Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Lời mở đầu
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân số sống tại các vùng nông
thôn. Việc phát triển nông nghiệp là điều quan trọng góp phần xoá đói giảm
nghèo, thúc đẩy kinh tế phát triển toàn diện và bền vững, giảm chênh lệch giàu
nghèo giữa thành thị và nông thôn. Để phát triển nông thôn nhanh chóng và tối
ưu thì phát triển kinh tế hộ sản xuất là hướng đi đúng đắn. Trong thời gian qua,
thành tựu của kinh tế hộ đã chứng tỏ hướng đi đó là đúng và mang lại hiệu quả
nhanh chóng thiết thực.
Trong những thành công đó có sự đóng góp của ngành ngân hàng đặc biệt
là ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Kinh Môn là một chi
nhánh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, phục vụ
chủ yếu trên địa bàn huyện Kinh Môn. Ngân hàng phục vụ chủ yếu cho khách
hàng là các hộ nông dân, các tổ chức cá nhân kinh doanh các yếu tố của sản xuất
nông nghiệp. Ngân hàng đã đóng góp một phần vào sự phát triển kinh tế của
huyện nói chung và của các hộ sản xuất nói riêng. Ngân hàng là nhân tố để giúp
các hộ có nguồn vốn làm ăn, có được mức lãi suất ưu đãi để phát triển. Nhiều hộ
đã có thu nhập khá hơn sau khi sử dụng nguồn vốn của ngân hàng. Bên cạnh
những thành công đã đạt được, ngân hàng vẫn chưa phát huy tối đa tiềm năng để
phục vụ cho cuộc sống của nhân dân được tốt hơn. Vì vậy, em lựa chọn đề tài:
“Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Kinh Môn.”
Nội dung bài viết được chia làm 3 phần:
Phần 1: Hộ sản xuất trong nền kinh tế nước ta và vai trò tín dụng hộ sản
xuất đối với sự phát triển kinh tế hộ.
Phần 2: Thực trạng cho vay hộ sản xuất tại ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn huyện Kinh Môn.
Phần 3: Một số giải pháp kiến nghị mở rộng quy mô và nâng cao chất
lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Kinh
Môn.
hộ.
Nguyễn Thị Thảo 2 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
1.1.2. Đặc điểm kinh tế hộ sản xuất.
Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế cá thể mang tính tự cấp tự túc, và phát triển
hơn là sản xuất hàng hoá nhỏ.
Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế đặc biệt vừa sản xuất vừa tiêu thụ sản
phẩm. Quy mô sản xuất của hộ nhỏ, mang nặng tính sản xuất truyền thống: sản
xuất các sản phẩm cần thiết phục vụ cho nhu cầu các thành viên trong hộ là
chính. Khi các sản phẩm làm ra không được tiêu dùng hết trong gia đình họ mới
mang đi trao đổi. Sản phẩm làm ra không vì mục đích trao đổi. Chính vì vậy
khối lượng hàng hoá mang đi trao đổi chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng khối lượng
sản phẩm làm ra. Khi kinh tế hộ phát triển ở mức độ cao hơn, có sản xuất hàng
hoá nhỏ. Khi đó, do có trình độ phát triển cao hơn, khối lượng sản phẩm làm ra
nhiều hơn nhu cầu tiêu dùng của hộ, có sản phẩm dư thừa mang đi trao đổi. Sản
xuất hàng hoá nhỏ thể hiện ở quy mô sản xuất và khối lượng sản phẩm làm ra.
Qui mô hộ sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, khối lượng sản phẩm bán ra chỉ chiếm
khoảng từ 20 – 30% khối lượng sản phẩm nông sản trên thị trường.
Công cụ sản xuất dùng trong hộ chủ yếu là công cụ thủ công, công nghệ
khoa học kĩ thuật chưa được ứng dụng nhiều.
