một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong cơ quan bảo hiểm xã hội thành phố hồ chí minh - Pdf 10


32
MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Từ khi ra đời cho đến nay, chế độ bảo hiểm Xã hội (BHXH) luôn phát huy
được tác dụng tích cực của mình, từng bước khẳng đònh đây là biện pháp hỗ trợ
cho người lao động một cách ổn đònh nhất, chắc chắn nhất khi họ bò mất hoặc
giảm thu nhập.
Chế độ BHXH phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội
của đất nước. Chính sách BHXH hiện nay được mở rộng đến mọi người lao động
thuộc các thành phần kinh tế. Vì thế, số người lao động tham gia BHXH ngày
càng tăng.
Trong số các đơn vò BHXH ở Việt Nam, BHXH Thành phố Hồ Chí Minh
(TP HCM) là đơn vò BHXH có mức đóng góp vào Quỹ BHXH Việt Nam cao
nhất. Với đòa bàn quản lý rộng, số lượng các doanh nghiệp nhiều, đa dạng và
ngày càng phát triển đang là một vấn đề khó khăn đặt ra cho Cơ quan trong quá
trình quản lý hoạt động BHXH.
Tất cả các lý do trên đòi hỏi Cơ quan BHXH TP HCM phải có một hệ
thống kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu. Việc dựa trên các lý thuyết hiện đại
về KSNB để hoàn thiện hệ thống KSNB tại Cơ quan BHXH TP HCM là yêu cầu
tất yếu.
Thách thức của đề tài là nghiên cứu việc ứng dụng KSNB trong một đơn
vò hành chính sự nghiệp hoạt động trong hệ thống các chính sách pháp lý của
Việt Nam. Các kết quả của đề tài được mong đợi sẽ đóng góp một phần vào
việc hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho hoàn thiện KSNB trong các khu
vực công ở Việt Nam.

33

rút ra các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro hoạt động BHXH và các bài học kinh
nghiệm từ các quốc gia khác.
Tóm lại, toàn bộ đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp quy nạp, dựa trên
khảo sát để rút ra nguyên tắc chung và kết hợp một số kỹ thuật thống kê, phân
tích đònh lượng để làm cơ sở cho các kết luận.
5. Nội dung đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI
BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT
NỘI BỘ TRONG CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH.
35
CHƯƠNG 1
36
Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA)
(1)
đã thành lập một Ủy ban
tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm dưa ra các hướng dẫn về việc thiết lập
và đánh giá hệ thống KSNB.
Giai đoạn từ năm 1980 đến 1985, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa
Kỳ đã tiến hành sàng lọc, ban hành và sửa đổi các chuẩn mực về sự đánh giá
của kiểm toán viên độc lập về KSNB và báo cáo về KSNB. Hiệp hội kế toán
nội bộ (IIA)
(2)
cũng ban hành chuẩn mực và hướng dẫn kiểm toán viên nội bộ về
bản chất của kiểm soát và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy
trì và đánh giá hệ thống KSNB.
Từ năm 1985 về sau, sự quan tâm tập trung vào KSNB càng mạnh mẽ hơn.
Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (Treadway Commision)
được thành lập năm 1985. Hoạt động này cũng đã đưa ra một loạt các vấn đề về
KSNB, nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường kiểm soát, các quy tắc về đạo
đức, các Ủy ban Kiểm toán và chức năng của kiểm toán nội bộ. Vì thế Ủy ban tổ
chức đồng bảo trợ (COSO)
(3)
của Hôïi đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo
tài chính đã được thành lập nhằm nghiên cứu KSNB:
- Thống nhất đònh nghóa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối
tượng khác nhau.
- Cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vò có thể đánh
giá hệ thống KSNB để tìm giải pháp hoàn thiện.
Báo cáo COSO năm 1992 đã tạo lập một nền tảng lý luận cơ bản về KSNB.

KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp. GAO đưa ra năm yếu tố về
KSNB bao gồm các quy đònh về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt
động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
Về kiểm toán Nhà nước, hệ thống chuẩn mực kiểm toán Nhà nước do Tổ
chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI)
(2)
ban hành. Tổ chức
này bao gồm 178 thành viên. Hệ thống chuẩn mực kiểm toán do INTOSAI ban
hành bao gồm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán.
Năm 1992, bản Hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình
thành một tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho
việc thực hiện và đánh giá KSNB.

(1)
United States General Accounting Office – Viết tắt GAO
(2)
International Organization of Supreme Audit Institutions – Viết tắt INTOSAI
38
Năm 2001, bản Hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các
chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối tượng và phù hợp với sự phát
triển gần đây trong KSNB. Điều cần lưu ý là tài liệu này đã tích hợp các lý luận
chung về KSNB của Báo cáo COSO.
Bên cạnh việc cải thiện đònh nghóa KSNB và xây dựng một sự hiểu biết
thông thường về KSNB, tài liệu của INTOSAI trình bày những vấn đề đặc thù
về khu vực công.
1.1.2.1. Đònh nghóa về kiểm soát nội bộ của INTOSAI
Hướng dẫn chuẩn mực của KSNB của INTOSAI 1992 đưa ra đònh nghóa về

chặn và phát hiện sự gian trá và tham nhũng trong khu vực công.
Ngân sách của Nhà nước được phân bố rộng rãi, chính vì vậy cần có các
kiểm soát nhằm đảm bảo ngân sách được sử dụng đúng mục đích, các tài sản
không bò thất thoát hay lãng phí. Vì vậy, việc bảo vệ nguồn lực cần được nhấn
mạnh thêm tầm quan trọng trong KSNB đối với khu vực công.
Trong tài liệu này còn nhấn mạnh đến những thông tin phi tài chính. Bởi
vì sự sử dụng rộng rãi của hệ thống thông tin ngày càng tăng trong các tổ chức
Nhà nước, kiểm soát công nghệ thông tin ngày càng trở nên quan trọng hơn.
Mục tiêu của tài liệu này là thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu
vực công. Vì vậy, các nhà lãnh đạo của Chính phủ rất quan tâm đến tài liệu này.
Các nhà lãnh đạo các tổ chức của Nhà nước xem tài liệu này là một nền tảng để
thực hiện và giám sát KSNB trong tổ chức.
INTOSAI đưa ra hai nhóm chuẩn mực về KSNB: Chuẩn mực chung và
chuẩn mực cụ thể. Chuẩn mực chung bao gồm các quy đònh về bảo đảm hợp lý,
40
tinh thần tuân thủ, năng lực và phẩm chất, mục tiêu kiểm soát và giám sát.
Chuẩn mực cụ thể đi vào các quy đònh về tổ chức hồ sơ, tài liệu; ghi chép kòp
thời và đúng đắn các nghiệp vụ, phân chia trách nhiệm, tiếp cận và báo cáo về
nguồn lực và sổ sách.
1.1.2.2. Các yếu tố của hệ thống KSNB theo tổ chức INTOSAI
Tương tự như Báo cáo COSO, INTOSAI đưa ra năm yếu tố của KSNB bao
gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin
và truyền thông và giám sát. Tuy nhiên, có những khác biệt nhất đònh vềø chi
tiết.
 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát đã tạo nên một sắc thái chung cho một tổ chức, ảnh
hưởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên. Môi trường kiểm soát là nền

