1
MỤC LỤC Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG
5
1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7
2/ ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU 8
3/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 8
4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
4.1/ Phương pháp luận 9
4.2/ Phương pháp 9
5/ Ý NGHIÃ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 13
1.1/CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT–ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT
13
1.1.1/ Các quan điểm về lạm phát 13
1.1.2/ Đo lường lạm phát
13
1.2/ CÁC LOẠI LẠM PHÁT 14
1.2.1/ Lạm phát vừa phải 14
1.2.2/ Lạm phi mã 14
1.2.3/ Siêu lạm phát 15
1.3/ NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT 16
NĂM 2006 45
2.4.1/ Các yếu tố làm giảm lạm phát 45
2.4.2/ các yếu tố làm tăng lạm phát 49
CHƯƠNG III
CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 53
3.1/ MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TỔNG QUÁT 5 NĂM 2006 –
2010 CỦA VIỆT NAM 53
3.2/ ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN
HIỆN NAY 54
3.2.1/ Cách tính lạm phát hiện nay 54
3.2.2/ Đo lường lạm phát ở Việt nam bằng lạm phát cơ bản 56
3
3.2.3/ Xác đònh lại rổ hàng hoá 58 3.3/ CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LẠM PHÁT GÓP PHẦN ỔN
ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 –
2010 58
3.3.1/ Chính phủ kiểm soát lạm phát 59
3.2.1.1 Chống những hành vi trục lợi 59
3.2.1.2Cải cách tiền lương 61
3.2.1.3 Cải cách hành chính 61
3.2.1.4 Xây dựng một quy chế quản lý giá cả hợp lý 62
3.3.2/ Ngân hàng nhà nước trong việc kiểm soát lạm phát 66
3.2.2.1 Điều hành chính sách tiền tệ 66
3.2.2.2 Những vấn đề cần phải có sự phối kết hợp đồng bộ 70
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTƯ Ngân hàng trung ương
NSNN Ngân sách nhà nước
OTC Thò trường phi tập trung
TCTD Tổ chức tín dụng
TNQD Thu nhập quốc dân
VND Đồng Việt Nam
XDCB Xây dựng cơ bản
XNK Xuất nhập khẩu
UBND Uỷ ban nhân dân
USD Đôla Mó
WFE Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
M Số lượng tiền tệ
ICOR Tỷ lệ thu nhập tăng thêm trên đầu tư
EC Khối tiền tệ chung Châu âu
LTTP Lương thực thực phẩm
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
2003-2006 Trang 44
Bảng 2.21 Diễn biến giá cả một số mặt hàng của Việt Nam,
2004-2006 Trang 44
6
Bảng 2.22 Điều chỉnh thuế một số mặt hàng, 2005-2006 Trang 44
Bảng 2.23 Điều hành CSTT của NHNN 205-2006 Trang 46
Bảng 3.1 Quyền số giá tiêu dùng năm 2000 Trang 51
Bảng 3.2 Lãi suất ngân hàng nào cao nhất Trang67
Bảng PL1 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua cáctháng trong năm 2001
Trang75
Bảng PL2 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2002
Trang76
Bảng PL3 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2003
Trang77
Bảng PL4 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2004
Trang78
Bảng PL5 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong 6 tháng đầu
năm 2005 Trang79
Bảng PL6 Tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1986 đến
2006 Trang80
Bảng PL7 Kết qủa phân tích hồi quy giữa lạm phát và tăng trưởng kinh
tế theo phương pháp bình phương nhỏ nhất Trang 82
Bảng PL8 Kết qủa phân tích hồi quy giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp
theo phương pháp bình phương nhỏ nhất Trang 83
Bảng PL9 Kết qủa phân tích hồi quy giữa lạm phát và tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động ở nông thôn theo phương pháp bình phương nhỏ
nhất Trang 84
BảngPL10 Những đòa chỉ thất thoát, lãng phí Trang 85
BảngPL11 Tốc độ tang giá tiêu dùng, giá lương thực thực phẩm từ 1990-
vấn đề này lại càng được các nhà hoạch đònh chính sách quan tâm nhiều
hơn. Trong năm 2004, chỉ số giá tiêu dùng của nước ta tăng 9,5 %, có
người nói chúng ta lên cơn sốt lạm phát và có người nói chúng ta chưa lạm
phát mặc dù chỉ số giá này đã tăng vượt quá ngưỡng mục tiêu đề ra ban
đầu (4- 5%), đến 2005 thì chỉ số giá tiêu dùng lại được khống chế chỉ còn
8,4% bằng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, năm 2006 chỉ số giá tiêu dùng
được khống chế ở mức 6,6% thấp hơn 1,6% so với tốc độ tăng trưởng kinh
tế. Diễn biến tình hình thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng nước ta đã làm cho
các nhà hoạch đònh, nhà nghiên cứu phải tốn nhiều công sức để khống chế
nó.