Các hộ nông dân chưa có điều kiện để tiếp cận khoa học công nghệ hiện
đại. Họ sản xuất theo phương thức cũ đã có từ hàng ngàn năm để lại, sử dụng
công cụ thủ công có từ lâu đời. Vì vậy năng suất lao động thấp, cần nhiều lao
động để sản xuất. Từ khi đổi mới, Đảng và nhà nước tạo điều kiện đưa tiến bộ
khoa học công nghệ về áp dụng trong nông thôn, thay đổi phương thức sản xuất
thủ công sang phương thức sản xuất hiên đại, sử dụng máy móc công nghiệp,
giảm số lượng lao động của ngành nông nghiệp để chuyển sang ngành khác.
Năng suất lao động cũng được nâng cao, mang lại hiệu quả kinh tế, tăng thu
nhập cho người nông dân.
Các hộ sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp là chủ yếu. Sản xuất trong hộ
lãng phí nguồn lực laođộng, lãng phí vốn. Để giải quyết vấn để đó thì việc kết
hợp nông nghiệp với các ngành nghề phụ là một biện pháp mang lại hiệu quả
cao nhất. Trong những ngày nông nhàn, người lao động có thể tham gia sản xuất
các ngành nghề phụ khác để tận dụng lao động, tạo công ăn việc làm và thu
Nguyễn Thị Thảo 4 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
nhập. Vì vậy ngoài sản xuất nông nghiệp hộ còn có thể sản xuất trong những
ngành khác.
Khả năng cạnh tranh trên thị trường kém.
Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, tự hach toán, kinh doanh ở quy mô nhỏ. Song
hầu hết các hộ không có kiến thức thị trường, không có sự bảo hộ, hàng hoá
không được đăng kí nhãn hiệu. Các hộ sản xuât với quy mô nhỏ nhưng lại không
liên kết với nhau, không tạo ra được chỗ đứng trên thị trường nên việc cạnh
tranh trên thị trường là rất khó khăn.
Nguồn vốn dùng trong sản xuất chủ yếu là nguồn vốn tự có hoặc vay mượn
người thân với qui mô nhỏ.
Chúng ta đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, thu nhập của nông dân còn
rất thấp. Do vậy nguồn vốn tự có của các hộ nhỏ, không đủ đáp ứng nhu cầu sản
xuất kinh doanh của hộ. Nhưng hiện nay vẫn còn rất ít hộ được tiếp xúc với
nguồn vốn của ngân hàng. Đây là nguồn vốn có chi phí rẻ, nhanh chóng và dễ
tiếp cận. Cần làm thay đổi quan điểm của người nông dân ngại tiếp xúc với ngân
hàng, ngại rườm rà, để người thiếu vốn có vốn để sản xuất.
Từ các đặc điểm trên cho thấy khả năng khai thác tiềm năng kinh tế hộ là
rất lớn. Góp phần phát triển không những cho hộ mà còn là động lực phát triển
kinh tế cho những ngành, vùng khác. Nhưng tự kinh tế hộ không thể tự mình
đứng lên mà cần có sự giúp đỡ của các cơ quan ban ngành đoàn thể, trong đó có
ngân hàng. Ngân hàng là người cung ứng vốn nhưng đồng thời cũng cần kết hợp
với các cơ quan chức năng khác để giúp người dân thay đổi cách nghĩ cách làm,
áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh để mỗi đồng
vốn bỏ ra cho hiệu quả cao.
thị trường để nâng cao sức cạnh tranh và tạo đầu ra cho sản phẩm sản xuất.
Đồng thời, các hộ thay đổi lối sản xuất cũ sang sản xuất theo các qui trình công
nghệ hiện đại, áp dụng máy móc, nuôi trồng cây con có năng suất cao phẩm chất
tốt. Qua đó thể hiện sự tiến bộ của người dân trong nhận thức, sớm thích nghi
với điều kiện mới.
Bốn là: Kinh tế hộ là thành phần chủ yếu ở nông thôn góp phần xây dựng
hệ thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn theo mô hình nhà nước và nhân dân cùng
làm.
