Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 6
1.1. Khái quát v Ngân h ng th ng m iề à ươ ạ 6
1.1.1. Khái ni m ngân h ng th ng m iệ à ươ ạ 6
1.1.2. Ch c n ng c a ngân h ng th ng m i:ứ ă ủ à ươ ạ 6
1.1.3. Các ho t ng c a ngân h ng th ng m iạ độ ủ à ươ ạ 8
1.1.3.1. Ho t d ng huy ng v nạ ộ độ ố 8
1.1.3.2. S d ng v nử ụ ố 9
1.1.3.3. Các ho t ng trung gianạ độ 10
1.2. Lý thuy t v n ng l c c nh tranh c a ngân h ng th ng m iế ề ă ự ạ ủ à ươ ạ 11
1.2.1. Khái ni m v n ng l c c nh tranh c a ngân h ng th ng m iệ ề ă ự ạ ủ à ươ ạ .11
1.2.2. Các ch tiêu ánh giá n ng l c c nh tranh n i t i c a ngân ỉ đ ă ự ạ ộ ạ ủ
h ng th ng m ià ươ ạ 13
1.2.2.1. Ti m l c t i chínhề ự à 13
1.2.2.2. N ng l c công nghă ự ệ 17
1.2.2.3. Ngu n nhân l cồ ự 17
1.2.2.4. N ng l c qu n lý v c c u t ch că ự ả à ơ ấ ổ ứ 18
1.2.2.5. H th ng kênh phân ph i v m c a d ng hóa các d ch ệ ố ố à ứ độđ ạ ị
v cung c pụ ấ 19
1.2.3. Các nhân t nh h ng t i n ng l c c nh tranh c a ngân h ng ốả ưở ớ ă ự ạ ủ à
th ng m iươ ạ 20
1.2.3.1. Môi tr ng vi môườ 20
1.2.3.2. Môi tr ng v môườ ĩ 24
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA VP
BANK TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 30
2.1. T ng quan v VP BANKổ ề 30
2.1.1. Quá trình hình th nh v phát tri nà à ể 30
3.2.1. nh h ng chung v h i nh p c a ng nh ngân h ngĐị ướ ề ộ ậ ủ à à 64
3.2.2. nh h ng nâng cao n ng l c c nh tranh c a các ngân h ng Đị ướ ă ự ạ ủ à
th ng m i c ph n Vi t Nam trong i u ki n h i nh pươ ạ ổ ầ ệ đề ệ ộ ậ 67
3.2.3. nh h ng phát tri n c a VP Bank trong quá trình h i nh p Đị ướ ể ủ ộ ậ
kinh t qu c tế ố ế 67
3.2.3.1. Ph ng h ng ho t ng kinh doanh c a VP Bank n m ươ ướ ạ độ ủ ă
2006: 67
Ngu n: Báo cáo t ng k t n m 2005 c a VP Bankồ ổ ế ă ủ 68
3.3.Gi i pháp nâng cao n ng l c c nh tranh c a VP Bank trong quá ả ă ự ạ ủ
trình h i nh p kinh t qu c t :ộ ậ ế ố ế 68
3.3.1. T ng quy mô v n i u l :ă ố đề ệ 68
3.3.2. u t phát tri n công ngh :Đầ ư ể ệ 69
3.3.3. Không ng ng nâng cao ch t l ng ngu n nhân l c:ừ ấ ượ ồ ự 69
3.3.4. Th nh l p phòng Marketing chuyên nghi p:à ậ ệ 70
3.3.5. T ng c ng h p tác v i các ngân h ng n c ngo i:ă ườ ợ ớ à ướ à 70
4.3. M t s ki n ngh :ộ ố ế ị 70
4.3.1. Ki n ngh i v i Ngân h ng Nh n c:ế ị đố ớ à à ướ 70
4.3.2. Ki n ngh i v i Chính ph v các C quan qu n lý có liên ế ị đố ớ ủ à ơ ả
quan: 72
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hướng tất yếu của thời đại, xu
hướng này như một “vòng xoáy” lôi cuốn được hầu hết các quốc gia trên
thế giới, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đã và đang tích cực
tham gia các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Tổ chức thương mại quốc tế
(WTO). Điều này sẽ ảnh hưởng tới tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động
trong nước. Lĩnh vực nhạy cảm nhất và chịu ảnh hưởng đầu tiên chính là
lĩnh vực ngân hàng. Một khi gia nhập WTO, nghĩa là phải thực hiện các
cam kết song phương, đa phương, mở cửa thị trường tài chính ngân hàng,
làm việc tại Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh – Chi nhánh Hoàn Kiếm đã hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
trình thực tập. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Lê Thanh Tâm,
cô đã nhiệt tình giúp đỡ, góp ý để tôi hoàn thành chuyên đề của mình.