Vậy nền kinh tế nước ta trong năm 2004, 2005, 2006 và những năm
trước đó có lạm phát hay không, và nếu có là bao nhiêu, là cao hay thấp,
mức lạm phát đó có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế, những nguyên
nhân nào gây ra lạm phát ở nước ta, là những vấn đề cần phải làm sáng tỏ,
để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thích hợp để kiểm soát lạm phát
góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10
năm 2001 – 2010 mà Đại hội IX của Đảng đã đề ra.
8
Lạm phát là một vấn đề phức tạp, có liên quan đến nhiều lónh vực,
nhưng với mong muốn bằng những kiến thức đã học được để đưa ra những
giải pháp, mặc dù có những giải pháp mới chỉ dừng lại ở những ý tưởng,
1
Website của NHNN
nhưng đây cũng là những giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát được tốt hơn
và góp phần vào mục tiêu nêu trên nên tác giả quyết đònh chọn
giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam làm đề tài luận văn tốt
nghiệp cao học kinh tế.
2/ ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
Để giải quyết những vấn đề đặt ra ở trên, luận văn cần trả lời được
những câu hỏi sau:
Một là: Nền kinh tế Việt Nam có bò lạm phát hay không ? Trong
đó tập trung vào trả lời cho giai đoạn 2001 – 2006, nổi lên là năm 2004,
mà cho đến nay vẫn còn hai luồng ý kiến trái ngược nhau.
Hai là: Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đối với tăng trưởng
kinh tế? Tỷ lệ thất nghiệp và cán cân thanh toán? Phương trình hồi quy xác
đònh mức độ tương quan giữa lạm phát với các nhân tố trên như thế nào ?
Bøa là: Có tồn tại một ngưỡng lạm phát ở nước ta hay không? Nếu
có thì ngưỡng đó là bao nhiêu ?
Bốn là: Những nguyên nhân chủ yếu nào gây ra lạm phát ở Việt
Nam thời gian qua ?
Năm là: Cách tính lạm phát ở Việt nam hiện nay có phù hợp với
điều kiện kinh tế – xã hội ở nước ta nữa hay không ? Nếu không thì nên
chọn cách tính nào khác (bước đầu đối chiếu với cách tính lạm phát của
một số nước trên thế giới). Nếu còn phù hợp thì có phải điều chỉnh gì
không ?
Sáu là: Lạm phát ở Việt Nam có chòu ảnh hưởng bới những biến
động kinh tế khu vực và thế giới hay không ?
4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
4.1/ Phương pháp luận :
Do vấn đề lạm phát có liên quan mật thiết đến nhiều vấn đề khác
như tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, cán cân thanh toán …
thuộc nhiều lónh vực khác nhau như tài chính Nhà nước, tín dụng ngân
hàng … nên khi nghiên cứu lạm phát phải đặt trong mối quan hệ tương hỗ
qua lại giữa các yếu tố trên, giữa các lónh vực trên. Do vậy, phương pháp
luận chủ đạo của luận văn là vận dụng phép duy vật biện chứng.
Tuy nhiên, trong phạm vi một luận văn, để đơn giản vấn đề
nghiên cứu, luận văn chỉ đi vào nghiên cứu sự tác động của lạm phát lên
giả chọn số liệu trong vòng 11 năm 1996 đến 2006 để chạy hàm hồi quy.
Tuy nhiên, chuỗi số liệu có thể mở rộng ra hoặc thu hẹp lại trong từng tình
huống nghiên cứu.
Để có thể thấy được vấn đề nghiên cứu có thể thay đổi như thế
nào qua thời gian, luận văn sử dụng phương pháp so sánh – đối chiếu
nhằm xem xét vấn đề trong mối tương quan, so sánh đối chiếu giữa những
thời kỳ khác nhau.