Nguyễn Thị Thảo 6 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Trong các thành phần kinh tế ở nông thôn có kinh tế trang trại, kinh tế hộ,
kinh tế tâp thể và kinh tế nhà nước, song kinh tế hộ đóng vai trò chủ đạo. Kinh
tế hộ thu hút số lượng lao động lớn nhất ở nông thôn và sản xuât ra sản lượng
lương thực lớn nhất trong ngành nông nghiệp, nên nó là thành phần kinh tế chủ
yếu ở nông thôn. Nền kinh tế nứớc ta còn kém phát triển, ngân sách nhà nước
hạn hẹp, việc đầu tư cho hệ thống hạ tầng ở nông thôn trông chờ vào ngân sách
nhà nước rất khó khăn. Sự chung sức nhà nước và nhân dân góp phần đẩy nhanh
việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tẩng, vừa phục vụ cho nhu cầu của nhân dân tại
địa phương, vừa thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội. Giảm gánh nặng
cho ngân sách nhà nước. Để có thể thực hiện điều đó yêu cầu hộ nông dân phải
có tiềm năng kinh tế, để có thể cùng nhà nước đóng góp xây dựng các công
trình hạ tầng. Kinh tế hộ phát triển là điều kiện cần để hộ có khả năng tham gia
đóng góp xây dựng cho công trình đó.
Năm là: Kinh tế nông thôn phát triển góp phần khôi phục thuần phong mĩ
tục ở nông thôn.
Con người sinh ra cần được chăm sóc và dạy dỗ chu đáo để trở thành con
người có ích cho xã hội. Khi hộ có điều kiện về kinh tế, có điều kiện chăm sóc
quan tâm tới các thành viên trong gia đình. Bên cạnh đó, người nông dân có điều
kiện tiếp thu những cái mới, nâng cao dân trí, là điều kiện để xây dựng làng văn
hoá, khu dân cư văn hoá. Thuần phong mĩ tục ở nông thôn được duy trì có chọn
nghiệp vụ kinh doanh quan trọng nhất của ngân hàng truyền thống, song tín
dụng có nhiều cách hiểu khác nhau. Một số cách hiểu về tín dụng trong quan hệ
tài chính: tín dụng là một số tiền cho vay mà ngân hàng cung cấp cho khách
hàng. Xem xét tín dụng như một chức năng của ngân hàng thì tín dụng được
hiểu là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân
hàng giao tài sản cho khách hàng trong khoảng thời gian xác định, khách hàng
có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng cả gốc và lãi khi đến hạn thanh toán vô điều
kiện.
1.2.2 Phân loại tín dụng.
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng, Trong phạm vi bài viết này chỉ
đề cập phân loại theo thời gian, theo hình thức taì trợ
⇒ Phân loại theo thời gian
Nguyễn Thị Thảo 8 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời
gian liên quan mật thiết đến khả năng thanh khoản, lợi nhuân, từ đó ảnh hưởng
trực tiếp tới an toàn và sinh lời của ngân hàng cũng như khả năng hoàn trả của
khách hàng. Theo thời gian tín dụng được phân thành:
Tín dụng ngắn hạn: các khoản tín dụng có thời gian tài trợ từ 12 tháng trở
xuống. Các khoản tín dụng đó thường được dùng để tài trợ cho tài sản lưu động,
nhu cầu vốn ngắn hạn của khách hàng.
Tín dụng trung hạn: Tín dụng có thời gian tài trợ từ 1 năm đến 5 năm.
Khoản tín dụng này được dùng tài trợ chủ yếu cho tài sản cố định, cải tiến kĩ
thuật, công nghệ.
Tín dụng dài hạn: Tín dụng có thời gian tài trợ trên 5 năm. Khoản tín dụng
này được dùng tài trợ cho các công trình, máy móc có giá trị lớn thời gian khấu
hao dài.
Cách phân chia này chỉ có tính chất tương đối, vì nhiều khoản tín dụng
không xác định chính xác thời gian tài trợ.
⇒ Phân loại theo hình thức tài trợ
hàng đều làm thủ tục vay vốn trước mỗi lần vay.