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
Bảng các từ viết tắt
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHNN Ngân hàng Nhà nước
VĐL Vốn điều lệ
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
CHƯƠNG I: NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của
nền kinh tế, có mối liên hệ mật thiết với tất cả các ngành, các lĩnh vực khác
của nền kinh tế. Ngân hàng tài trợ cho Chính phủ để đầu tư phát triển và
thực hiện các chính sách kinh tế mà chủ yếu là chính sách tiền tệ nhằm điều
tiết nền kinh tế phát triển một cách ổn định. Như vậy có thể thấy rằng hoạt
động của ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể tới sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế.
Có nhiều cách để định nghĩa về ngân hàng thương mại, có thể định
nghĩa về ngân hàng thương mại trên phương diện những loại hình dịch vụ
cung cấp: “Ngân hàng thương mại là các tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết
chính là các ngân hàng. Ngân hàng tập hợp những người tiết kiệm và đầu
tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp. Cơ chế hoạt
động của ngân hàng sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các
kĩ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch.
* Tạo phương tiện thanh toán:
Tiền có 1 chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán. Các
ngân hàng đã không tạo ra được tiền kim loại. Các ngân hàng thợ vàng đã
tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng.
Giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành
phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Như vậy ban
đầu các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán thay thế cho tiền kim
loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế, dần
dần giấy nhận nợ đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và
phương tiện cất trữ, nó đã trở thành tiền giấy.
Việc in tiền đem lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng
tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát
hành (in) tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ Tài chính hoặc là Ngân hàng
Trung ương. Từ đó chấm dứt việc ngân hàng thương mại tạo ra giấy bạc
cho riêng mình.
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
Qua điều kiện phát triển thanh toán thông qua ngân hàng, các khách
hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ
có thể chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Do đó,
bằng việc cho vay, làm tăng số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của
khách hàng, ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán.
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi
các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác
trên cơ sở cho vay.
* Trung gian thanh toán:
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi
trong dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời và an toàn.
Nguồn vốn chủ sở hữu: để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân
hàng phải có một lượng vốn nhất định và còn được bổ sung trong quá trình
hoạt động. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành
nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng.
Các nguồn vốn khác: đây thường là các nguồn không phải trả lãi, tuy
nhiên chi phi để có và duy trì chúng là rất đáng kể, ví dụ như nguồn uỷ
thác
1.1.3.2. Sử dụng vốn
* Các hoạt động về ngân quỹ:
Dự trữ bắt buộc: đây là khoản dự trữ mà ngân hàng Nhà nước yêu
cầu các ngân hàng thương mại nộp vào tài khoản tại ngân hàng Nhà nước
nhằm mục đích: hỗ trợ, bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng
thương mại, vận hành chính sách tiền tệ quốc gia, quản lý hoạt động ngân
hàng thương mại.
Dự trữ vượt quá: là các khoản dự trữ tồn tại dưới dạng tiền mặt tại
quỹ, các khoản tiền gửi tại ngân hàng khác, tiền mặt trong quá trình thu.