11
Ngoài ra, để mổ xẻ vấn đề nghiên cứu một cách tỷ mỉ, luận văn sử
dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành : Xem xét, nghiên cứu vấn đề
dưới nhiều góc độ, từ nhiều ngành khác nhau.
Do bản chất nghiên cứu khoa học bao giờ cũng có tính kế thừa,
nên trong luận văn có vận dụng kết quả nghiên cứu của một số chuyên gia
về các vấn đề có liên quan.
Cuối cùng, một phương pháp khác không kém phần quan trọng là
phương pháp chuyên gia : Tìm hiểu vấn đề thông qua hình thức thu thập ý
kiến của những người có nhiều kinh nghiệm (đặc biệt là các thầy cô giảng
viên), am tường trên từng lónh vực để từ đó rút ra những kết luận xác thực.
5/ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI :
Trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều bất ổn do chiến
tranh, xung đột, thiên tai, đặc biệt là nạn khủng bố thì Việt Nam trong
những năm gần đây được xem là điểm đến an toàn nhất, có tình hình
chính trò ổn đònh nhất. Nếu như chúng ta tạo được một sự ổn đònh nữa về
mặt kinh tế thì khả năng thu hút đầu tư nước ngoài là rất lớn, nhưng trước
hết là tạo được một tâm lý ổn đònh trong nước, khuyến khích mọi tầng lớp
dân cư an tâm làm ăn lâu dài vì quốc tế dân sinh, từ đó góp phần vào việc
phát triển kinh tế một cách ổn đònh, bền vững.
Để tạo được một sự ổn đònh về kinh tế, cần phải thực hiện nhiều
giúp chúng ta thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt
ra.
Với những mục đích như trên, đề tài mang ý nghóa thiết thực đối
với công cuộc phát triển kinh tế hiện nay.
Toàn bộ nội dung của đề tài được thể hiện trong 3 chương :
Chương I
: LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
Chương II
: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
Chương III : GIẢI PHÁP ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 13
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
1.1/ CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT – ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT
1.1.1/ Các quan điểm về lạm phát
1
Lý thuyết tài chính – tiền tệ năm 1999. TS . Nguyễn Đức Thanh
quy trình lạm phát.
14
- Mô hình tham số của quy trình lạm phát.
Mỗi phương pháp, mô hình có những ưu điểm, nhược điểm riêng
và khó khăn riêng. Trong đó, phương pháp điều chỉnh trung bình được
công nhận rộng rãi và dễ áp dụng(phụ lục 12: xác đònh lạm phát cơ bản
bằng phương pháp điều chỉnh trung bình). Muốn sử dụng phương pháp này
trước hết cần thu thập thông tin về sự thay đổi giá cả hàng tháng của từng
mặt hàng có trong rổ hàng hóa. Để có được thông tin này, hiện nay ở Việt
Nam chỉ có Tổng cục thống kế mới nắm được. Do vậy, trong thời gian tới
Tổng cục thống kê và NHNN cần thu thập thông tin để tính lạm phát cơ
bản theo phương pháp điều chỉnh trung bình hoặc nghiên cứu sử dụng
phương pháp hoặc mô hình thích hợp để tính lạm phát cơ bản.
1.2/ CÁC LOẠI LẠM PHÁT
Căn cứ vào tốc độ lạm phát, lạm phát được chia thành 3 loại như
sau :
- Lạm phát vừa phải.
- Lạm phát phi mã.
- Siêu lạm phát.
1.2.1/ Lạm phát vừa phải (Reasonable Inflation)
Lạm phát vừa phải là lạm phát ở mức 1 con số nguyên (tỷ lệ tăng
giá cả hàng hóa trong khoảng 10% trở lại). Ở mức độ lạm phát vừa phải,
giá cả tăng chậm dao động xung quanh mức tăng tiền lương. Trong điều
kiện như thế, giá trò tiền tệ không biến động nhiều, tạo điều kiện thuận lợi
cho kinh tế phát triển.