KSNB, phương pháp giải quyết những tình huống khó xử trong công việc.
• Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo
Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo thể hiện qua cá tính, tư cách và
thái độ của nhà lãnh đạo khi điều hành. Nếu nhà lãnh đạo cấp cao cho rằng
KSNB là quan trọng thì những thành viên khác trong tổ chức cũng sẽ cảm nhận
được điều đó và sẽ theo đó mà tận tâm xây dựng hệ thống KSNB. Tinh thần này
biểu hiện ra thành những quy đònh đạo đức ứng xử trong cơ quan. Thí dụ như
việc xây dựng kiểm toán nội bộ trong KSNB thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo
đến KSNB.
42
Ngược lại, nếu các thành viên trong tổ chức cho rằng KSNB không quan
trọng có nghóa là lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến KSNB. Kết quả là
KSNB chỉ còn là hình thức chứ không có ý nghóa thực sự, dẫn đến mục tiêu,
nhiệm vụ của đơn vò không còn đạt được như mong muốn.
• Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức bao gồm:
- Sự phân chia quyền và trách nhiệm báo cáo.
- Hệ thống báo cáo phù hợp.
Trong cơ cấu tổ chức cũng bao gồm bộ phận kiểm toán nội bộ, được tổ chức
độc lập với các đối tượng kiểm toán và báo cáo trực tiếp đến lãnh đạo cao nhất
trong cơ quan.
• Chính sách nhân sự
Chính sách nhân sự bao gồm sự tuyển dụng, huấn luyện, giáo dục, đánh
giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật, kềm cặp nhân viên.
Mỗi cá nhân đóng vai trò quan trọng trong KSNB. Khả năng, sự tin cậy của
nhân viên rất cần thiết để kiểm soát được hữu hiệu. Vì vậy, cách thức tuyển
dụng, huấn luyện, giáo dục, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật là một

Để kiểm soát được rủi ro, vấn đề quan trọng không chỉ là nhận ra các rủi ro
tồn tại, mà còn là đánh giá tầm quan trọng, tác hại mà rủi ro gây ra và khả năng
xảy ra rủi ro.
Có nhiều phương pháp đánh giá rủi ro tùy theo mỗi loại rủi ro, tuy nhiên,
phải đánh giá rủi ro một cách có hệ thống. Thí dụ, phải xây dựng các tiêu chí
44
đánh giá rủi ro, sau đó sắp xếp thứ tự các rủi ro, dựa vào đó nhà lãnh đạo sẽ
phân bổ nguồn lực đối phó rủi ro.
• Phát triển các biện pháp đối phó
Có bốn biện pháp đối phó với rủi ro: phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro,
tránh né rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro. Trong phần lớn các trường hợp các rủi ro
phải được xử lý hạn chế và đơn vò duy trì KSNB để có biện pháp thích hợp, bởi
vì doanh nghiệp Nhà nước phải làm theo nhiệm vụ được giao. Các biện pháp xử
lý hạn chế rủi ro ở mức độ hợp lý vì mối liên hệ giữa lợi ích và chi phí nhưng
nếu nhận dạng được và đánh giá được rủi ro thì có sự chuẩn bò tốt hơn.
Khi môi trường thay đổi như các điều kiện về kinh tế, chế độ của Nhà nước,
công nghệ, luật pháp sẽ làm rủi ro thay đổi thì việc đánh giá rủi ro cũng nên
thường xuyên xem xét lại, điều chỉnh theo từng thời kỳ.
 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và những thủ tục đối phó rủi ro
và đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vò.
Để đạt được hiệu quả, hoạt động kiểm soát phải phù hợp, nhất quán giữa
các thời kỳ, có hiệu quả, dễ hiểu được, đáng tin cậy và liên hệ trực tiếp đến mục
tiêu kiểm soát.
Hoạt động kiểm soát có mặt xuyên suốt trong tổ chức, ở các mức độ và các
chức năng. Hoạt động kiểm soát bao gồm các loại hoạt động kiểm soát phòng
ngừa và phát hiện rủi ro. 46
• Kiểm soát việc tiếp cận tài sản và sổ sách
Việc tiếp cận tài sản và sổ sách phải được giới hạn trong những cá nhân mà
họ được giao trách nhiệm bảo quản hoặc sử dụng tài sản. Trách nhiệm của người
bảo quản tài sản thể hiện qua chứng từ, hàng tồn kho, ghi chép sổ sách. Hạn chế
việc tiếp cận tài sản làm giảm rủi ro lạm dụng hoặc làm thất thoát tài sản của
Nhà nùc. Mức độ giới hạn tùy thuộc vào rủi ro thất thoát tài sản. Mức độ giới
hạn phải được xem xét đònh kỳ.
• Kiểm tra
Các nghiệp vụ và sự kiện phải được kiểm tra trước và sau khi xử lý. Thí dụ,
khi hàng hóa bán ra được kiểm tra phù hợp với số lượng đặt hàng hay không. Số
lượng trên hoá đơn sẽ được kiểm tra, đối chiếu với hàng hoá nhận về, số lượng
trong kho đối chiếu với thẻ kho.
• Đối chiếu
Sổ sách được đối chiếu với các chứng từ thích hợp một cách đònh kỳ. Thí
dụ, sổ sách ghi chép tiền gửi ngân hàng đối chiếu với sổ phụ ngân hàng.
• Rà soát việc thực hiện các hoạt động
Việc thực hiện các hoạt động được rà soát dựa trên một loạt các chuẩn mực
nguyên tắc cơ bản, đánh giá hiệu quả và tính hữu hiệu. Nếu sự rà soát cho thấy
rằng các hoạt động thực hiện không phù hợp với mục tiêu của tổ chức hoặc các
tiêu chuẩn, thì quy trình thực hiện để đạt các mục tiêu cần phải rà soát lại để
đưa ra cải tiến cần thiết.
• Rà soát sự điều hành, xử lý và hoạt động
Việc điều hành, xử lý và hoạt động nên được rà soát đònh kỳ để đảm bảo
chúng tuân thủ nguyên tắc, chính sách, thủ tục và những đòi hỏi hiện hành khác.