Phương thức này áp dụng với khách hàng có nhu cầu vốn không thường
xuyên. Mỗi lần vay vốn, khách hàng gửi đơn xin vay vốn và trình bày phương
án sử dụng vốn tới ngân hàng. Ngân hàng thẩm định tính khả thi của phương án
và kí hợp đồng tín dụng. Trong hợp đồng tín dụng nêu rõ thời gian cho vay, khối
lượng cho vay, lãi suất, thời hạn trả nợ và yêu cầu bảo đảm(nếu cần). Ngân hàng
thu gốc và lãi vào từng thời hạn nợ. Trong quá trình sử dụng vốn, yêu cầu khách
hàng phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả, nếu thấy dấu hiệu vi
phạm,ngân hàng có thể thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn.
Ưu điểm: nghiệp vụ đơn giản, ngân hàng kiểm soát các món vay dễ dàng,
áp dụng được cho nhiều khách hàng.
Cho vay theo hạn mức: ngân hàng và khách hàng thoả thuận cho khách
hàng vay có dư nợ tối đa tại thời điểm tính.
Trong kì khách hàng được phép vay trả nhiều lần, nhưng số dư tối đa
không được vượt quá hạn mức.
Nguyễn Thị Thảo 10 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Phương thức này áp dụng với khách hàng vay ngắn hạn có nhu cầu vay vốn
thường xuyên, kinh doanh ổn định.
Ưu điểm:thuân tiện cho khách hàng không phải làm thủ tục nhiều lần, chủ
động trong quản lí ngân quỹ của khách hàng.
Nhược điểm: khách hàng và ngân hàng không thoả thuận trứơc thời gian
vay từng lần. Ngân hàng khó kiểm soát món vay, ngân hàng chỉ có thể phát hiện
khoản vay có vấn để khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ không
giảm trong thời gian dài.
Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên quá trình luân chuyển
hàng hoá của khách hàng.
Đầu kì, khách hàng làm đơn xin vay luân chuyển. Khách hàng và ngân
hàng thoả thuận về phương thức vay, hạn mức vay, lãi suất…Người vay cam kết
dùng khoản vay đó để trả cho người bán và các khoản thu từ việc bán hàng dùng
Ưu điểm: hạn chế được rủi ro cho ngân hàng nhờ vốn được sử dụng đúng
mục đích, khách hàng bị gíam sát bởi cả ngân hàng và tổ chức trung gian. Giảm
chi phí cho vay.
Nhược điểm: nhiều tổ chức trung gian lợi dụng tăng lãi suất cho vay lại
hoặc không phát tiền vay cho các thành viên. Người bán lẻ lợi dụng bán hàng
không đủ tiêu chuẩn hoặc với giá cao hơn bình thường cho khách hàng.
Cho thuê: là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản cho khách hàng thuê,
khách hàng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi dưới dạng tiền thuê hàng kì.
Có hai loại cho thuê là ngân hàng mua tài sản để cho thuê và ngân hàng
mua tài sản của người đi thuê để cho thuê lại.
Qui trình:
Ngân hàng mua tài sản để cho thuê:
Khách hàng có nhu cầu sử dụng tài sản làm đơn đề nghị gửi cho ngân hàng.
Ngân hàng kiểm tra thẩm định các điều kiện của dự án, của khách hàng để xem
xét cho vay. Khi khách hàng đủ điều kiện cho vay, ngân hàng và khách hàng kí
kết hợp đồng tín dụng. Ngân hàng sau khi kí kết hợp đồng sẽ tìm nhà cung cấp
để mua tài sản cho thuê. Khách hàng có thể yêu cầu nhà cung cấp về qui cách,
chất lượng tài sản, bảo hành. Sau đó ngân hàng giao tài sản cho khách hàng.
Nguyễn Thị Thảo 12 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Ngân hàng mua lại tài sản của người đi thuê để cho thuê lại.
Khách hàng có tài sản song không có vốn để mua nguyên nhiên vật liệu.
Khách hàng tìm đến ngân hàng để bán lại tài sản đó cho ngân hàng và sau đó
thuê của ngân hàng.
Bảo lãnh: Ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay khách hàng
của mình nếu khách hàng không thực hiện nghĩa vụ đó.
Các loại bảo lãnh ( phân theo mục tiêu)
Bảo lãnh tham gia dự thầu: là việc ngân hàng cam kết trả tiền phạt cho chủ
đầu tư thay bên dự thầu nếu bên dự thầu không thực hiện đúng các quy định
trong hợp đồng.