Khi giá cả tăng vượt ra khỏi mức độ hợp lý trên, người ta nói lạm
tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải hay
kiển soát lạm phát được. Đối với loại này thì tuỳ theo chiến lược và chiến
thuật phát triển kinh tế mỗi thời kỳ mà các Chính phủ có thể chủ động
đònh hướng mức khống chế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao
nhiêu để gắn với một số mục tiêu kinh tế khác: Kích thích tăng trưởng kinh
tế, tăng cường xuất khẩu và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các năm tài khoá
nhất đònh. Tuy nhiên chỉ có thể chấp nhận có lạm phát vừa phải trong điều
kiện nền kinh tế chưa đạt tới trò giá sản lượng tiền năng so với điều kiện
hiện tại – Khi mà nhiều nhân tố của sản xuất vẫn còn nằm trong tình
trạng ngủ yên hoặc chưa có phương án khả thi để phát huy các tiềm năng
đó.
Lạm phát phi mã là cấp độ cao thứ 3 có tỷ lệ lạm phát bình quân/
năm từ mức trung bình của 2 con số đến đỉnh cao của 3 con số. Đây là tỷ lệ
lạm phát vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của NHTƯ.
Cấp độ siêu lạm phát là hiện tượng khủng hoảng kinh tế đã đến
mức rất nghiêm trọng – Tỷ lệ lạm phát đã lên đến trên 3 con số – Thậm
chí người ta không thể đo lạm phát bằng số % mà bằng số lần tăng giá
trong năm. Điển hình là ở Đức trong các năm từ 1921 đến 1923 sau đại
chiến thế giới lần thứ nhất.
16
Như vậy, có thể phân loại lạm phát theo nhiều mức độ khác nhau
để có những biện pháp điều kiểm soát thích hợp. Song, biện pháp “phòng
chống” hay “chữa trò”cũng còn phải căn cứ vào nguyên nhân gây “bệnh”.
1.3/ NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT
Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, song nguyên nhân trực tiếp
của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu
tăng quá mức (lạm phát do cầu kéo) hoặc tổng cung giảm do chi phí tăng
lên (lạm phát chi phí đẩy).
khắp đối với nhiều mặt hàng trên thò trường”. Trong lạm phát cầu kéo, tiền
tệ đồng thời có 2 vai trò: vừa là nền tảng, vừa là nguyên nhân cực.Trong
lạm phát chi phí đẩy tiền tệ cũng là cơ sở của lạm phát nhưng đóng vai trò
thụ động, nghiã là tiền tệ sẽ bò cuốn vào dòng xoáy của giá cả sản xuất.
Vậy, nguyên nhân nào làm cho tổng cầu tăng lên? Có thể chỉ ra
một số nguyên nhân cơ bản như sau :
- Chi tiêu của Chính phủ tăng lên dẫn đến số lượng tiền tệ M gia
tăng, làm cho mức cầu về hàng hoá tăng.
- Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn
ở trong nước, ngoài nước hoặc NHTƯ. NHTƯ ứng trước cho NSNN tức là
NHTƯ đã phát hành tiền qua ngõ chính phủ, vì vậy khối lượng tiền tệ lưu
thông tăng. Vay nước ngoài cũng làm khối lượng tiền tệ tăng. Vay trong
nước khi trả mà thu không đủ chi cũng phải phát hành và làm cho khối
lượng tiền tệ tăng.Khối lượng tiền tệ tăng làm cho tổng chi tiêu bằng tiền
tăng.
- Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng lên do mức thu thập tăng
hoặc lãi suất giảm.
- Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự
gia tăng tốc độ lưu thông tiền tệ. Nếu dân chúng có khuynh hướng thích
tiêu dùng, tốc độ lưu thông tiền tệ gia tăng.
- Đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên do dự đoán về triển vọng
phát triển kinh tế trong nước và cả ngoài nước hay do lãi suất giảm.
- Do chính sách tiền tệ mở rộng tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp, người dân dễ tiếp cận nguồn vốn, có thể vay dễ dàng hơn, vay
nhiều hơn dẫn đến nhu cầu chi tiêu nhiều hơn.
- Các yếu tố liên quan đến nhu cầu nước ngoài như : Tỷ giá hối
đoái, mức thu nhập của cư dân nước ngoài … làm gia tăng nhu cầu hàng
hóa xuất khẩu kéo theo tổng cầu gia tăng.