lượng của những thông tin như tính thích hợp, tính kòp thời, cập nhật, chính xác
và có thể sử dụng được.
Một hệ thống thông tin thích hợp phải tạo ra các báo cáo về hoạt động, tài
chính, những vấn đề tuân thủ hỗ trợ cho việc điều hành và kiểm soát những hoạt
động. Nó không chỉ bao gồm những dữ liệu bên trong mà còn xem xét các thông
tin bên ngoài, những điều kiện và hoạt động cần thiết ra quyết đònh và báo cáo.
• Truyền thông
Truyền thông hữu hiệu là việc cung cấp thông tin từ cấp trên xuống cấp
dưới hoặc từ cấp dưới lên cấp trên hoặc ngang hàng giữa các bộ phận, thông tin
xuyên suốt toàn bộ tổ chức.
Các cá nhân nhận được thông báo rõ ràng từ nhà lãnh đạo cấp cao về trách
nhiệm của bản thân họ trong KSNB. Họ phải hiểu được vai trò của bản thân đối
với hệ thống KSNB, đối với các thành viên khác trong tổ chức. Ngoài ra, cũng
cần có sự truyền thông hiệu quả từ bên ngoài tổ chức.
 Giám sát
Hệ thống KSNB cần được giám sát để đánh giá chất lượng hoạt động của
hệ thống qua thời gian. Việc giám sát được thực hiện thường xuyên, đònh kỳ
hoặc kết hợp cả hai.
• Giám sát thường xuyên
Giám sát thường xuyên KSNB được thiết lập cho những hoạt động thông
thường và lặp lại của tổ chức. Bao gồm cả những hoạt động giám sát và quản lý
mang tính chất đònh kỳ ngay trong quá trình thực hiện của các nhân viên trong
công việc hàng ngày. Giám sát thường xuyên được thực hiện trên tất cả các yếu
49
tố của KSNB và liên quan đến việc ngăn chặn và phát hiện tất cả những hiện
tượng vi phạm luật lệ, không tiết kiệm, không hiệu quả, hữu hiệu của hệ thống.
• Giám sát đònh kỳ