Vốn là một trong những yếu tố quan trọng của sản xuất. Bất cứ ngành sản
xuất nào, vốn cũng là yếu tố không thể thiếu được. Trong sản xuất nông nghiệp
cũng vậy. Hai mươi năm đổi mới vừa qua, chúng ta từ một nước nông nghiệp
nhưng sản xuất lương thực không đủ tiêu dùng mà phải nhập khẩu gạo thành
một nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới. Đó là do các yếu tố về trình độ
người lao động, áp dụng khoa học công nghệ vào cuộc sống và có cả yếu tố vốn.
Vốn là điều kiện để khoa học công nghệ đi vào cuộc sống, không có vốn không
thể đầu tư mua sắm thiết bị, mua cây con giống có năng suất cao, không đầu tư
cho các yếu tố đầu vào của sản xuất, không thể đổi mới phương thức làm việc.
Vốn ngân hàng giúp hộ nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi
thích hợp với nhu cầu của thi trường, có điều kiện cải tạo vườn, giúp cho chính
quyền và nhân dân các làng nghề khôi phục và phát triển các làng nghề truyền
thống, tạo ra các ngành nghề mới thu hút lao động dư thừa ở nông thôn.
Vốn ngân hàng được kết hợp với các nguồn vốn của địa phương và đóng
góp của nhân dân để xây dựng các công trình xã hội như điên, đường xá, công
trình thuỷ lợi…là cơ sở vật chất cần thiết để nền kinh tế nông thôn có thể phát
triển.
Hai là: tín dụng ngân hàng làm giảm tình trạng cho vay nặng lãi ở nông
thôn,
Ở nông thôn, tình trạng vay nặng lãi đã diễn ra từ lâu đời. Nguyên nhân là
do người nông dân không có vốn. Họ phải chấp nhận đi vay với lãi suất rất cao.
Trong nhiều trường hợp thu nhập làm ra không đủ trả tiền lãi cho chủ nợ, lãi mẹ
Nguyễn Thị Thảo 14 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
đẻ lãi con làm cho người nông dân trở thành con nợ, lâm vào cảnh nghèo nàn
không thể vươn lên. Hoặc do cần vốn hộ nông dân phải bán những sản phẩm
chưa đến mùa vụ thu hoạch, cho giá trị thấp, chịu thiệt thòi.
Tín dụng ngân hàng ra đời là chỗ dựa cho người nông dân khi thiều vốn.
Họ không cần phải đến những chỗ cho vay nặng lãi khi cần vốn, mà được ngân
hàng cho vay với mức lãi suất ưu đãi để thu nhập họ làm ra đủ bù đắp cho
đều, không mất cân đối trong nền kinh tế.
Trong các ngành sản xuất của nông nghiệp, có những ngành nghề có tiềm
năng phát triển, có tỉ suất sinh lời lớn hơn mức trung bình của ngành, có thể thúc
đẩy nền kinh tế nông nghiệp và cả những ngành kinh tế khác cũng phát triển
theo, đó là những ngành kinh tế mũi nhọn. Ngân hàng là yếu tố giúp những
ngành kinh tế mũi nhọn có thể áp dụng kĩ thuật tiến bộ, điều kiện sản xuất hiện
đại, thị trường tiêu thụ ổn định …là điều kiện để ngành phát triển vượt trội. Tạo
thu nhập cao cho người sản xuất, cho tạo điều kiện cho các ngành có liên quan
phát triển theo.
Năm là: tín dụng ngân hàng giúp cho nền kinh tế phát triển nhưng cũng
đồng thời mang lại hiệu quả xã hội khác như có thêm việc làm cho lao động, hạn
chế phong tục tập quán lạc hậu của các vùng…
Tín dụng ngân hàng đã mở ra hướng đi cho nhiều vùng quê, tạo thêm nhiều
nghề mới, thu hút thêm lao động. Đồng thời, nhận thức của người nông dân
được tăng lên, nhận thức đúng về các quan niệm, phong tục, có tư tưởng tíên bộ,
nên hạn chế được các tập quán xấu, tư tưởng lạc hậu ăn sâu vào tiềm thức của
mọi người.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tín dụng hộ sản xuất