Nhìn chung, ngân quỹ của ngân hàng thương mại là tài sản không
sinh lời (hoặc sinh lời thấp trong trường hợp tiền gửi tại ngân hàng Nhà
nước và các ngân hàng khác được hưởng lãi) song lại là tài khoản có tính
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
thanh khoản cao nhất, đáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên. Do vậy, mỗi
ngân hàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở mức thấp nhất có thể được.
* Cho vay: là việc ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho người
khác trong một thời gian, sau đó được quyền thu cả gốc lẫn lãi. Cho vay là
khoản mục có tỷ lệ cao nhất trong các loại tài sản của ngân hàng. Có rất
nhiều loại hình cho vay khác nhau đáp ứng nhu cầu của dân cư hay các
doanh nghiệp.
là rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên ngân hàng
có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho
khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng
khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác
1.2. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Vì sao lại có những công ty này mạnh hơn những công ty khác? Vì
sao lại có những quốc gia này giàu có hơn những quốc gia khác? Liệu các
nước kém phát triển hơn có thể phát triển kịp các quốc gia đã phát triển?
Các công ty nhỏ, mới thành lập có khả năng cạnh tranh với các công ty lớn
mà danh tiếng đã được khẳng định không? Làm thế nào để có thể cạnh
tranh được.
Rất nhiều nhà kinh tế học, các nhà kinh tế đã đi tìm câu trả lời cho
những câu trả lời này. Trong những năm thuộc thế kỷ 18 Adam Smith đã
cố gắng lý giải câu hỏi “Cái gì làm cho một quốc gia trở nên giàu có?” và
ông đã cho ra đời lý thuyết về lợi thế tuyệt đối trong tác phẩm “Bản chất về
sự giàu có của các quốc gia”. Đi xa hơn học thuyết của Adam Smith, David
Ricardo đã xây dựng lý thuyết lợi thế so sánh để lý giải về những lợi ích
trong thương mại quốc tế và đồng thời cũng lý giải cho việc vì sao có
những nước phát triển hơn nhờ vào việc khai thác những lợi thế tương đối
của mình.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
Trên cơ sở kế thừa lý thuyết về lợi thế so sánh, các nhà kinh tế học
hiện đại đã tập trung phát triển và đang dần hình thành nên một hệ thống
khái niệm mới về năng lực cạnh tranh. Rất nhiều các học thuyết đã được
xây dựng để phân tích năng lực cạnh tranh của các quốc gia cũng như các
công ty, doanh nghiệp. Trong đó, nổi bật nhất phải kể đến học thuyết của
Michael Porter. Trong các tác phẩm của mình, Michael Porter đã có những
nghiên cứu rất toàn diện về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp,
hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự
hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua
những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”
3
.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của ngân hàng
thương mại
Để có thể đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của ngân hàng thương
mại cần đưa ra được một hệ thống chỉ tiêu. Hệ thống chỉ tiêu này không chỉ
phản ánh năng lực cạnh tranh hiện tại mà còn phải phản ánh được khả năng
duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh của ngân hàng trong tương lai. Việc
xác định được hệ thống các chỉ tiêu này có ý nghĩa rất quan trọng cho mỗi
ngân hàng để có định hướng xây dựng, khai thác và phát triển lợi thế cạnh
tranh của mình. Các chỉ tiêu bao gồm: tiềm lực tài chính, năng lực công
nghệ, nguồn nhân lực, năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức, hệ thống kênh
phân phối và mức độ đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp.
1.2.2.1. Tiềm lực tài chính
Đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại, vấn đề
đầu tiên thường được quan tâm là tiềm lực tài chính của ngân hàng đó.
Tiềm lực tài chính được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau, ở đây chỉ
đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản nhất, đó là: mức độ an toàn vốn và khả năng
huy động vốn, chất lượng tài sản, mức sinh lợi, khả năng thanh khoản.
- Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn: Tiềm lực về vốn
thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể như: quy mô vốn chủ sở hữu, hệ số an toàn
vốn. Năng lực tài chính của một ngân hàng thương mại thể hiện trước hết ở
3
Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại trong xu thế hội nhập, PGS,TS
Nguyễn Thị Quy, tr22, Nxb Lý luận Chính trị,Hà Nội, 2005
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu (ROE), các chỉ tiêu về mức sinh lợi trong mối tương quan với chi
phí. Trong số các chỉ tiêu này, hai chỉ tiêu thường được quan tâm để đo
lường kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng là ROA, ROE.
Về chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA):
ROA =
Lợi nhuận ròng
* 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu trên cho thấy khả năng bao quát của hoạt động ngân hàng
thương mại trong việc tạo thu nhập từ tài sản. Các ngân hàng thường sử dụng
ROA để đo lường mối quan hệ sinh lời của tài sản và nguồn vốn bởi vì một bộ
phận nguồn vốn được sử dụng tạo nên tài sản không sinh lãi và có một bộ phận
tài sản không sinh lãi lại tham gia tạo nên thu nhập cho ngân hàng. Do vậy nếu
ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tốt, cơ cấu
tài sản hợp lý. Tuy nhiên nếu ROA quá lớn làm cho các nhà quản trị lo lắng vì
rủi ro nhìn chung luôn đi song hành với lợi nhuận.
Về chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE):
ROE =
Lợi nhuận ròng
* 100%
VCSH
ROE là chỉ tiêu được các ngân hàng quan tâm đến nhiều nhất, cho
thấy khả năng sinh lời từ một đồng vốn của chủ, số lợi nhuận ròng mà một
cổ đông có được. Do vậy, các ngân hàng luôn cố gắng tăng chỉ tiêu ROE để
tăng tính hấp dẫn đối với các cổ đông bằng phương pháp như: kiểm soát
chi tiêu, đầu tư, quản lý rủi ro có hiệu quả… Tuy nhiên, việc tăng ROE quá
cao so với ROA chứng tỏ nguồn vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng
phải có một đội ngũ chuyên viên có trình độ cao, giàu kinh nghiệm, có khả
năng xây dựng được chiến lược và các quy trình quản lý thanh khoản, có
khả năng giám sát và phản ứng linh hoạt trước những biến động bất thường
trong cơ cấu tài sản nợ/có. Khả năng tiếp cận đến những nguồn vốn tài trợ
cho những nhu cầu thanh khoản bất thường như qua cửa sổ chiết khấu của
NHNN, vay các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng, sự phát triển
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
thị trường thứ cấp cho các giao dịch giấy tờ có giá… cũng là vấn đề quan
trọng quyết định khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của một ngân hàng.
1.2.2.2. Năng lực công nghệ
Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò
như là một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất
của mỗi ngân hàng. Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công
nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân
hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động ATM… Công nghệ trong lĩnh vực ngân
hàng còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống báo cáo rủi
ro… trong nội bộ ngân hàng. Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của
các ngân hàng thương mại cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ
của một ngân hàng. Vì với tốc độ phát triển rất nhanh của ngành công nghệ
thông tin nói chung và công nghệ lĩnh vực ngân hàng nói riêng, nếu chỉ tập
trung phân tích vào khả năng công nghệ hiện tại mà không chú ý tới khả
năng nâng cấp và thay đổi trong tương lai thì sẽ rất dễ có những nhận thức
sai lầm về năng lực công nghệ của các ngân hàng. Vì thế, năng lực công
nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn
bao gồm cả khả năng mở (nghĩa là khả năng đổi mới) của các công nghệ
hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế.
1.2.2.3. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ doanh
nghiệp cũng như ngân hàng nào. Năng lực cạnh của nguồn nhân lực của
nguồn lực và làm yếu đi năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó.
Năng lực quản lý của Hội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc bị
chi phối bởi cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại. Cơ cấu tổ chức là
một chỉ tiêu quan trọng phản ánh cơ chế phân bổ các nguồn lực của một
ngân hàng có phù hợp với quy mô trình độ quản lý của ngân hàng; phù hợp
với đặc trưng cạnh tranh của ngành và yêu cầu của thị trường hay không.