kiện bảo hiểm làm giảm hoặc mất khả năng lao động nhằm đảm bảo đời sống
cho người lao động và gia đình họ.
BHXH mang tính cộng đồng và nhân đạo và nhân văn sâu sắc – BHXH
phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và thể hiện mối quan hệ ba bên: bên tham
gia BHXH, bêân BHXH và bên được BHXH. Trách nhiệm về quyền lợi các bên
được luật pháp quy đònh rõ ràng.
Bảo hiểm y tế (BHYT) được tách ra từ chế độ “chi phí y tế” trong hệ thống
các chế độ BHXH. Do đó, nó mang đầy đủ của tính chất của BHXH. BHYT đáp
ứng nhu cầu khám và chữa bệnh của mọi thành viên trong xã hội nên nó không
chỉ dừng lại ở lực lượng lao động mà mở rộng đến mọi đối tượng có nhu cầu dưới
hình thức tự nguyẹân.
BHXH xuất hiện khá sớm và phát triển theo quá trình phát triển của xã hội.
Năm 1883, ở nước Phổ (Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay) đã ban hành luật
bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới, đánh dấu sự ra đời của BHXH. Một số
nước châu Âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH.
BHXH lần lượt xuất hiện ở các nước dưới mức độ khác nhau nhưng cũng chung
mục đích là đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ.
BHXH đã trở thành một trong những quyền của con người và được xã hội
thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc (10/08/1945) đã ghi:
“Tất cả mọi người lao động với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng
bảo hiểm xã hội…”. Ngày 4 tháng 6 năm 1952, Tổ chức lao động quốc tế đã ký
công ước Giơ – ne – vơ (Công ước số 102) về “Bảo hiểm xã hội cho người lao
động” và khuyến nghò các nước thực hiện BHXH cho người lao động theo khả
năng và điều kiện kinh tế của mỗi nước. Từ đó, các nước vận dụng khuyến nghò
của Tổ chức lao động quốc tế, đã có chính sách, biện pháp phù hợp với từng
điều kiện cụ thể, tạo môi trường cho BHXH phát triển không ngừng.
51

theo nguyên tắc có tham gia mới được hưởng quyền lợi BHXH.
Quỹ BHXH hoạt động không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời, thu và
chi là những hoạt động tài chính chủ yếu của quỹ BHXH. Quỹ BHXH là một quỹ
tiền tệ nhằm mục đích tiêu dùng để đảm bảo ổn đònh cuộc sống cho người lao
động tham gia khi gặp rủi ro. Mức tiêu dùng của quỹ BHXH phụ thuộc vào khả
năng nguồn thu tạo lập quỹ BHXH và chi quỹ BHXH không được vượt quá số
thu của quỹ BHXH, để thực hiện nguyên tắc cân đối thu, chi quỹ BHXH. Vì thế
trong quá trình quản lý quỹ BHXH phải luôn xem xét tính cân đối của quỹ, đặc
biệt là các chế độ dài hạn, không chỉ có biện pháp bảo toàn và phát triển số vốn
tạm thời nhàn rỗi, mà còn phải dự báo, dự phòng được các biến cố thay đổi trong
tương lai làm mất cân đối thu, chi quỹ BHXH.
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các
nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động đóng góp.
- Người lao động đóng góp.
- Nhà nước đóng góp và hỗ trợ thêm.
- Các nguồn khác (cá nhân, tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phần quỹ
nhàn rỗi).
Tuy nhiên phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH có khác nhau. Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy đònh người sử
dụng lao động phải chòu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ
trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người
sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước
khác lại quy đònh Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chòu toàn bộ chi phí
quản lý BHXH…
53
1.2.5. Mục tiêu kiểm soát nội bộ của hoạt động BHXH