1.4.1. Nhân tố thuộc về môi trường pháp lí.
Môi trường pháp lí là chuẩn mực để mọi ngưòi tuân theo. Một môi trường
pháp lí thuận lợi có tác động tích cực tới sự phát triển của kinh tế xã hội, ngược
lại, một môi trường pháp lí không ổn định, không đồng bộ là lực cản lớn cho xã
hội. Môi trường pháp lí mang lại sự ổn định về kinh tế chính trị xã hội, mang lại
công bằng cho tất cả các tổ chức cá nhân, tạo niềm tin vào chính quyền điều
hành. Ngân hàng khi hoạt đồng đều phải tuân thủ theo pháp luật của nhà nước.
Hoạt động mở rộng tín dụng cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường pháp
Nguyễn Thị Thảo 16 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
lí, mặc dù các quy định này nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng như
hạn chế cho vay các ngành nghề, hạn chế số tiền vay của một khách hàng…
nhập và khó bù đắp chi phi huy động.
Vậy ngân hàng là người trung gian, phải dung hoà lợi ích của ngưòi gửi
tiền và ngưòi vay, và phải thu được lợi nhuận.
Bên cạnh đó, ngân hàng luôn phải đối đầu với rủi ro lãi suât do lãi suất trên
thị trường biến động. Để đề phòng rủi ro lãi suất, ngân hàng phải chủ động đề
phòng, tính toán hợp lí.Trong xu hướng hiện nay, lãi suất có xu hướng tăng. Lãi
suất cho vay đặc biệt là lãi suất cho vay dài hạn phải tính toán kĩ.
Kinh tế hộ sản xuất thường không có tỉ lệ sinh lời cao như các thành phần
kinh tế khác. Khi cho vay kinh tế hộ thì phải tính đến yếu tố đó. Ngược lại,
nguồn vốn huy động để cho vay kinh tế hộ thường là lãi suất cao. Ngân hàng
phải tìm ra mức lãi hợp lí. Nếu mức lãi suất cao hạn chế qui mô tín dụng.
Vậy lãi suất ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô tín dụng
Chính sách phát triển của ngân hàng.
Mỗi ngân hàng đều có những định hướng phát triển, xác định khách hàng
mục tiêu cho riêng mình. Nếu định hướng của ngân hàng không tập trung vào
thị trường nông thôn, khách hàng mục tiêu không phải là hộ nông dân thì việc
tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng đó là rất khó khăn. Trong các ngân hàng
thương mại hiện nay chỉ có ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam có chiến lược tập trung vào thị trưòng nông thôn, ưu tiên cho khách hàng
là hộ nông dân.
Chiến lược của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn về lâu dài
vẫn là phục vụ cho sự phát triển của nông thôn, nông nghiệp. Nhưng trong từng
giai đoạn cụ thể mà chiến lược chú trọng vào từng lĩnh vực cụ thể, phù hợp với
tình hình. Các chiến lược đó có thể thay đổi theo từng thời kì. Các chiến lược
của nngân hàng ảnh hưởng tới cho vay hộ sản xuất:
Chiến lược đa dạng hoá khách hàng. Ngành nông nghiệp là ngành dễ gặp
rủi ro. Nếu tập trung vào một nhóm khách hàng, khi họ gặp rủi ro thì ngân hàng
Nguyễn Thị Thảo 18 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
khó có khả năng thu hồi nợ. Ngân hàng là người chịu thiệt hại nặng nề nhất, và
hàng cũng ảnh hưởng khách hàng và ảnh hưỏng tới quýêt định giao dịch tiếp với
ngân hàng.
Cơ sở vật chất kĩ thuật.
Ngân hàng có mạng lưới rộng lớn sẽ thuận tiện cho khách hàng giao dịch
với ngân hàng, giảm chi phí và thời gian đi lại, thu hút nhiều khách hàng hơn.
Nhưng bên canh việc mở chi nhánh thu hút thêm khách hàng, ngân hàng phải
tính tới chi phí của việc mở chi nhánh như thuê địa điểm, trả lưong cho cán bộ…
Với thu nhập đó có đủ bù đắp cho chi phí không.