Cơ cấu tổ chức của một ngân hàng thể hiện ở sự phân chia các phòng ban
chức năng, các bộ phận tác nghiệp, các đơn vị trực thuộc… Hiệu quả của
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
cơ chế quản lý không chỉ phản ánh ở số lượng các phòng ban, sự phân
công, phân cấp giữa các phòng ban mà còn phụ thuộc vào mức độ phối hợp
giữa các phòng ban, các đơn vị trong việc triển khai chiến lược kinh doanh,
các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày, khả năng thích nghi và thay đổi của cơ
cấu trước những biến động của ngành hay những biến động trong môi
trường vĩ mô…
1.2.2.5. Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa các dịch vụ
cung cấp
Hệ thống kênh phân phối luôn là một yếu tố quan trọng trong hoạt
động của các ngân hàng thương mại. Hệ thống kênh phân phối của ngân
hàng thương mại được thể hiện ở số lượng các chi nhánh và các đơn vị trực
thuộc khác (như sở giao dịch) và sự phân bổ các chi nhánh theo địa lý lãnh
thổ. Việc triển khai các công nghệ ngân hàng hiện đại đang làm rút ngắn
khoảng cách về không gian và làm giảm tác động của một mạng lưới chi
nhánh rộng khắp đối với năng lực cạnh tranh của một ngân hàng. Tuy
nhiên, vai trò của một mạng lưới chi nhánh rộng lớn vẫn rất có ý nghĩa, đặc
biệt là trong điều kiện các dịch vụ truyền thống của ngân hàng vẫn còn phát
triển. Hiệu quả của mạng lưới chi nhánh rộng cũng là một chỉ tiêu quan
trọng, thể hiện thông qua tính hợp lý trong phân bố chi nhánh ở các vùng,
miền cũng như vấn đề quản lý, giám sát hoạt động của các chi nhánh.
MT văn hoá
MT tự nhiên
Ngân
hàng
Các NH
mới
Dịch vụ thay thế
mới
Khách
hàng
Các NH
hiện tại
Môi trường
kinh tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
a. Bản thân ngân hàng thương mại:
Có nhiều yếu tố thuộc về bản thân ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp tới
năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại, một số yếu tố quan
trọng nhất đó là: vốn của chủ, nguồn nhân lực, công nghệ và công tác
marketing của ngân hàng.
* Vốn của chủ: Để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng
phải tạo vốn, trước hết là vốn của chủ sở hữu. Nguồn vốn này cần đảm bảo
lớn hơn một lượng vốn tối thiểu theo quy định của của pháp luật nhằm mục
đích: thứ nhất, bù đắp những khoản thua lỗ trong kinh doanh, thứ hai dùng
để tăng trưởng và mở rộng hoạt động của ngân hàng trong tương lai, thứ ba
là để bảo vệ người gửi tiền và các nhà đầu tư, thứ tư là để chi cho cơ sở hạ
tầng của ngân hàng (xây dựng trụ sở, mua sắm tài sản cố định…). Với vốn
của chủ, ngân hàng đảm bảo có khả năng bù đắp cho những người gửi tiền
trong trường hợp kinh doanh thua lỗ. Vì vậy, đây chính là một lợi thế trong
hoạt động cạnh tranh của ngân hàng, các ngân hàng có vốn của chủ lớn hơn
liên tục đổi mới, tự làm mới mình cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động
của bản thân thì mới có thể tồn tại và phát triển được. Cạnh tranh giữa các
ngân hàng bao gồm ba nội dung chủ yếu là: cơ cấu cạnh tranh ngành, tình
trạng cầu và hàng rào lối ra.
- Cơ cấu cạnh tranh ngành dựa vào khả năng cung ứng dịch vụ của
mỗi ngân hàng.