Trong các phân tích trên, tổng cầu tăng gây áp lực tăng giá làm
xảy ra tình trạng lạm phát trong ngắn hạn. Song, nếu nền kinh tế chưa đạt
1
gọi sự vận hành của cơ chế
này là đường xoáy trôn ốc.
- Do giá nhập khẩu tăng lên tác động trực tiếp tới giá cả trong nước
(nếu là hàng tiêu dùng trực tiếp) hoặc tác động gián tiếp thông qua việc
làm tăng chi phí sản xuất (nếu là đầu vào của quá trình sản xuất). Giá
hàng nhập khẩu tăng lên có thể do lạm phát của nước ngoài cao làm cho
giá nguyên liệu ở nước xuất khẩu tăng, hay do đồng nội tệ bò mất giá so
với đồng tiền của những nước có quan hệ mậu dòch…
- Do thuế suất tăng lên làm ảnh hưởng tới mức sinh lời của các nhà
1
Nhà kinh tế học người Scotland
19
đầu tư do vậy đẩy giá cả tăng lên. Để duy trì mức sinh lời mong muốn,
hoặc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ lợi nhuận bằng biện pháp tăng giá bán
hàng hoá sẽ làm cho giá cả tăng, việc tăng giá trong trường hợp này mang
tính chất hành chính tích cực nhằm duy trì lợi nhuận ở mức mong muốn.
Việc này thường xảy ra trong điều kiện độc quyền. Một số nước gọi là “
lạm phát hành chính”.
Như vậy, một lần nữa khi phân tích về lạm phát cầu kéo và lạm
phát chi phí đẩy đều cho thấy lạm phát xảy ra sẽ làm cho giá cả hàng hoá
tăng lên. Trong khi phân tích về các loại lạm phát, nguyên nhân của lạm
phát, các nhà kinh tế thừa nhận rằng không phải lạm phát lúc nào cũng
gây ra hậu quả xấu đối với nền kinh tế xã hội. Lạm phát tác động tích cực
hay tiêu cực đến nền kinh tế phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của nó,
song nhìn chung khi lạm phát cao xảy ra nó thường để lại, không nhiều thì
ít , những hậu quả cho nền kinh tế .
nếu lạm phát dự tính không phù hợp với lạm phát thực tế nó sẽ làm ảnh
hưởng đến mức lãi suất thực. Kết quả là ảnh hưởng đến tiết kiệm và đầu
tư, cuối cùng là ảnh hưởng đến mức tăng trưởng kinh tế.
Trong lónh vực sản xuất kinh doanh, do lạm phát, giá cả vật tư
hàng hoá, nguyên liệu tăng, làm cho khu vực sản xuất kinh doanh mỗi
ngày một thu hẹp, ngượv lại dòch vụ, thương mại lại phát triển(buôn bán có
lợi hơn)dẫn đến khủng hoảng kinh tế và trật tự kinh tế bò rối loạn.
Trong lónh vực đầu tư, sự biến động bất thường của lạm phát gây
khó khăn cho việc xác đònh mức sinh lợi chính xác của các khoản đầu tư,
khiến cho các nhà đầu tư ngần ngại khi tiến hành đầu tư, nhất là đầu tư
vào các dự án dài hạn, làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế.
Trong lónh vực lưu thông phân phối, giá cả hàng hoá tăng đã gây
nên tình trạng đầu cơ tích trữ hàng hoá vì thế làm mất cân đối giả tạo quan
hệ cung cầu làm cho lónh vực lưu thông bò rối loạn.
Hai là: Lạm phát làm cho đời sống dân cư gặp khó khăn hơn.
Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghóa tăng lên, giá cả
hàng hoá tăng, trong khi thu nhập không tăng, hoặc tăng chậm(đặc biệt là
những người làm công ăn lương) ngày càng gặp khó khăn.
Ba là
: Lạm phát làm rối loạn hệ thống tiền tệ.
Trong lónh vực tiền tệ tín dụng, lạm phát làm cho sức mua đồng
tiền giảm, lưu thông tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của
tiền tệ tăng lên một cách đột biến càng làm cho sức mua của đồng tiền
giảm xuống nhanh chóng hơn. Hoạt động của hệ thống tín dụng ngân hàng
rơi vào tình trạng khủng hoảng, do nguồn tiền gửi trong xã hội bò sụt giảm
nhanh chóng, nhiều nhân hàng bò phá sản do mất khả năng thanh toán và
thua lỗ trong kinh doanh. Tình hình đó làm cho hệ thống tiền tệ bò rối loạn
và không thể kiểm soát nổi.