Chính sách marketing
Hiện nay, các hộ nông dân vẫn chưa thực sự biết nhiều về ngân hàng. Họ
ngại giao dịch với ngân hàng, ngại làm thủ tục rườm rà. Ngân hàng cần có chính
sách marketing để khách hàng hiểu thêm về ngân hàng, giúp họ biết về các loại
hình cho vay, thủ tục, điều kiện vay vốn, để họ có thể tiếp cận với nguồn vốn
của ngân hàng.
1.4.4. Nhân tố từ các hộ gia đình.
Hộ gia đình là một bên của giao dịch, nên hộ có ảnh hưởng tới việc giao
dịch giữa hộ và ngân hàng.
Nhu cầu về vốn.
Khách hàng chỉ đi vay khi họ cần vốn. Nếu họ không có nhu cầu về vốn thì
ngân hàng không thể cho vay. Đây là yếu tố quyết định việc mở rộng tín dụng
của ngân hàng. Nhưng nhu cầu về vốn của khách hàng chỉ được đáp ứng nếu
ngân hàng có đủ tiềm năng. Mặt khác phương án sử dụng vốn của ngân hàng
phải mang lại hiệu qủa, và nằm trong sự cho phép của pháp luật.
Đối tượng sản xuất.
Đối tượng sản xuất của các hộ chủ yếu là cây, con… Thông thường, ngân
hàng cho khách hàng vay phục vụ sản xuất. Trong một số trường hợp do thiên
tai, dịch bệnh mà ngân hàng sẽ hạn chế cho vay đối với một số đối tượng cụ thể.
Ví dụ hiện nay, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đang hạn chế
cho vay nếu đối tượng sản xuất là gia cầm.
Tính tự giác của hộ.
vững và phát triển trong nền kinh tế. Cũng giống như các tổ chức khác, cần phải
Nguyễn Thị Thảo 21 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
đảm bảo chất lượng, trong đó chất lượng tín dụng đóng vai trò lớn, quyết định
trực tiếp tới khả năng sinh lời và an toàn của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng (ngưởi
gửi tiền và người vay tiền), phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng thể hiện ở một số khía cạnh
Với khách hàng, tín dụng phải phù hợp với mục đích sử dụng, kì hạn hợp lí
và lãi suất vừa phải, thủ tục đơn giản nhanh chóng song vẫn phải tuân theo
nguyên tắc tín dụng.
Với sự phát triển của kinh tế xã hội: tín dụng ngân hàng phục vụ cho sự
phát triển của nông nghiệp, lưu thông hàng hoá, tạo công ăn việc làm, thúc đẩy
quá trình tích tụ tư bản.
Với ngân hàng thương mại: thời hạn tín dụng, qui mô, lãi suất phải phù
hợp với bản thân ngân hàng. Khoản vay hoàn trả đúng hạn và có lãi, hạn chế rủi
ro.
1.5.2. Những chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng.
Những chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng là thước đo được cụ thể hoá
để dễ xác định chất lượng tín dụng. Các chỉ tiêu đánh giá gồm có chỉ tiêu định
tính và chỉ tiêu định lượng.Song các chỉ tiêu định tính còn rất khó xác định do
nó chỉ mang tính tương đối.Vì vậy các chỉ tiêu định lượng xác định chất lượng
tín dụng được dùng phổ biến.
1.5.2.1. Chỉ tiêu tương đối
Chỉ tiêu tương đối phụ thuộc vào người đánh giá. Chỉ tiêu định tính thể
hiện chất lượng tín dụng thông qua số hộ vay vốn của ngân hàng trên tổng số hộ
trên địa bàn. Qua đó thấy được tầm ảnh hưởng của ngân hàng tới đời sống của
nhân dân, thấy được sự quan tâm của các hộ tới ngân hàng. Nếu số hộ đến vay
vốn càng đông chứng tỏ ngân hàng có ảnh hưởng càng lớn tới đởi sống của hộ,
Hiện nay chỉ tiêu nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại Việt Nam
thường cao hơn 5%. Trong quyết định127 của ngân hàng nhà nước đã đề ra cách
tính nợ quá hạn mới, nhằm tiếp cận với cách tính theo tiêu chuẩn quốc tế và hiện
đại hoá ngân hàng theo chuẩn quốc tế.