- Tình trạng cầu: đây là yếu tố quyết định mức độ cạnh tranh giữa
các ngân hàng, nếu cầu tăng thì các ngân hàng có cơ hội mở rộng hoạt động
kinh doanh, còn nếu cầu giảm thì sự cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn, khả
năng mất thị phần luôn đe doạ các ngân hàng không có khả năng cạnh
tranh.
- Hàng rào lối ra: đây là mối đe doạ cạnh tranh khi cầu của ngành
giảm, nó có thể là đầu tư máy móc thiết bị, tài sản cố định, chi phí xã hội,
rủi ro khi sa thải nhân công…
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
c. Các ngân hàng mới:
Đây chính là những đối thủ tiềm ẩn, không kém phần nguy hiểm so
với các ngân hàng hiện tại, mà có khi còn đáng lo ngại hơn vì các ngân
hàng mới có tiềm năng mới, động cơ và ước vọng giành được thị phần, có
kinh nghiệm từ những ngân hàng hoạt động trước nó, có khả năng thích
ứng với thời cuộc một cách nhanh chóng. Hơn nữa, các ngân hàng mới có
thể có những chiến lược mới với sức mạnh mới mà những ngân hàng hiện
tại chưa thể ứng phó kịp. Vì vậy, nếu để càng nhiều ngân hàng gia nhập thị
trường thì sự cạnh tranh càng gay gắt, ngân hàng càng có nguy cơ bị giảm
thị phần, lợi nhuận bị san sẻ, vị thế cạnh tranh bị thay đổi.
d. Khách hàng:
Khách hàng của ngân hàng thương mại là các cá nhân, tổ chức và
ngay cả những ngân hàng khác. Khi những khách hàng này gửi tiền, lập tài
khoản giao dịch… thì họ đóng vai trò là người bán, họ mong “bán” được
trường vĩ mô nghĩa là bao gồm những môi trường cơ bản như: môi trường
kinh tế, môi trường văn hoá – xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường
chính phủ, pháp luật và chính trị.
a. Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế có ý nghĩa đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Nếu coi hệ thống ngân hàng như là một hệ tuần hoàn trong một cơ thể sống
là nền kinh tế thì hệ tuần hoàn đó có hoạt động tốt hay không, có đủ máu để
lưu thông và chất lượng máu cũng như hệ thống mao mạch có tốt hay
không lại phụ thuộc vào cơ thể sống đó. Cụ thể, bất kể một ngân hàng nào
cũng thưòng quan tâm tới một số chỉ tiêu như: tốc độ phát triển của nền
kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát. Một nền kinh tế có tốc độ
phát triển cao sẽ tạo cơ hội cho đầu tư mở rộng hoạt động ngân hàng và
ngược lại. Còn mức lãi suất sẽ quyết định tới mức cầu cho doanh nghiệp,
nên các ngân hàng thường đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn với doanh
nghiệp. Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái ảnh hưởng mạnh đến hoạt
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Ngọc Lan – NH44A
động kinh doanh ngân hàng, có thể đem lại cho ngân hàng một vận hội
kinh doanh tốt hoặc cũng có thể là nguy cơ phá sản. Tỷ lệ lạm phát cũng
ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng thông qua việc ảnh hưởng tới sự
nhiệt tình của các nhà đầu tư đối với các dự án. Nghiên cứu các chỉ tiêu của
môi trường kinh tế cũng như chiều hướng phát triển của toàn bộ nền kinh tế
là cơ sở quan trọng để các nhà chiến lược ngân hàng hoạch định về chiến
lược đầu tư, đổi mới của mình.
b. Môi trường văn hoá – xã hội:
Một số yếu tố về văn hoá – xã hội có thể ảnh hưởng tới năng lực
cạnh tranh của ngân hàng thương mại, cụ thể nó ảnh hưởng thông qua việc
tác động tới nhu cầu và nguồn nhân lực.
Những đặc điểm xã hội ảnh hưởng tới nhu cầu đối với các dịch vụ
ngân hàng đó là: lòng tin của dân chúng đối với các ngân hàng, thói quen