Capital Management) do GAO (U.S. General Accounting Office) ban hành.
- GAO cũng cho ra đời Chế độ tính bảo hiểm cho Quỹ an ninh Xã hội.
1.2.6. Những yếu tố cơ bản của hệ thống KSNB trong hoạt động BHXH.
1.2.6.1. Môi trường kiểm soát
Chúng ta nhận thấy rằng, môi trường kiểm soát là nền tảng của KSNB
trong hoạt động BHXH. Các yêu cầu về môi trường kiểm soát trong hoạt động
BHXH về cơ bản khá tương đồng với hoạt động của doanh nghiệp mặc dù có
một số điểm khác biệt.
 Sự liêm chính và các giá trò đạo đức
Mục tiêu phục vụ của hoạt động BHXH khác với các hoạt động của các
doanh nghiệp thông thường. Mục đích cuối dùng của hoạt động BHXH là đem
lại lợi ích cho người lao động khi tham gia BHXH. Hoạt động BHXH hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận, mà mong muốn đem lại cho người lao động những
chế độ khi gặp những trường hợp không thể hoặc ngưng tạo ra thu nhập. Người
làm công tác BHXH phải xác đònh được mục tiêu phục vụ chính của mình, đối
tượng phục vụ chủ yếu của mình làm nền tảng cho chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp trong giải quyết công việc. Tránh những trường hợp mâu thuẫn về quyền
lợi của người làm công tác BHXH.
• Năng lực đội ngũ nhân viên
Hoạt động BHXH là hoạt động có sự tham gia của ba bên: đơn vò sử dụng
lao động, người lao động và Cơ quan BHXH. Đối với đơn vò sử dụng lao động
thường có xu hướng muốn né tránh hoặc tham gia BHXH với mức thấp để tiết
kiệm chi phí vì mục tiêu kinh doanh của đơn vò. Đối với người lao động khi tham
55
gia BHXH họ lại mong muốn được hưởng đầy đủ các chế độ và thậm chí một số
người sẵn sàng cố ý cung cấp sai thông tin để hưởng chế độ BHXH. Từ những lý
do trên Cơ quan BHXH nên nắm bắt được những nhu cầu của từng đối tượng

BHXH, rủi ro thu BHXH không đủ do các đơn vò sử dụng lao động không cung
cấp thông tin đầy đủ, rủi ro chi BHXH không đúng đối tượng do người lao động
khai man thông tin.
Ngoài ra, hoạt động BHXH còn đứng trước rủi ro cân đối thu chi BHXH.
Với số thu BHXH hiện nay trong quỹ BHXH nếu không có sự đầu tư thích hợp
và an toàn thì trong tương lai với sự tăng giá, điều chỉnh thu nhập thì liệu Quỹ
BHXH có còn khả năng chi trả các chế độ BHXH cho người lao động và còn tồn
tại được bao lâu. Điều này đặt ra sự cần thiết của một đội ngũ chuyên viên tính
BHXH để sớm có biện pháp khắc phục rủi ro xuất phát từ cân đối thu chi
BHXH.
1.2.6.3. Các hoạt động kiểm soát
Bao gồm các chính sách, thủ tục, kỹ thuật và cơ chế nhằm thực hiện các chỉ
đạo của người lãnh đạo. Các hoạt động kiểm soát cũng hỗ trợ cho việc đối phó
với rủi ro. Có rất nhiều các loại hoạt động kiểm soát khác nhau ở tất cả các cấp
quản lý trong tổ chức.
Cơ quan BHXH là cơ quan Nhà nước, trực thuộc Chính phủ nên các hoạt
động kiểm soát tất nhiên sẽ được quy đònh chặt chẽ trong hệ thống thông qua
các văn bản hướng dẫn, quyết đònh, quy đònh,… Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là các
hoạt động kiểm soát được quy đònh có được áp dụng theo đúng nguyên tắc
hướng dẫn trong thực tế hoạt động của BHXH hay không. Nếu không thực hiện

Trích đoạn Nguyeđn nhađn dăn đên các sai phám Thời kỳ sau Những ưu dieơm và toăn tái cụa KSNB trong cơ quan BHXH TPHCM Phađn tích và đánh giá rụi ro Nhaơn dáng rụi ro
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status