Tỉ lệ nợ quá hạn hộ SX
trong dư nợ qúa hạn
=
Dư nợ quá hạn hộ sản xuất
x 100%
Tổng dư nợ quá hạn
Chỉ tiêu này phản ánh tỉ lệ nợ qúa hạn cho vay hộ sản xuất trong tổng dư
nợ quá hạn của ngân hàng. Nếu tỉ lệ này cao chứng tỏ dư nợ quá hạn của ngân
hàng có phần đóng góp lớn của dư nợ hộ sản xuất. Nếu tỉ lệ này thấp chứng tỏ
dư nợ hộ sản xuất không ảnh hưởng nhiều tới chất lượng tín dụng của ngân
Nguyễn Thị Thảo 23 Lớp Ngân Hàng 44 B
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
hàng. Để nâng cao chất lượng tín dụng cần phải nâng cao chất lượng tín dụng hộ
sản xuất.
Tỉ lệ hộ có quan hệ vay vốn với ngân hàng.
Tỉ lệ hộ có
quan hệ
=
Số hộ có quan hệ tín dụng với ngân hàng
x 100%
Tổng số hộ trên địa bàn.
Tỉ lệ này phản ánh tỉ lệ số hộ đã tiếp cận được với nguồn vốn của ngân
hàng. Đồng thời phản ánh số hộ vẫn chưa được tiếp cận với nguồn vốn của ngân
hàng. Từ đó thây được sự quan tâm của các hộ tới ngân hàng và ảnh hưởng của
ngân hàng tới đời sống của dân cư trong khu vực. Nếu có nhiều hộ vay vốn của
ngân hàng chứng tỏ ngân hàng có ảnh hưởng đến đông số nhân dân, nếu số hộ
xuất. Không có đầu ra cho sản phẩm, người sản xuất không thể thu hồi lại vốn
và lãi. Khi không thể sản xuất, khách hàng không đến với ngân hàng do họ
không có nhu cầu vốn. Nhưng nếu sản phẩm làm ra không tiêu thụ được thì họ
không có khả năng trả nợ cho ngân hàng.
Môi trường luật pháp.
Ngân hàng nhà nước thường đưa ra những chỉ tiêu để đánh giá chất lượng
tín dụng của các ngân hàng. Trong từng thời kì và từng giai đoạn mà những chỉ
tiêu này khác nhau. Với những chỉ tiêu khác nhau, chất lượng tín dụng của các
ngân hàng được đánh giá khác đi.
1.5.3.2. Nhân tố chủ quan.
Nhân tố thuộc về ngân hàng.
Chất lượng thẩm định và công tác kiểm tra giám sát các khoản vay.
Thẩm định để thấy được tính khả thi của dự án, thấy được tư cách đạo đức,
trình độ và khả năng quản lí của khách hàng. Nếu thẩm định kĩ, loại bỏ được
những dự án không mang lại hiệu quả kinh tế, hạn chế rủi ro đạo đức và lựa
chọn đối nghịch của khách hàng, đồng thời hạn chế nguy cơ thua lỗ của dự án.
Kiểm tra sau giải ngân giúp ngân hàng kiểm soát mục đích sử dụng vốn
vay của khách hàng. Có biện pháp xử lý khi khách hàng làm ăn thua lỗ hay sử
dụng không đúng mục đích thoả thuận với ngân hàng, hạn chể tổn thất.
Trình độ cán bộ ngân hàng.
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp thẩm định và theo dõi các khoản vay.
Nếu cán bộ tín dụng có trình độ và kinh nghiệm đánh giá khách hàng chính xác.
Nếu đánh giá không chính xác dẫn tới mất khách hàng tốt và cho khách hàng
xấu vay.
Nhân tố thuộc về khách hàng.
Nguyễn Thị Thảo 25 Lớp Ngân Hàng 44 B