21
giảm sự gia tăng của tổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân làm gia
tăng chi phí.
Nước Mỹ rất sợ lạm phát, nhưng họ vẫn không sợ vay nợ, phải
chăng là họ quản lý tốt và chi tiêu có hiệu quả nguồn vốn vay… chỉ khi
kinh tế suy thoái mới đẩy tiền ra để kích thích kinh tế tăng trưởng, nhưng
22
khi nền kinh tế vừa có dấu hiệu của lạm phát (mới chỉ có 2,5%/ năm) họ
đã tăng lãi xuất để kiềm chế lạm phát. Lạm phát ở Trung Quốc vừa mới
xuất hiện và cũng chỉ ở dưới mức 4%, họ đã giảm đầu tư để giảm nóng cho
nền kinh tế. Những quốc gia thò thò trường mới nổi trong đó có Chilê(từ
1980), Thái Lan(từ 2000) đã áp dụng rất thành công cơ chế lạm phát mục
tiêu( Inflation Targeting).
1.5.1/ Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu
Về phía chính phủ
: Chính phủ các nước có lạm phát thường tìm
cách ngăn chặn các nguyên nhân dẫn đến gia tăng khối tiền, đồng thời
tăng thu cho ngân sách nhằm rút ngắn cách biệt giữa thu và chi(giảm bội
chi), dần dần tiến đến cân bằng thu chi ngân sách.
Về phía NHTƯ: NHTƯ các nước thông qua việc quản lý và sử
dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để tác động trực tiếp làm giảm
khối tiền trong lưu thông, tức là thực hiện một chính sách tiền tệ thắt chặt
vừa thu hút bớt tiền từ lưu thông vừa hạn chế cung ứng tiền ra lưu thông.
1.5.2/ Nhóm giải pháp tác động vào cung
Về giải pháp hạn chế sự gia tăng của chi phí: Giải pháp cơ bản là
tác động vào mối quan hệ giữa mức tăng tiền lương và mức tăng năng suất
lao động xã hội. Nếu thành công, giải pháp này sẽ hạn chế những đòi hỏi
tăng tiền lương bất hợp lý dẫn đến vòng luẩn quẩn lương – tiền – giá. Đi
kèm với cơ chế tiền lương, các nước tiến hành chính sách kiểm soát giá cả
nhằm hạn chế sự biến động của tiền lương thực tế, tránh rơi vào vòng xoáy
24
CHƯƠNG II
LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA
2.1/ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ 1976
ĐẾN 2006
Tình hình lạm phát ở Việt Nam từ 1976 đến 2006 có thể chia thành
3 giai đoạn như sau :
Bảng 2.1 : Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1976 – 1980 (năm trước bằng 100%)
Năm Thò trường xã hội Thò trường có tổ
chức
Thò trường tự
do
1976 121,9 99,1 150,3
1977 118,6 101,0 138,0
1978 120,9 104,3 139,0
1979 125,2 103,3 140,0
1980 169,6 109,8 143,8
Nguồn: Ban vật giá Chính phủ(nay nhập vào cục quản lý giá thuộc Bộ
tài chính) Bảng 2.2: Mức tăng GDP và TNQD thời kỳ 1977 – 1980 ( %)
Năm Mức tăng GDP Mức tăng TNQD
1977 4,4 2,8
1978 4,0 2,3
1979 - 1,7 - 2,0
1980 - 1,0 -1,4
Cộng 5,7 1,7
Nguồn : Tổng cục thống kê
Bước sang giai đoạn 1981 – 1988, chỉ số giá cả thường xuyên ở
mức 2 đến 3 con số, đánh dấu thời kỳ lạm phát phi mã; đỉnh cao là năm
1986, tốc độ tăng giá lên tới 587,2%. Nguyên nhân của lạm phát thời kỳ
này xuất phát từ những yếu kém nội tại của nền kinh tế, tình trạng lạm
phát tiền bù đắp thiếu hụt ngân sách, cơ chế quản lý kinh tế quan liêu, bao
cấp…