với ngân
hàng thì các doanh nghiệp cần phải tính toàn một cách chính xác về kế
hoạch sản xuất kinh doanh, về những biến động kinh tế xã hội… để
đưa đồng vốn vào đầu tư có hiệu quả mang lại lợi ích cho bản thân
doanh nghiệp mình.
Bên cạnh đó, khi cho doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng luôn
phải kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn vay của khách
hàng, xem mục việc sử dụng vốn vay có đúng mục đích không, có như
đã thoả thuận trong hợp đồng không… chỉ có như vậy ngân hàng mới
có thể hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất. Và chính điều này đã buộc các
doanh nghiệp phải tích cực hơn trong việc sử dụng vốn nhằm sinh lời
cho bản thân, cho ngân hàng và mang lợi ích cho toàn xã hội.
c, Tín dụng Ngân hàng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh
đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm
bảo nguyên tắc tín dụng.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất
lưu thông hàng hoá; góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác
khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập
trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và
tăng trưởng kinh tế.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng:
1.2.2.1. Nhóm các chỉ tiêu định lượng:
- 20 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
a, Doanh số cho vay: là tổng các khoản vay trong một niên độ
kế toán, chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã giải ngân
cho DNNQD (thường tính theo năm), nó là số tuyệt đối phản ánh xu
hướng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp này là mở rộng hay thu
hẹp.
b, Doanh số thu nợ: là tổng các khoản thu nợ trong một niên độ
kế toán, phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã thu hồi được trong một
thời kỳ.
c, Dư nợ: phản ánh lượng vốn ngân hàng còn cho khách hàng
vay tại một thời điểm xác định, và đây cũng là khoản mà ngân hàng sẽ
phải thu về.
d, Hệ số sử dụng vốn vay: phản ánh kết quả sử dụng nguồn vốn
huy động của ngân hàng để cho vay. Nếu hệ số này quá cao thì ngân
hàng cần chú ý đến khả năng thanh toán vì lúc này ngân hàng cho vay
nhiều nên khi khách hàng đến rút tiền, ngân hàng sẽ gặp khó khăn về
khả năng thanh toán. Nếu hệ số sử dụng vốn thấp thì ngân hàng cần
tăng cường cho vay hoặc giảm lượng vốn huy động. Như vậy ngân
hàng mới có khả năng bù đắp chi phí và có được lợi nhuận.
Tổng dư nợ
Thể hiện ở lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động tín
dụng. Nguồn thu chủ yếu của ngân hàng hiện nay là từ hoạt động tín
dụng, đây là nguồn thu giúp ngân hàng tồn tại và phát triển. Do vậy
đây cũng là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng. Lợi nhuận tín
dụng thu được cho thấy các khoản vay không những thu hồi được mag
còn thu được lãi, đảm bảo được an toàn đồng vốn cho vay. Bằng việc
so sánh chỉ tiêu này giữa các ngân hàng cùng cấp ta có thể đánh giá,
xếp loại chất lượng tín dụng của các ngân hàng.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định tính:
- 22 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
Chỉ tiêu định tính thể hiện ở việc đánh giá tình hình quy chế, chế
độ thể lệ tín dụng của ngân hàng. Ngân hàng phải đảm bảo tuân thu
theo các nguyên tắc:
- Người vay vốn phải sử dụng đúng mục đích.
- Vốn vay phải được đảm bảo bằng giá trị vât tư hàng hoá tương
đương hoặc trên uy tín của khách hàng hay sự đảm bảo của người thứ
ba.
- Vốn vay đảm bảo trả đủ cả gốc và lãi đùng kỳ hạn cam kết.
Trên thực tế nếu một trong ba nguyên tắc này không thực hiện
được thì khách hàng mất khả năng trả nợ, ngân hàng khó có thể thu hồi
vốn dẫn đến mất khả năng thanh toán. Vì vậy khi nói đến chất lượng
tín dụng ngân hàng phải xem xét việc tuân thủ ba nguyên tắc trên.
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤGN
NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC
DOANH.
1.3.1. Các yếu tố chủ quan:
1.3.1.1. Nhóm yếu tố từ phía ngân hàng:
a, Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng là hệ thống chủ trương, định hướng quy
nâng cao và ngược lại.
c, Khả năng huy động vốn của ngân hàng:
Ngân hàng huy động vốn của khách hàng rồi dùng số tiền để đó
mang đi đầu tư sinh lời. Tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng
vì vậy nếu ngân hàng huy động được những nguồn vốn với chi phí
thấp thì sẽ tạo điều kiện cho hoạt động này phát triển. Bởi chi phí
nguồn sẽ ảnh hưởng đến lãi suất cho vay để bù đắp chi phí đầu vào và
mang lại thu nhập cho ngân hàng. Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào
chất lượng huy động động vốn và ngược lại. Trong trường hợp ngân
hàng huy động được nhiều vốn mà không cho vay được hoặc nhiều
doanh nghiệp có nhu cầu vốn nhưng ngân hàng không thể đáp ứng
được thì không thể nói rằng chất lượng tín dụng của ngân hàng là tốt vì
- 24 -
NguyÔn Ých Quèc Trung Chuyªn ®Ò thùc tËp
khi đó không đem lại nhiều thu nhập, có khi còn gây thiệt hại cho ngân
hàng.
d, Công tác tổ chức bộ máy ngân hàng:
Công tác tổ chức bộ máy tác động một phần không nhỏ đến chất
lượng tín dụng cuả ngân hàng. Nếu ngân hàng sắp xếp cán bộ, phòng
ban một cách có khoa học có tính linh hoạt sẽ tạo ra sự phối hợp nhịp
nhàng giữa các phòng ban, bộ phận trong ngân hàng, có sự đoàn kết
nhất trí từ ban lãnh đạo đến từng cán bộ nhân viên ngân hàng đảm bảo
đúng người đúng việc nhằm phát huy hết khả năng, sở trường của từng
cán bộ.
e, Công tác kiểm tra, kiểm soát:
Ngân hàng cần tiến hành kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau
khi cho vay. Chỉ có như thế mới có thể biết được khách hàng sử dụng
vốn có đúng mục đích và có mang lại hiệu quả không. Thông qua việc
kiểm tra, kiểm soát, ngân hàng có thể dự đoán mọi tình hình xung
quanh khoản vay và từ đó có những chính sách và biện pháp thích hợp